QUI TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ: VẤN ĐỀ ĐANG NỔI LÊN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

THS. NGUYỄN CHIẾN THẮNG – Viện Kinh tế Việt Nam

1. Mở đầu

Nếu như quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa đã có ý nghĩa quan trọng từ lâu trong các hiệp định thương mại quốc tế, thì quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ mới chỉ thu hút sự chú ý trong thời gian gần đây, khi vai trò của thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng và thế giới đang chứng kiến sự ra đời đến chóng mặt các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực, đặc biệt là khu vực châu á – Thái Bình Dương, như một lối thoát đối với một số nước trong khu vực trước những bước tiến chậm chạp của quá trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ đàm phán đa phương WTO. Vấn đề các nước quan tâm là quy tắc xuất xứ cần phải được thiết kế như thế nào để đưa vào các hiệp định thương mại tự do, nhằm hạn chế việc các bên thứ ba hưởng những ưu đãi thương mại trong dịch vụ mà đáng ra chỉ được trao cho các bên ký kết hiệp định.

Đối với trường hợp Việt Nam, hiện nay chúng ta đang tham gia vào Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN và cũng đang xúc tiến tìm kiếm các thỏa thuận thương mại tự do song phương với các đối tác quan trọng như Nhật Bản hay một số đối tác thương mại khác. Trước xu thế thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng, việc áp dụng quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ trong Hiệp định Khung về thương mại dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services, gọi tắt là AFAS) hay các hiệp định thương mại tự do song phương khác mà Việt Nam đang tìm kiếm là một điều hoàn toàn có thể. Do vậy, việc tìm hiểu rõ nội dung của khái niệm này cùng với tác động của nó đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là hết sức cần thiết.

Với mục đích trên, nghiên cứu này được chia làm 2 phần. Phần đầu trình bày khái niệm quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ, tầm quan trọng của quy tắc này trong thương mại quốc tế, và các tiêu chí áp dụng trong thực tế. Trong phần thứ hai, tác giả mô phỏng tác động của các tiêu chí trên (nếu được áp dụng trong Hiệp định AFAS) đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (ĐTNN) từ các nước ngoài khối ASEAN trong ngành vận tải biển của Việt Nam – là một ngành dịch vụ có mức độ hội nhập sâu với nền kinh tế trong khu vực cũng như thế giới.

Continue reading

TẬP TRUNG ĐẦU ÓC: ĐIỀU KIỆN THÀNH CÔNG

TS. NGUYỄN CHÍ THUẬT

Chúng ta đang sống trong thời đại đầu óc bị phân tán thường xuyên do rất nhiều thứ xung quanh. Phân tán tư tưởng ngăn cản chúng ta trong học tập, làm giảm khả năng phát triển bản thân, nhưng trước hết những lời khẳng định của giáo sư Mihaly Csikszentmihalyi, nguyên trưởng khoa tâm lý học, Đại học Chicago (Mỹ), mất năng lực kiểm soát năng lượng tâm lý cản trở ta cảm nhận sự sung sướng đích thực, cảm nhận hạnh phúc đích thực. Vì vậy, năng lực tập trung đầu óc ngày nay có ý nghĩa lớn lao hơn bao giờ hết.

Có thể định nghĩa đơn giản về sự tập trung đầu óc như sau: tập trung đầu óc là năng lực tập trung sự chú ý vào chính công việc đang làm. Đó có thể là đọc sách, nghe nhạc, rửa bát, chuyện trò hay giải quyết vấn đề chuyên môn, nghề nghiệp. Có một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay phần lớn chúng ta không biết tập trung đầu óc. Thậm chí khả năng tập trung sự chú ý vào những việc bình thường nhất cũng được coi là một cố gắng lớn lao. Cho nên lấy lại sự tập trung chú ý khi có cái gì làm chúng ta phân tán tư tưởng và lập tức trở lại tập trung như trước đó cũng được coi là một năng lực. Sự tập trung đầu óc là thành phần quan trọng cấu thành trí tuệ của chúng ta, bởi nếu không có nó thì sự phát triển bản thân mỗi con người rất khó có thể được thực hiện. Sự tập trung chú ý có thể diễn ra trong khoảng vài giay đến vài chục giây đồng hồ, nhưng sau thời gian nghỉ, nó chỉ có thể được trở lại nhờ ý chí mạnh mẽ của mỗi người.

