ỦY BAN: CÔNG XƯỞNG CỦA QUỐC HỘI

NGUYÊN LÂM

Ở Mỹ, nơi có truyền thống nghị viện mạnh, người ta từng nói rằng: “Quốc hội phiên toàn thể là phiên trình diễn, Quốc hội tại uỷ ban mới là Quốc hội làm việc”. Nhưng xu hướng chung thì chỉ từ thập niên 1970, nhiều nước trên thế giới mới coi trọng vai trò của các uỷ ban trong hoạt động của nghị viện. Ở nước ta, thực tiễn hoạt động của Quốc hội (QH) gần đây cho thấy khối lượng và yêu cầu về nội dung, chất lượng công việc đại diện, làm luật, giám sát ngày càng tăng.

Trong bối cảnh đó, QH buộc phải chuyên môn hóa hơn, trong đó hệ thống ủy ban đóng vai trò cốt lõi. UB là diễn đàn lý tưởng để các ĐB đi sâu hơn vào những vấn đề cụ thể, chi tiết và đi đến thỏa thuận với nhau dễ hơn. Những gì diễn ra trên thực tế đang cho thấy vai trò ngày càng quan trọng hơn của các ủy ban. Chẳng hạn, trong khóa XI vừa qua, QH nhiều khi đã đạt kỷ lục về tốc độ làm luật. Trên thực tế, có lúc thời gian thông qua mỗi đạo luật chỉ khoảng chưa đầy 2 tiếng đồng hồ so vớì một hai ngày như ở những khóa trước đây. Sở dĩ QH có thể rút ngắn thời gian như vậy một phần là vì các ủy ban có liên quan đã làm việc rất công phu (với cả các chuyên gia của cơ quan soạn thảo) để hoàn thiện văn bản.

Hệ thống các ủy ban của QH còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động giám sát. Để giám sát một vấn đề cụ thể nào đó, một trình độ chuyên môn sâu là rất cần thiết. Các ủy ban ở các nước được chia thành các tiểu ban với những chuyên ngành sâu. Với cách làm như vậy, sau một vài nhiệm kỳ, các vị ĐB ở các ủy ban đều trở thành các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực của mình. Và giám sát của QH nhờ vậy mà trở nên hết sức hữu hiệu.

Trong thời gian qua, Quốc hội đã có những bước đổi mới, trong đó, một số giải pháp đã được thực hiện nhằm nâng cao vai trò của các uỷ ban trong hoạt động của Quốc hội. Chẳng hạn như mới đây Uỷ ban Pháp luật cũ đã được tách thành Uỷ ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp. Tuy nhiên, nói chung dấu ấn của hệ thống uỷ ban vẫn còn chưa đậm nét. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng vị thế, vai trò của các uỷ ban của Quốc hội trong hoạt động chung của cơ quan lập pháp?

Continue reading

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÔNG CỤ CHỦ YẾU ĐỂ PHỤC VỤ MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ Ở NƯỚC TA

TS. TRẦN DU LỊCH – Ủy viên Ủy ban kinh tế, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TPHCM, Ủy viên HĐTVCSTCTTQG

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với nhửng tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô. Do đó chỉ riêng từ quý 1/2008 đến quý 4/2008 đã có 2 lần thay đổi rất lớn về chính sách và mục tiêu phát triển kinh tế:

+ Đứng trước áp lực lạm phát, mà dấu hiệu rõ nét từ Quý 4/2007, cùng với tác động tiêu cực,do gia tăng đột biến giá cả một số hàng hóa trên thị trường thế giới, tháng 3.2008 chính phủ đã chuyển mục tiêu và chính sách từ sự theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao sang chính sách ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với 8 nhóm giải pháp.Kết quả từ tháng 6.2008 chỉ số CPI của nền kinh tế đã có xu hướng giảm dần và kinh tế vĩ mô có dấu hiệu ổn định hơn.

