CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 5 – MODUL1 LUẬT DÂN SỰ: TÀI SẢN

   

Những câu hỏi thuộc vấn đề này chỉ mang tính chất cá nhân không mang tính chất đại diện chuyên môn của bất kỳ tổ chức, cơ sở đào tạo nào.

Các bạn có thể tham khảo cho học tập và trao đổi kiến thức. Để đảm bảo khách quan, việc trích dẫn lại đề nghị ghi rõ nguồn: thongtinphapluatdansu.wordpress.com

 

Số lượng và nội dung các câu hỏi sẽ được Civillawinfor chỉnh sửa, bổ sung và cập nhật

 

CÂU HỎI TỰ LUẬN

  1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản;
  2. Khái niệm và đặc điểm của bất động sản;
  3. Khái niệm và đặc điểm của giấy tờ có giá;
  4. Qui chế pháp lý đối với tiền;
  5. Điều kiện đối với tài sản hình thành trong tương lai;
  6. Phân loại tiền và ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  7. Phân loại quyền tài sản. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  8. Phân loại giấy tờ có giá. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  9. Ngoài các tiêu chí phân loại tài sản trong giáo trình Luật dân sự Đại học Luật Hà Nội hãy đưa ra ít nhất 3 tiêu chí phân loại tài sản khác;
  10. Phân biệt vật cùng loại và vật cùng loại đặc định hóa. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  11. Phân biệt quyền tài sản và quyền gắn với tài sản. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  12. Phân biệt vật cùng loại và vật đặc định. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  13. Phân biệt vật đồng bộ với vật chính, vật phụ. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  14. Phân biệt vật tiêu hao và không tiêu hao. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  15. Phân biệt vật tiêu hao và vật hao mòn tự nhiên. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  16. Phân biệt vật đặc định và vật có khuyết tật. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  17. Phân biệt vật chia được và vật không chia được. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  18. Phân biệt vật không chia được  và vật đồng bộ. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  19. Phân biệt hoa lợi và lợi tức. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  20. Phân biệt giữa tài sản bị tịch thu và tài sản cấm lưu thông. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch dân sự và áp dụng luật dân sự;
  21. Xác định và phân loại tài sản khi A góp vốn 500 triệu đồng vào công ty B;
  22. Xác định và phân loại tài sản khi A là tác giả đồng thời là chủ sở hữu một tác phẩm âm nhạc;
  23. Xác định và phân loại tài sản khi X mua vé sổ số và A trúng thưởng;
  24. Xác định và phân loại tài sản trên thị trường chứng khoán;
  25. Xác định và phân loại tài sản khi X bán nhà do phải chuyển đến địa phương khác sinh sống và X đã nhận được một giá trị tăng thêm so với giá mua ban đầu;
  26. Xác định và phân loại tài sản khi X bán nhà với tư cách là người kinh doanh bất động sản và X đã nhận được một giá trị tăng thêm so với giá mua ban đầu;
  27. Xác định và phân loại tài sản đối với các sản phẩm của một cửa hàng kinh doanh sữa;
  28. Xác định và phân loại tài sản khi A mua pin hoặc bình ắc qui;
  29. Tài sản cấm lưu thông và vận dụng kiến thức về tài sản cấm lưu thông vào một giao dịch cụ thể;
  30. Tài sản hạn chế lưu thông và vận dụng kiến thức về tài sản hạn chế lưu thông vào một giao dịch cụ thể;
  31. Hãy chứng minh căn cứ vào yếu tố chủ thể, nội dung, tính chất giao dịch và thời điểm phát sinh giao dịch, một tài sản có thể chịu đồng thời cả ba qui chế cấm lưu thông, hạn chế lưu thông và tự do lưu thông;
  32. Phân tích chế độ pháp lý đối với tài sản. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch và áp dụng luật dân sự;

KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

  1. Quyền sử dụng đất là bất động sản;

  2. Bất động sản là tài sản không thể di dời;

  3. Bất động sản phải là vật;

  4. Tiền không thể là đối tượng của giao dịch dân sự, nó chỉ là tài sản trung gian để định giá trị tài sản khác;

  5. Vật tiêu hao là vật hao mòn tự nhiên;

  6. Mọi giấy tờ trị giá được bằng tiền đều là giấy tờ có giá;

  7. Giấy tờ có giá phải do ngân hàng nhà nước phát hành;

  8. Di chúc là một loại giấy tờ có giá;

  9. Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa có tại thời điểm xác lập giao dịch;

