VỀ KHAI THÁC KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN TÁC GIẢ THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẬP THỂ TẠI VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN NAM  – Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Hiện nay, việc sở hữu quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp quảng bá, lưu thông, bảo vệ, phát triển các hàng hóa và dịch vụ của mình trên thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do nhu cầu chuyển giao và được chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng lên, các giao dịch khai thác quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả tại Việt Nam cũng trở lên đa dạng.

Việc tiến hành khai thác, sử dụng quyền tác giả một cách có hiệu quả thông qua các tổ chức quản lý tập thể đang được xã hội và cộng đồng doanh nghiệp hết sức quan tâm. Tuy nhiên, về tổ chức quản lý tập thể và việc hình thành hệ thống quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là vấn đề còn mới mẻ và phức tạp đối với Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh theo quy định của pháp luật.

1. Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và viêc khai thác, chuyển giao quyền tác giả

Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia. Theo nhà kinh tế học Paul Romer coi sự tích lũy về tri thức chính là lực lượng điều khiển đứng đằng sau tăng trưởng kinh tế, muốn thúc đẩy tăng trưởng, chính sách kinh tế phải khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và triển khai những nhân tố mới. Hệ thống thể chế và pháp luật của mỗi quốc gia phải khuyến khích và tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ trên thực tiễn, trong hoạt động kinh doanh. Tài sản trí tuệ là một phương tiện đầu tư, kinh doanh quan trọng trong nền kinh tế thị trường và là công cụ để phát triển doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, không chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài mà ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang nhận ra giá trị hiện thực của loại tài sản trí tuệ và mong muốn sử dụng những lợi thế của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để phát triển kinh tế – xã hội [1].

Continue reading

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án.

Điều 2. Xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Nhà nước chỉ bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại được quy trong phạm vi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có đủ các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;

b) Thiệt hại xảy ra trong điều kiện vì người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn;

c) Các trường hợp do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading

LÀM LUẬT VÌ THỜI ĐẠI DÂN DOANH

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Để theo kịp với thời thế, Quốc hộ nước ta hàng năm phải ban hành khoảng 30 đạo luật. Trong khi đó, mỗi năm quốc hội chỉ thông qua trên dưới 10 đạo luật. Cũng như thế, riêng năm 2003 Chính phủ còn nợ trên dưới 100 nghị định đáng lẽ cần phải được ban hành dể hướn dẫn thi hành các đạo luật (Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004). Cứ đà này chúng ta dường như thiếu luật triền miên, và có phải sự thiếu thốn đó làm cho nước ta nghèo và lạc hậu? Muốn pháp luật thực sự có thể góp phần chấn hưng quốc gia, cần phải xem xét lại vai trò của nó và cách thức làm cho pháp luật phuc vụ cho một nền kinh tế phát triển. Bài viết dưới đây bàn về pháp luật và cách làm luật cho phù hợp với thời đại ngày nay.

Pháp luật phục vụ nhà nước hay phục vụ nhân dân?

Đường sắt Việt Nam cõng trên lưng nó những đoàn tàu cũ kỹ, hoan hỉ loan báo đã rút dần thời gian cho tuyến Bắc Nam từ 46 tiếng, xuống còn 40 tiếng , rồi 36 tiếng. Thế có lẽ cũng là kịch đường tàu, bởi làm sao có thể có đường sắt hiện đại trên tuyến đườn ray vừa quá hẹp, lại cũ mòn và chắp vá.

Cũng như vậy muốn thực sự cải cách pháp luật, trước hết phải nỗ lực thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về pháp luật. Không phải là công cụ để nên quan chế cai trị nhân dân, mà ngược lại, pháp luật sinh ra để bảo vệ nhân dânvà khống chế quyền lực nhà nước. Đó là một cuộc lột xác đau đớn với những ai đang giữ quyền, bởi cai trị và ban phát mệnh lệnh cho người khác bao giờ cũng dễ chịu và thoải mái hơn là chịu để người khac cương tỏa, giám sát mình.