+ Nhưng sau 15.9.2008, thời điểm thực sự nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, cùng với sự suy thoái khá sâu về kinh tế, đã tác động rất tiêu cực đến nhiều lãnh vực trong hoạt động kinh tế của nước ta và từ đầu quý 4/2008 nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát do sức cầu giảm.Một lần nữa mục tiêu và chính sách kinh tế phải thay đổi: chuyển từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng với 5 nhóm giải pháp đang thực hiện đến nay.

Có thể nói trong vòng chưa đầy một năm nền kinh tế đã có 2 bước ngoặt về sử dụng chính sách kinh tế vĩ mô để thích nghi với tình hình cụ thể, trong đó có thể nói vai trò quyết định là sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ.

Điểm qua vai trò của chính sách tiền tệ đã thực thi trong 2 bước ngoặt trên để qua đó làm rõ vai trò của nó trong giai đoạn sau thời kỳ suy giảm.

Continue reading

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

TS. NGUYỄN VĂN GIÀU – UVTW Đảng, Thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Mặc dù chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm 2008 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, của cộng đồng doanh nghiệp và dân cư, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, kinh tế nước ta đã ngăn chặn được suy giảm và dần tạo được đà tăng trưởng, kinh tế vĩ mô ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm.

Trong thời gian tới, kinh tế nước ta tiếp tục phát triển, nhưng đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức; việc nghiên cứu, rút ra bài học, quan điểm mang tính khoa học và thực tiễn, làm cơ sở cho hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, trong mối quan hệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2009 và những năm tiếp theo là nhu cầu cần thiết.

1. Tổng quan khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới và kinh nghiệm chống khủng hoảng ở các nước

1.1. Diễn biến và tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới đối với kinh tế – xã hội nước ta.

Cuộc khủng hoảng tài chính đã có dấu hiệu từ mùa hè năm 2007, khi dầu thô, lương thực và nguyên liệu cơ bản bị đầu cơ, đẩy giá lên cao (Thời kỳ cao nhất dầu thô 147 USD/thùng, thép 830USD/tấn, gạo 1.000USD/tấn…); giá bất động sản ở Mỹ giảm; sự rò rỉ thông tin về nguy cơ thua lỗ lớn của các ngân hàng đầu tư và thương mại Mỹ nắm giữ nhiều khoản cho vay bất động sản và các tài sản tài chính có nguồn gốc từ các khoản vay bất động sản dưới chuẩn; tháng 3/2008, Ngân hàng đầu tư Bear Stearns bị sáp nhập vào Ngân hàng JP.Morgan Chase; tháng 7/2008, Tập đoàn cho vay thế chấp thứ cấp Freddie Mac và Fannie Mae mất khả năng thanh toán. Ngày 15/9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ ở Mỹ, với sự đổ vỡ của Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers và Công ty bảo hiểm AIG, Ngân hàng tiết kiệm Washington Mutual Inc, đã nhanh chóng lan rộng sang thị trường tài chính châu Âu và khu vực khác. Để ngăn chặn sự sụp đổ của thị trường tài chính và suy thoái kinh tế, Chính phủ và ngân hàng trung ương (NHTW) các nước, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã dốc sức, nhanh chóng thực hiện các biện pháp giải cứu, ổn định thị trường tài chính và kích thích kinh tế:

Continue reading

HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI – GATT (1994)

Giới thiệu chung

1. Cơ sở chủ yếu để xác định trị giá thuế quan, theo Hiệp định này là “giá trị giao dịch” như định nghĩa tại Điều 1 được hiểu cùng với Điều 8, ngoài các nội dung khác, quy định về sự điều chỉnh giá thanh toán thực tế hoặc giá phải thanh toán, trong trường hợp người mua chịu một số chi phí cấu thành cụ thể nào đó, được coi là đã tạo thành một phần của giá trị mà hải quan dùng để tính thuế, nhưng hiện chưa tính vào giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu. Điều 8 cũng quy định giá trị giao dịch bao gồm cả các chi phí mà người mua thanh toán cho người bán dưới dạng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào đó chứ không phải dưới dạng tiền. Từ Điều 2 đến Điều 7 quy định các phương pháp xác định trị giá thuế quan khác một khi không thể xác định trị giá này theo các quy định của Điều 1.