Về tầm quan trọng đặc biệt của khả năng tập trung đầu óc, cả các giáo sư tâm lý học cũng như các bậc thầy về yoga và triết học Phật giáo đã đề cập nhiều. Giáo sự đại học Chicago Mihaly Csikszentmihalyi mà chúng ta vừa nhắc tên trên kia đã bỏ ra trên dưới 20 năm để nghiên cứu điều “suốt đời ám ảnh” ông – như một số người khẳng định – là những tác nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc con người. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng cái làm cho mỗi trải nghiệm trở nên thoải mái, dễ chịu là trạng thái tập trung đầu óc thật sâu, đến mức bản thân con người hoàn toàn chìm đắm trong công việc đang làm. Trạng thái này cũng có tên gọi là “chìm đắm” – bởi một người, khi ở trong trạng thái này sẽ làm việc hết sức mình, bản thân anh ta chính là cái anh đang làm, anh ta mất hết cảm giác về tự thức. Chúng ta hãy hình dung một nhà phẫu thuật tim mạch trong một ca mổ phức tạp hay một vận động viên leo núi đang trên đường chinh phục một ngọn núi cao – sự tập trng đầu óc cao độ là điều kiện dẫn tới thành công trong những công việc họ đang thực hiện. Khi mọi hoạt động kết thúc, đó cũng là lúc ý thức trở lại trong đầu óc họ. Sau những lần như thế, con người ta trở nên mạnh mẽ hơn, giàu có hơn về những trải nghiệm và những năng lực mới.

Continue reading

TRANH CHẤP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: VỤ “TRANH CHẤP TIỀN ĐẶT CỌC” Ở VĨNH PHÚC – TÒA SƠ THẨM XÉT XỬ CHƯA THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ?

NGUYỄN VŨ

Trung tuần tháng 7 và những ngày đầu tháng 8.2009, Báo ĐS&PL liên tiếp nhận được đơn đề nghị của gia đình ông Nguyễn Duy Á và bà Đặng Thị Xuân ở số nhà 28, phố Nguyễn Trãi, phường Liên Bảo, TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trình bày về vụ "Tranh chấp tiền đặt cọc" với Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc.

Trong đơn, ông Á trình bày như sau: Gia đình ông ký hợp đồng cho Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc thuê nhà căn nhà số 28 đường Nguyễn Trãi, phường Liên Bảo, TP. Vĩnh Yên, có diện tích là 700 m2 sàn để CPK dùng làm văn phòng, cho nhân viên, khách của công ty ở. Hợp đồng thuê nhà được 2 bên ký tại Phòng Công chứng Nhà nước số 02 tỉnh Vĩnh Phúc. Đại diện Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc ký hợp đồng thuê nhà là Tổng giám đốc Trần Lượng. Thời hạn thuê là 3 năm, tính từ ngày 1.3.2007 đến 1.3.2010. Giá thuê là 900 USD/tháng, được quy đổi ra tiền Việt Nam; giá thuê này không bao gồm thuế liên quan đến việc cho thuê nhà. Giá thuê không thay đổi trong suốt thời gian hợp đồng còn hiệu lực, không bao gồm các chi phí như sử dụng điện, nước, điện thoại. Hết thời gian thuê theo hợp đồng, hai bên có thể thoả thuận để tiếp tục thuê. Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc đặt cọc cho gia đình ông Á là 5.400 USD, tương đương với 86.670.000 đồng. Tiền đặt cọc này sẽ được gia đình ông Á hoàn trả lại công ty khi hợp đồng hết hạn hoặc chấm dứt hợp đồng. Trong hợp đồng thuê nhà, gia đình ông Á và Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc cam kết điều khoản chấm dứt hợp đồng gồm 5 lý do. Lý do quan trọng nhất là một trong 2 bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải thông báo cho bên kia trước ít nhất 30 ngày bằng văn bản. Nếu những nội dung khác được pháp luật quy định không nêu trong hợp đồng này thì 2 bên cần phải chấp hành nghiêm chỉnh. Bên nào vi phạm thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: THANH LÝ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI NGA TRƯỚC THỜI HẠN, AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG?

HẠNH LÊ

Bất đồng quan điểm trong việc bồi thường, 36 lao động (LĐ) từ Nga trở về trước thời hạn đã phải dùng đến biện pháp cuối cùng là kéo nhau đến trụ sở Trung tâm Hợp tác lao động với nước ngoài (gọi tắt là Trung tâm) thuộc TCty Thép VN và Cục quản lý LĐ ngoài nước để đòi quyền lợi.

Trong khi đó, tới thời điểm này không thấy Cục quản lý lao động ngoài nước có thêm biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi cho người LĐ ngoài một công văn yêu cầu Trung tâm đẩy nhanh tiến độ thanh lý hợp đồng được ký cách đây hơn 1 tháng. Khi LĐ tập trung đòi quyền lợi tại trụ sở Cty và tại trụ sở của Cục quản lý lao động ngoài nước chiều 28/8 thì Cục cũng chưa có câu trả lời cũng như một hướng giải quyết cụ thể nào trong khi người LĐ đang đặt hết hi vọng vào cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.

5 tháng XKLĐ = 67 USD

36 LĐ – trong đó, có 34 LĐ là người Bắc Ninh, còn 2 LĐ trú tại Hà Nội ký hợp đồng với Trung tâm sang Nga làm việc cho chủ sử dụng lao động là Công ty APC từ tháng 9/2008. Chi phí cho chuyến đi là 3.000 USD/người. Tuy nhiên, khi sang Nga, NLĐ lại không làm việc cho Cty APC như hợp đồng mà được “chuyền tay” qua hết Cty này sang Cty khác như: Kamaz, Akvaxintez, Kaleri, Prophmarket… Mặt khác, thông tin trên thẻ lao động lại chỉ có vị trí “hoành tráng” như Giám đốc, Trưởng phòng, Tư vấn kinh doanh, nhân viên kinh doanh… chứ không phải thợ xây như hợp đồng lao động. “Cũng chính vì điều này mà NLĐ đã bị cơ quan chức năng Nga truy đuổi 3- 4 lần vì làm việc không đúng chức năng và không đúng địa điểm như thẻ lao động cấp!” – anh Nguyễn Hùng Vĩ – một lao động bức xúc.