  10. Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa có hoặc đã có nhưng chưa thuộc sở hữu của chủ thể tại thời điểm xác lập giao dịch;

  11. Sữa tươi, sữa bột và sữa chua là những vật cùng loại;

  12. Ti vi CRT và ti vi LCD là vật cùng loại đặc định hóa;

  13. Nhà ở là vật không thể chia được;

  14. Tiền trúng sổ số là lợi tức phát sinh từ vé sổ số;

  15. Tiền là tài sản trong giao lưu dân sự tại Việt Nam phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành;

  16. Khi đối tượng của giao dịch bao gồm vật chính, vật phụ mà bên có nghĩa vụ vi phạm trong chuyển giao vật chính thì đó luôn là căn cứ để bên có quyền tuyên bố hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện giao dịch;

  17. Quyền tài sản là quyền gắn với tài sản;

  18. Vật đặc định là vật gắn liền với nhân thân của một chủ thể xác định;

  19. Vật độc nhất là vật có dấu hiệu riêng biệt mà chỉ vật đó mới có;

  20. Xác định được một vật thuộc về ai là dấu dấu hiệu để xác định vật đặc định;

  21. Những vật có cùng màu sắc là vật cùng loại;

  22. Chỉ dẫn địa lý là một dấu hiệu để xác định vật đặc định;

  23. Quyền sở hữu là một loại quyền tài sản;

  24. Giấy tờ có giá có thể được phát hành bởi một tổ chức có tư cách pháp nhân;

  25. Phần giá trị chênh lệch tăng thêm khi bán một tài sản là lợi tức;

  26. Tiền bao gồm tiền đồng và ngoại tệ có khả năng thanh toán ở Việt nam;

  27. Vật phụ không thể là đối tượng của giao dịch nếu không gắn với vật chính;

  28. Vật chia được và vật có thể tháo rời các bộ phận là một;

  29. Tất cả các vật là tài sản trong giao dịch dân sự;

  30. A mua nhà của B, hợp đồng đã có hiệu lực nhưng chưa làm thủ tục trước bạ sang tên đối với nhà mua. Trường hợp này, nhà mà A mua là tài sản hình thành trong tương lai của A;

  31. A được Tòa án nhân dân công nhận bằng một bản án có hiệu lực là người thừa kế duy nhất của B, nhưng A chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản do được thừa kế của B. Trường hợp này, di sản mà A được hưởng là tài sản hình thành trong tương lai.

"Kiến thức, chỉ có được nhờ suy nghĩ tích cực, chứ không phải nhờ vào trí nhớ, như vậy mới là kiến thức thực sự"

LEV TOLSTOY

THÁO GỠ VƯỚNG MẮC CHO NGƯỜI LY HÔN VỚI NGƯỜI MẤT TÍCH

PHẠM THỊ LIÊN

Có một thực trạng khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân hiện nay, đó là khi xảy ra tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt”, một bên vợ hoặc chồng thường bỏ đi mất tích. Để chấm dứt quan hệ hôn nhân, người có yêu cầu ly hôn với người mất tích phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định như vậy, nhưng trên thực tế, khi giải quyết việc ly hôn với người mất tích lại phát sinh vướng mắc.