Nhà nước, thị trường đều là những dạng thức thể hiện quyền lực. Có lẽ đã đến lúc không thể né tránh nghiên cứu về các loại quyền lực và các quy luật của chúng trong xã hội Việt Nam xưa cũng như nay. Giới trí thức Việt nam có lẽ phải đối mặt với một thứ khoa học cắt nghĩa về quyền lực, nhất là quyền lực nhà nước trong xã hội Việt Nam đương đại. Pháp luật từ lâu chỉ là công cụ triể khaiquyền lực nhà nước ; trong hai chữ Hán Việt đó đã không còn vang lên mạnh mẽ khát vọnh về lẽ trung chính, sự thật và công lý ở đời. Luật của nước ta là luật của giai cấp thống trị, từ lâu nay người Việt Nam xem tuân thủ pháp luật như là nghĩa vụ mà nhà nước áp đặt, chứ không tự nguyện cung kính tôn thờ nó như là quy luật của cuộc đời, của lẽ phải, của những gì được xem là cao quý và đáng tôn thờ nhất.

Continue reading

Một số vấn đề pháp lý cơ bản CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading

THÔNG TƯ 60/2009/TT-BNNPTNT NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 12/2006/NĐ-CP NGÀY 23/01/2006 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ CÁC ĐẠI LÝ, MUA, BÁN, GIA CÔNG VÀ QUÁ CẢNH HÀNG HOÁ VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

Căn cứ Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Căn cứ Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý, mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài;
Căn cứ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
Căn cứ Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm;

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nông nghiệp như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này qui định trình tự, thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản gồm:

a. Xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên trong nước; củi, than làm từ gỗ hoặc củi có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước;

b. Xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm;

c. Xuất khẩu, nhập khẩu giống cây trồng;

d. Xuất khẩu, nhập khẩu giống vật nuôi;

Continue reading

CHỨC DANH CHÁNH ÁN, PHÓ CHÁNH ÁN LÀ “HÀNH CHÍNH” HAY TỐ TỤNG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM – Báo Pháp luật Việt Nam ngày 18/5/2007 có bài viết nêu vấn đề và đưa ra nhiều câu hỏi với mục đích làm rõ quan niệm đối với chức danh Chánh án và Phó Chánh án hiện nay – là chức danh “hành chính” hay “tố tụng”? Với những người nghiên cứu, quan niệm về các chức danh này nói riêng và sự phân định “hành chính”, “tư pháp” nói chung là một trong những vấn đề rất được quan tâm khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật. Trong khoa học pháp lý, vấn đề phân định các khái niệm đã và đang làm cho những người nghiên cứu bị lúng túng. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải tìm ra cách thức tiếp cận và giải quyết vấn đề đúng đắn. Bài viết dưới đây xin được góp thêm ý kiến trong việc nhận thức về những vấn đề này.

Trước hết, để có nhận định chính xác khi phân biệt các khái niệm nêu trên, cần phải tiếp cận từ khái niệm quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chỉ là công tác chỉ đạo, điều hành mà thẩm quyền thuộc về nhánh quyền hành pháp. Tuy nhiên, để quản trị quốc gia, quản lý nhà nước không chỉ thuộc thẩm quyền của nhánh hành pháp mà bao gồm tất cả các hoạt động từ việc xây dựng thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm… Như vậy, hoạt động xét xử của Tòa án (theo nghĩa rộng) cũng là hoạt động quản trị. Việc phân chia thành hoạt động “tố tụng” hay “hành chính” (theo nghĩa hẹp) chỉ có tính chất phân loại để dễ nhận thức, phục vụ cho việc xây dựng thể chế.