2. Khi trị giá thuế quan không thể được xác định theo các quy định của Điều 1, thì thông thường cơ quan hải quan sẽ trao đổi với người nhập khẩu để đạt được cơ sở tính trị giá theo các quy định của Điều 2 hoặc Điều 3. Thí dụ, có thể xảy ra trường hợp nhà nhập khẩu có thông tin về trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự mà cơ quan hải quan tại cảng nhập không có ngay được. Ngược lại, cơ quan hải quan có thể có thông tin về trị giá thuế quan của những mặt hàng giống hệt hoặc tương tự mà nhà nhập khẩu chưa có. Quá trình tham vấn giúp hai bên trao đổi thông tin với tinh thần vẫn đáp ứng được yêu cầu bảo mật thương mại, nhằm định ra một cơ sở để xác định trị giá thuế quan thích hợp.

3. Điều 5 và Điều 6 quy định hai cơ sở để xác định trị giá thuế quan trong trường hợp không thể xác định được bằng cách dựa trên giá trị giao dịch của hàng nhập khẩu, hay của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự. Theo khoản 1 Điều 5, trị giá thuế quan được xác định trên cơ sở giá bán hàng hóa, trong điều kiện là hàng nhập khẩu, cho một người mua không có liên hệ tại nước nhập khẩu. Nhà nhập khẩu cũng có quyền yêu cầu hàng đã được tiếp tục chế biến sau khi nhập khẩu được định giá thuế quan theo Điều 5. Theo Điều 6, trị giá tính thuế được xác định trên cơ sở giá trị tính toán. Cả hai phương pháp trên đều có những khó khăn nhất định và do đó, theo qui định tại Điều 4, người nhập khẩu được phép trao quyền lựa chọn áp dụng phương pháp nào trước.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH CỦA WTO VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT VÀ MAY MẶC

Các Thành viên,

Nhắc lại thoả thuận của các Bộ Trưởng tại Punta del Este là "các cuộc đàm phán trong lĩnh vực hàng dệt, may nhằm tạo ra phương thức cho phép lĩnh vực này được điều chỉnh hoàn toàn theo GATT trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của GATT đã được tăng cường, đồng thời qua đó góp phần vào mục tiêu tự do hóa thương mại hơn nữa";

Nhắc lại Quyết định của Uỷ ban Đàm phán Thương mại vào tháng Tư năm 1989 thống nhất tiến trình hội nhập sẽ bắt đầu sau khi Vòng Đàm phán Thương mại Đa biên Urugoay kết thúc và sẽ thực hiện từng bước;

Nhắc lại thoả thuận dành đối xử đặc biệt cho các Thành viên chậm phát triển;

Bằng Hiệp định này thoả thuận như sau:

Điều 1

1. Hiệp định này đặt ra các quy định được các Thành viên áp dụng trong thời gian quá độ của việc hội nhập lĩnh vực hàng dệt, may vào GATT 1994.

2. Các Thành viên nhất trí sử dụng các quy định tại khoản 18 Điều 2 và điểm 6(b) Điều 6 theo hướng cho phép tạo ra sự tăng trưởng đáng kể về khả năng tiếp cận thị trường cho các nhà cung cấp quy mô nhỏ và sự phát triển các cơ hội kinh doanh thương mại cho các đối tượng mới tham gia lĩnh vực thương mại hàng dệt và may mặc.[1]

3.Các Thành viên sẽ quan tâm thích đáng đến hoàn cảnh của các Thành viên chưa công nhận các Nghị định thư gia hạn Hiệp định về Thương mại Quốc tế Hàng dệt (trong Hiệp định này gọi tắt là "MFA") từ năm 1986, và trong phạm vi có thể, dành cho các Thành viên này đối xử đặc biệt trong khi áp dụng các quy định của Hiệp định này.

Continue reading