Khoản 1 Điều 78 Bộ luật Dân sự quy định về việc tuyên bố một người mất tích. Theo đó: Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Khoản 2 của điều luật này quy định: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Trước đây, theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, để ly hôn với người mất tích, trước hết phải thực hiện thủ tục tuyên bố người đó mất tích, sau đó giải quyết việc ly hôn trong cùng một vụ án. Nghị quyết số 03/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh nêu rõ: Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lý vụ án. Tòa án cũng có quyền yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng cho việc thông báo tìm người vắng mặt trên báo chí, đài phát thanh, đài vô tuyến truyền hình của tỉnh và Trung ương để Tòa án thụ lý vụ án và thông báo tìm người vắng mặt. Người khởi kiện phải chịu phí tổn về việc thông báo tìm người vắng mặt. Như vậy, Nghị quyết 03 không quy định cụ thể cần phải đăng báo hoặc phát sóng thông báo tìm người vắng mặt trên đài, báo là bao nhiêu lần. Do vậy, thực tiễn giải quyết vụ án này trong những năm qua thường là Tòa án chỉ gửi thông báo tìm người vắng mặt cho cơ quan báo chí đăng báo hoặc đài phát thanh phát sóng 1 lần. Chi phí cho việc này hết khoảng vài ba trăm ngàn đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: LẠI CHUYỆN NGƯ DÂN KIỆN BẢO HIỂM

NAM CƯỜNG

Một chủ tàu cá vừa có đơn kêu cứu gửi báo Tiền Phong tại miền Trung về trường hợp tàu của ông ra khơi đánh bắt bị chìm từ tháng 11/2008, nhưng đến nay, Cty Bảo hiểm Bảo Minh từ chối bồi thường.

Ông Nguyễn Đức Thạch (tổ 22 phường Thanh Khê Đông, Thanh Khê, Đà Nẵng), trình bày, ngày 14/11/2008, tàu ĐNa – 90271 (CS 450CV) ra khơi đánh bắt hải sản tại vùng biển gần đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị). Ngày 20/11, trên đường vào bờ, tàu bị hỏng máy, nước tràn vào gây chìm. BĐBP phối hợp cùng tàu Chân Mây I (TT Huế) đưa 14 ngư dân vào bờ.

Riêng con tàu, ông Thạch phải thuê nhiều tàu trục vớt, lai dắt vào bờ. Sau khi sửa chữa, vụ tai nạn tính sơ sơ ông Thạch bị thiệt hại gần 400 triệu đồng.

Ông Thạch cầm lá đơn bức xúc: “Tôi đã cẩn thận mua bảo hiểm rồi mà đến phút chót hoá ra phải còng lưng lo liệu gần 400 triệu sửa tàu”.

Theo trình bày của ông Thạch, trị giá tàu ĐNa – 90271 khoảng một tỷ đồng (gồm thân, máy cùng nhiều ngư cụ khác), nên vào năm 2007 ông đã mua bảo hiểm của Cty Bảo hiểm Bảo Minh chi nhánh Quảng Nam (số AD 0001/08/B3 510) với giá tiền 10 triệu đồng/năm, mức bồi thường tối đa là 820 triệu đồng.

“Tôi đã hoàn tất hồ sơ, thủ tục về kiểm định thiệt hại, hóa đơn chứng từ chi phí cho việc sửa chữa tàu. Đơn vị bảo hiểm cũng đến xác nhận, chụp ảnh, nhưng cuối cùng họ từ chối thanh toán vì cho rằng tôi đã tự ý ra khơi khi có dự báo thời tiết nguy hiểm” – Ông Thạch buồn rầu.

Năm lần gọi, tòa vẫn chưa thể xử

Ông Thạch trình bày: “Chúng tôi là ngư dân Đà Nẵng, vì thế khi ra khơi căn cứ vào bản tin dự báo thời tiết của Đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng (DRT), mà đài này phát bản tin của Đài Khí tượng Thuỷ văn Trung Trung Bộ. Ngoài ra, vào ngày 14/11/2008, khi tàu tôi ra khơi, thời tiết bình thường, không có lệnh cấm nào của BĐBP Đà Nẵng, chính quyền cũng như BCH PCLB Đà Nẵng.

Continue reading

CÁC NỘI DUNG CHƯA HỢP LÝ CỦA LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

THS. TRẦN VŨ HẢI

Ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH) có hiệu lực từ ngày 1/4/2001. Trong thời gian qua, Luật KDBH đã điều chỉnh tương đối toàn diện các vấn đề pháp lý về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm các nội dung chủ yếu: địa vị pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH); hợp đồng bảo hiểm; đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bảo hiểm v.v.. Với phạm vi điều chỉnh rộng, Luật KDBH đã góp phần phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam và là công cụ quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý hiệu quả hoạt động kinh doanh đặc thù này.