Tiếp cận từ khái niệm “hành chính”. Bản thân cụm từ “hành chính” đã có nghĩa là quản lý, chỉ đạo, điều hành và thể hiện quyền lực được trao. Mỗi một tổ chức, cơ quan, đơn vị, dù bất kỳ trong lĩnh vực thuộc khu vực công (lập pháp, hành pháp hay tư pháp) hay tổ chức thuộc khu vực tư cũng phải có chủ thể có thẩm quyền quản lý. Đó là một chức danh “hành chính”. Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước, sự hiện diện một chức danh quản lý và tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này là không thiếu được. Vì vậy, các chức danh Chánh án, Phó Chánh án trước hết phải được hiểu là chức danh “hành chính”.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM

TS. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG – Viện Nghiên cứu xã hội

Cho đến nay, chưa có một văn bản nào của Đảng và Nhà nước đưa ra khái niệm xã hội dân sự, song trên thực tế theo các quan niệm phổ biến quốc tế, xã hội dân sự thực chất không phải là một thực tế xã hội xa lạ đối với Việt Nam. Ngay từ xa xưa tính cộng đồng, làng xã, tình làng nghĩa xóm, yêu thương đùm bọc lẫn nhau đã mang đặc trưng rõ nét của truyền thống giá trị văn hóa, niềm tin, tính cộng đồng, chia sẻ trách nhiệm vì các công việc chung. Đó là những giá trị cơ bản của xã hội dân sự đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta.

Lịch sử cận đại của Việt Nam đầu thế kỷ 20, mang nhiều dấu ấn của các phong trào quần chúng, và các tổ chức xã hội dân sự tham gia giải phóng dân tộc. Chẳng hạn cuối tháng 4 năm 1904, Hội Duy Tân được thành lập với mục đích “Cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả”. Nhiệm vụ trước mắt của Hội được đề ra trong ngày thành lập là phát triển thế lực của Hội về người và về tài chính; chuẩn bị bạo động và phương án hỗ trợ sinh viên xuất dương sang Nhật học tập và cầu vận. Cùng thời kỳ này, các Hội khuyến học cũng ra đời nhằm giúp hội viên học hỏi, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện. Phong trào này là cơ sở để đưa tư tuy cải cách văn hóa giáo dục và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc cho Việt Nam.

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng là sự kế thừa các phong trào xã hội dân sự. Trong phong trào cải cách và giải phóng dân tộc, Cụ Hồ Chí Minh trong Yêu sách gửi hội nghị Hòa bình Versailles ngày 19/06/1919, Người đã chỉ rõ những giá trị bình đẳng bác ái, không phân biệt người bản xứ và người chính quốc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, xây dựng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đó là những giá trị nền tảng của xã hội dân sự.

Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý và giá trị của xã hội dân sự trong công cuộc giải phóng đất nước. Thời kỳ 1936 – 1939, Đảng rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quần chúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ, hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt sao tập hợp được đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng. Đảng quyết định lấy tên Thanh niên phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay cho Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ. Các tổ chức hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thường hằng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phường đi săn, hội hát kịch…

Continue reading

THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

THS. DƯƠNG THỊ BÌNH – Bộ Tư pháp

Công khai thông tin làm gia tăng mạnh mẽ niềm tin của người dân vào Chính phủ, còn che giấu sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt tạo ra sự ổn định chính trị, nên công khai thông tin cần phải được coi là một ưu tiên của Chính phủ. Nhà nước Việt Nam, trong thời gian tới sẽ ban hành Luật Tiếp cận thông tin, nhằm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân và thi hành tốt Luật này sẽ làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, phát huy trí tuệ, tính tích cực của nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và tăng cường dân chủ, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, vốn là điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững.

1. Quyền tiếp cận thông tin trong hệ thống pháp luật nước ta

Ở nước ta, để đảm bảo quyền được thông tin, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua Đại hội VII năm 1991. Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sau đó ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật”. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và quyền con người nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng có mối quan hệ tác động qua lại rất mật thiết. Quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Continue reading