ĐIỀU TRẦN TẠI ỦY BAN: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ĐỨC LAM

I- MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, trên đường chuẩn bị tiến tới chuyên nghiệp, Quốc hội đã có những bước đổi mới, trong đó có đổi mới trong quy trình lập pháp. Nằm trong tiến trình chung đó, một số giải pháp đã được thực hiện nhằm nâng cao vai trò của các uỷ ban trong hoạt động của Quốc hội nói chung và trong quy trình lập pháp nói riêng. Chẳng hạn như mới đây Uỷ ban Pháp luật cũ đã được tách thành Uỷ ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp. Tuy nhiên, nói chung dấu ấn của hệ thống uỷ ban vẫn còn chưa đậm nét. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng vị thế, vai trò của các uỷ ban của Quốc hội trong quy trình lập pháp hiện nay?

Bài viết này thử nhìn ra ngoài một chút, cụ thể là tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức phiên điều trần của uỷ ban một số nghị viện trên thế giới trong quy trình lập pháp, những ích lợi mà hình thức này mang lại đối với hoạt động làm luật của nghị viện. Từ đó, đối chiếu với giai đoạn thẩm tra trong quy trình lập pháp ở nước ta để nghiên cứu khả năng áp dụng thủ tục điều trần trong hoạt động thẩm tra của các Uỷ ban của Quốc hội nước ta. Bài viết này sẽ chứng minh rằng, mặc dù gặp phải một vài khó khăn, nhưng có thể ứng dụng những khía cạnh hợp lý của hình thức điều trần vào giai đoạn uỷ ban trong quy trình lập pháp Việt Nam.

II – Giới thiệu chung về điều trần

1. Định nghĩa, tầm quan trọng của điều trần

Điều trần là phiên họp của UB nghị viện một số nước như Mỹ, Canada, Úc, Braxin, Thuỵ Điển, Na Uy, Philipinnes[1], thường là mở công khai, để thu thập thông tin và ý kiến về một dự luật nào đó, hoặc để tiến hành điều tra về một vấn đề thời sự nào đó, hoặc để giám sát, đánh giá hoạt động của chính phủ hoặc việc thực thi pháp luật. Trong một số trường hợp, điều trần hoàn toàn mang tính chất giải thích, cung cấp những chứng cứ hoặc số liệu về một vấn đề đang diễn ra. Có bốn loại điều trần: điều trần lập pháp, điều trần giám sát, điều trần điều tra, và điều trần thông báo[2]. Trong số này, điều trần lập pháp là phổ biến nhất, và thậm chí nhiều khi các dạng điều trần khác cũng phục vụ cho hoạt động lập pháp. Mục đích của bài viết này cũng chính là bàn về dạng điều trần lập pháp này.

Continue reading

TRANH CHẤP THỪA KẾ: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TÍNH THEO TUỔI

HOÀNG LAM

Đối với người thừa kế chưa thành niên, thời hiệu khởi kiện đòi chia di sản thừa kế là 10 năm tính từ ngày đương sự trưởng thành.

Chị V. (huyện Cai Lậy, Tiền Giang) là cháu kêu vợ chồng ông L. là bác ruột. Ông nội chị V. mất từ năm 1975, còn bà nội mất vào tháng 6-1995. Năm 2003, chị V. khởi kiện yêu cầu bác ruột trả lại tài sản là quyền sử dụng đất do ông bà nội chết để lại. Năm 2005, khi TAND tỉnh Tiền Giang xử phúc thẩm vụ án, chị V. thay đổi yêu cầu khởi kiện thành “xin hưởng thừa kế thế vị của cha đối với tài sản do bà nội chết để lại”.

Việc xác định tài sản rối đến mức vụ án đã qua ba lần sơ thẩm, ba lần phúc thẩm nhưng đến nay vẫn chưa kết thúc vì bị cấp giám đốc thẩm hủy án. Riêng cách tính thời hiệu khởi kiện dành cho chị V. cũng khác nhau giữa các cấp tòa.

Không tính thời gian chưa trưởng thành

Ông bà nội chị V. có bốn người con ruột. Trong đó, bác cả và cha của chị V. đã mất trước bà nội. Bác cả có ba người con ruột nên theo luật, họ cũng thuộc trường hợp thừa kế thế vị tương tự như chị V.

Khi chị V. thay đổi yêu cầu khởi kiện, TAND huyện Cai Lậy giải quyết vụ án lại từ đầu và tính lại thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Theo luật định, thời hiệu này là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản mất). Bà nội chị V. mất từ tháng 6-1995, tính đến tháng 6-2005 thì thời hiệu khởi kiện đã hết. Trong khi đó, chị V. đổi yêu cầu khởi kiện thành chia thừa kế tại phiên xử phúc thẩm diễn ra vào tháng 8-2005. Nghĩa là vào tháng 8-2005, chị V. mới kiện thừa kế.

Continue reading

MÔ HÌNH MỚI CHO QUAN HỆ LAO ĐỘNG

TÂY GIANG

Một thiết chế mới về quan hệ lao động đang được nhóm nghiên cứu xây dựng và đề xuất tại một dự thảo đề án lớn sẽ được trình trong thời gian tới. Điểm đáng lưu ý của thiết chế mới này là nó xây dựng lên một mô hình quan hệ lao động hoàn toàn mới, khác hẳn với những quy định đang được phản ánh qua hệ thống văn bản pháp luật hiện nay.

Trao đổi với báo Sài Gòn Tiếp Thị, ông Nguyễn Mạnh Cường, vụ trưởng, giám đốc trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (CIRD) cho biết, mô hình quan hệ lao động mới này sẽ xác định hai vấn đề phát triển cốt lõi, đó là công đoàn và đối thoại thương lượng. Với chủ đích của mình, Nhà nước sẽ không thể dùng các công cụ hành chính như hiện nay mà sẽ chủ yếu điều phối quan hệ lao động bằng những giải pháp mềm.

Dự kiến, một hội đồng ba bên quốc gia về quan hệ lao động sẽ được thành lập bao gồm cơ quan nhà nước, công đoàn và đại diện giới chủ. Hội đồng này sẽ giống như một cơ quan tham vấn cho Chính phủ về các chính sách lao động và quan hệ lao động. Đây không phải là một tổ chức, mà chỉ là cơ chế hoạt động tham vấn ý kiến ba bên về lĩnh vực này. Tuỳ theo yêu cầu thực tiễn, hội đồng sẽ thành lập ra các tiểu ban về lương tối thiểu, an toàn vệ sinh lao động, năng suất lao động… Các tiểu ban này sẽ tổ chức ra những cuộc thương lượng cấp quốc gia về các vấn đề tiêu chuẩn lao động như vậy nhằm định hướng cho các cuộc thương lượng ở cấp dưới.

Hội đồng lao động này sẽ được thành lập ở cấp doanh nghiệp, cơ chế này tồn tại song song với công đoàn và không thay thế công đoàn. Ở những doanh nghiệp có tổ chức công đoàn thì công đoàn sẽ tham gia, ở những doanh nghiệp không có tổ chức công đoàn cơ sở, người lao động có thể bầu ra các đại diện cho mình để tham gia vào hội đồng này.

Continue reading