Tuy nhiên, Luật KDBH cũng đã bộc lộ những bất cập làm giảm sút hiệu quả điều chỉnh pháp luật.

1. Bất hợp lý trong cấu trúc văn bản luật

Cấu trúc văn bản Luật KDBH hiện hành có nhiều điểm không hợp lý, cần phải được cơ cấu lại nhằm đảm bảo hiệu quả điều chỉnh pháp luật với tư cách là văn bản luật chuyên ngành.

Thứ nhất, Luật KDBH hiện hành quy định về hợp đồng bảo hiểm tại Chương II, còn những vấn đề pháp lý cơ bản điều chỉnh DNBH được quy định tại Chương III. Thiết nghĩ, việc sắp xếp như vậy là không phù hợp, vì: a) Luật KDBH cần phải coi trọng những nội dung điều chỉnh về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, mà chủ thể kinh doanh chủ yếu là DNBH, nên sau Chương I quy định về những vấn đề chung, thì Chương II phải nên quy định về DNBH và một số chủ thể kinh doanh khác; b) cách giải thích hợp logic là phải có doanh nghiệp thì mới có sản phẩm bảo hiểm, nên sau chế định về DNBH mới nên quy định về sản phẩm bảo hiểm (được thể hiện qua hợp đồng bảo hiểm).

Thứ hai, nên xác định nội dung điều chỉnh của Chương Hợp đồng bảo hiểm là điều chỉnh về các loại hình bảo hiểm (các sản phẩm bảo hiểm) để không trùng lắp với những quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) về hợp đồng bảo hiểm và phù hợp với tinh thần của Luật KDBH là điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm với đối tượng của hoạt động kinh doanh này là các sản phẩm bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ. Do đó, chương về Hợp đồng bảo hiểm nên đặt tên thành Các sản phẩm bảo hiểm.

Continue reading

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

THANH MAI (Tổng hợp)

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đang được các nước đang phát triển sử dụng như một công cụ có hiệu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nước phát triển. Xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế. Các nước đang phát triển đã trở thành nhóm các nước sử dụng nhiều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO. Tính đến ngày 31-12-1998, các nước đang phát triển dẫn đầu số lượng các vụ kiện (37%) nhiều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế.

Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB):

Cơ quan này thực chất là Đại hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên. DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ (trả đũa). Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp. Các quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết. Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua.

Continue reading

THỰC THI BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI MỸ

CCID (Tổng hợp)

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu Dùng, Cơ quan luật pháp Hoa Kỳ đã ban hành khá nhiều các luật để áp dụng trong đời sống kinh tế xã hội. Sau đây là một số luật cơ bản mà các doanh nghiệp, tổ chức, … làm ăn kinh doanh với thị trường Mỹ cần nắm bắt để tuân thủ, tránh các trường hợp vi phạm luật không đáng có. Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thành luật.

Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm

Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law Consumer Protection) hay còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products Liability Law), cơ quan luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc trách nhiệm tuyệt đối.

Theo nguyên tắc “trách nhiệm tuyệt đối”, nhà sản xuất, phân phối hay bán lẻ có thể phải chịu trách nhiệm đối với những thương tật do khuyết tật của sản phẩm gây ra, bất kể đã áp dụng các biện pháp đề phòng. Nói chung, khi nói đến trách nhiệm sản phẩm, người ta phân thành 3 loại khuyết tật: khuyết tật sản xuất (khi sản phẩm sai lệch với thiết kế gốc mặc dù đã thực hiện tất cả những biện pháp cẩn trọng trong quá trình sản xuất và marketing); lỗi thiết kế (khi thiệt hại do sản phẩm gây ra có thể tránh hoặc được giảm nhẹ bằng một mẫu thiết kế hợp lý khác); và lỗi cảnh báo không đầy đủ (khi thiệt hại nhẽ ra có thể tránh hoặc giảm nhẹ bằng việc sử dụng những chỉ dẫn hay cảnh báo phù hợp). Mặc dù đây là những cách thông thường nhất để quyết định có hay không khuyết tật sản phẩm, song luật của các bang có thể khác nhau trong việc quyết định khuyết tật sản phẩm.

Continue reading