Continue reading

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

GS. PHẠM PHỤ

Có hay không "thị trường GDĐH" ở Việt Nam?

Có những sản phẩm đi vào quá trình tiêu dùng thông qua việc mua bán hoặc trao đổi kiểu "cho không", trong cơ chế thị trường vẫn được gọi là hàng hóa. Như vậy, hàng hóa không nhất thiết gắn với việc mua bán hay thương mại. Dịch vụ GD do vậy vẫn được gọi là một hàng hóa, còn việc có đem ra "mua bán", có thu học phí hay hoàn toàn miễn phí lại là việc khác.

Ở VN, hiện có khoảng 40.000 sinh viên (SV) đang du học tự túc ở nước ngoài, nghĩa là đang "mua" GDĐH ở nước ngoài, xã hội mỗi năm tốn khoảng 300 triệu đô la. (Nói như vậy không có nghĩa là không du học, mà là phải ước lượng: tỷ lệ "học" bao nhiêu, "du" bao nhiêu, có bao nhiêu phần trăm đã rơi vào bẫy của các "cỗ máy cấp bằng" (Degree Mills), nên học những ngành nghề nào, có phương án du học tại chỗ nào tốt hơn hay không?).

Hiện nay cũng đã có 4 trường ĐH và 8 trường CĐ nước ngoài đang kinh doanh, với lợi thế cạnh tranh rất cao, về dịch vụ GDĐH trên đất nước ta. Và, cũng có khoảng 120.000 SV đang theo học các trường ĐH dân lập và tư thục mà toàn bộ chi phí của nhà trường chủ yếu là dựa vào học phí. Như vậy, ít ra đã có một mảng GDĐH đang được thương mại và thị trường hóa ở Việt Nam. Ngay ở mảng GD phổ thông, một dịch vụ mà đến nay vẫn còn rất ít nước trong số 145 thành viên của WTO chấp nhận nhập khẩu vào nước ta cũng đang được tự do kinh doanh với mức học phí lên đến 5.000 – 10.000 đô la Mỹ/năm. Tất cả những sự kiện đó đã vượt lên trên mức quan ngại so với những câu hỏi như: "GDĐH có là hàng hóa không?", có là "công" hay "đặc biệt" mà chúng ta đang mãi tranh luận và đôi khi đã làm ngạc nhiên cho một số nhà GD ở nước ngoài.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG: KHÁCH HÀNG KIỆN THẺ CÀO LỖI – PHẬN CÓC KIỆN TRỜI

HUYỀN MY

Gặp một thẻ cào lỗi, người dùng phải kiên nhẫn chờ đợi, đeo đuổi khiếu nại mới được giải quyết. Tự hào hay đau xót phận cóc kiện trời?

Để được đổi thẻ lỗi, cần phải bền gan

“Tôi bị một khách hàng bằng tuổi con mình mắng xơi xơi vào mặt. Khiếu nại nhà mạng thì nhân viên Viettel tại chi nhánh Hà Đông bảo tôi mua phải thẻ giả. Tôi đòi cô ấy biên bản xác nhận tôi mua phải thẻ giả để tôi đề nghị cơ quan điều tra làm rõ thì cô ấy không làm”, ông An – chủ một tiệm tạp hóa tại Hà Đông kể lại chuyện rắc rối của ông liên quan một cái thẻ lỗi.

Chiếc thẻ này có mệnh giá 50.000 đồng, trong lô 10 thẻ ông lấy về từ một đại lý lớn hơn, có dải seri liền nhau. 9 chiếc kia đã được bán ra và nạp thành công nên ông An chắc chắn thẻ mình lấy về không phải là thẻ giả.

Ông đã gọi lên tổng đài hỗ trợ của nhà mạng và được thông báo thẻ cào đã được nạp cho một thuê bao 016xxxxxxxxxx. Trực tiếp gọi điện đến số này, ông An được chủ thuê bao nói giọng miền Nam cho biết đã gần một năm nay không nạp thẻ.

“Mệnh giá 50.000 đồng không phải quá lớn, bất quá tôi coi như đánh rơi tiền nhưng tôi nghĩ rằng một mạng lớn như Viettel thì chắc chắn sẽ quan tâm tới việc giữ gìn uy tín, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nên tôi khiếu nại tiếp. Biết có quay lại chi nhánh Viettel tại Hà Đông cũng không được giải quyết nên tôi tìm cách khác.

Tôi vào trang chủ của nhà mạng, soạn một email khiếu nại trình bày rõ vấn đề của mình, đề nghị Viettel vì uy tín thương hiệu của chính mình và quyền lợi khách hàng kiểm tra kĩ càng và giải quyết đổi thẻ.

Continue reading