CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT CƠ BẢN: GIẢI PHÁP PHÙ HỢP VỚI THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

TS. NGUYỄN NGỌC BẢO – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá. Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế.

Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

– Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.

– Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% – 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.

Continue reading

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN – ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG – Đại học Luật Hà Nội

Quyền tiếp cận thông tin chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện các quyền con người và quyền công dân. Trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, quyền tiếp cận thông tin đã và đang trở nên một quyền cơ bản và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người và công dân. Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin đối với Việt Nam hiện nay là cần thiết và cấp bách.

1. Nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin (right to access to information) là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không vì bản thân họ mà với tư cách là người bảo vệ lợi ích của công chúng. Thông tin được coi là tài sản quốc gia và cũng như mọi tài sản khác, không thể để cho một cá nhân hay tổ chức nào độc quyền chiếm đoạt nếu đó không phải là các thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân. Quyền tiếp cận thông tin được coi là một trong những quyền cơ bản của con người và công dân. Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào mà không có biên giới”. Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp vào. Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Nhận thức được tầm quan trọng của Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị, Việt Nam đã tham gia Công ước này năm 1982.

Continue reading

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN

TS. NGUYỄN HỮU LONG – BDSC Corporation

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, đã có rất nhiều doanh nghiệp ra đời và phát triển không ngừng. Số lượng các công ty tăng lên, quy mô các công ty ngày càng lớn, và đã bắt đầu xuất hiện các tập đoàn tư nhân.

Các tập đoàn “tự phong” này được hình thành thông qua việc thành lập một số công ty con, chủ yếu có quan hệ về vốn sở hữu với công ty mẹ hoặc với nhóm chủ sở hữu lớn của công ty mẹ. Do Luật Doanh nghiệp quy định tập đoàn không có tư cách pháp nhân, không được đăng ký kinh doanh, nên nhiều công ty đưa luôn cụm từ “tập đoàn” vào trong tên đăng ký chính thức của công ty mẹ như một cách để khẳng định tầm cỡ và vị thế hùng mạnh của mình. Ngày càng nhiều công ty có tên “Công ty cổ phần tập đoàn…” ra đời cùng với sự ra đời của các nhóm công ty có mối liên kết với nhau theo nhiều hình thức, nhưng đa số vẫn là hình thức đầu tư, góp vốn từ công ty mẹ hoặc các chủ sở hữu lớn của công ty mẹ.

Tên gọi tập đoàn thì đã quá quen thuộc, thậm chí còn bị lạm dụng, nhưng một mô hình tập đoàn hoàn chỉnh, phù hợp cho một nhóm công ty có mối quan hệ liên kết, gắn bó lâu dài về lợi ích với nhau thì dường như vẫn còn khá xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam. Khi nói đến mô hình tập đoàn, nhiều người nghĩ ngay đến cấu trúc tổ chức tổng thể của tập đoàn, mà cụ thể là cách thức bố trí các công ty thành viên trên sơ đồ tổ chức của tập đoàn. Xa hơn chút nữa, trên sơ đồ tổ chức có thể kèm theo các mũi tên thể hiện chiều đầu tư vốn từ công ty này sang công ty khác. Cách hiểu đơn giản này tạo nên một thực trạng không tốt là nhiều công ty lớn muốn nhanh chóng có được danh hiệu tập đoàn bằng cách bung ra thành lập một số công ty con mà không có sự chuẩn bị kỹ càng trong việc lựa chọn mô hình phù hợp để đem lại sức mạnh cộng hưởng tốt nhất cho nhóm công ty trong tập đoàn. Bài viết này chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải thiết kế những mô hình phù hợp cho các tập đoàn đã, đang và sẽ hình thành tại Việt Nam theo thông lệ quản trị thế giới.

Continue reading

NHÀ NƯỚC CẦM LÁI, KHÔNG NÊN CẦM CHÈO

TS. PHẠM DUY NGHĨA * – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Không chỉ là luật gốc, là định hướng chính trị, Hiến pháp trước tiên phải là luật áp dụng trực tiếp, có hiệu lực thi hành và là cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ các quyền công dân và quyền con người của mình. Người dân khi cần có thể nại vào Hiến pháp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Thẩm phán khi cần có thể viện dẫn các điều khoản của Hiến pháp để bảo vệ công lý.

Hiến pháp của nhiều nước không có quy định về chế độ kinh tế. Không quy định như vậy chính lại là tốt, bởi lẽ mọi mô hình kinh tế đều có ưu và nhược điểm riêng của nó, và một nền kinh tế năng động tự nó tìm ra mô hình tốt nhất tùy vào từng thời điểm. Hiến pháp Việt Nam có lẽ cũng cần tạo cho những nhà hoạch định chính sách cơ hội để có thể linh hoạt và uyển chuyển tìm ra hướng đi cho nền kinh tế quốc dân. Sự đan xen giữa công hữu, tư hữu, giữa điều tiết bằng kế hoạch và điều tiết bằng thị trường, giữa khuyến khích lợi nhuận và các chính sách an sinh xã hội đã trở nên phổ biến.

Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một minh chứng cho cách làm này. Bản Hiến pháp đã không mô phỏng chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp Liên Xô đương thời, không xác định một mô hình kinh tế cứng nhắc, mà tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển, trong đó mọi công dân đều có quyền “tham gia kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, sự định hướng tốt nhất của nhà nước không phải là nhà nước tự chiếm giữ đa phần sở hữu và tham gia trực tiếp kinh doanh. Nhà nước nên cầm lái, chứ không nên cầm chèo.

Nếu các nhà lập hiến Việt Nam muốn giữ chương II Hiến pháp 1992, thì phải tìm ra nguyên tắc và đặc trưng riêng của “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Điều này không đơn giản. Nếu theo quan điểm giữ nguyên, thì có thể chấp nhận rằng các điều khoản hiện hành không cần sửa đổi gì căn bản mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của thời đại ngày nay. Song để khuyến khích khu vực dân doanh phát triển, cần xem xét và làm rõ ba vấn đề sau.

Continue reading

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH THỌ

Thị trường trái phiếu Hàn Quốc là thị trường lớn thứ hai ở châu Á sau Nhật . Tính tới cuối năm 2007, tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành lên tới 1.313,81 tỷ USD. Trước năm 1997, thị trường trái phiếu Hàn Quốc phát triển còn nhiều bất cập. Các cuộc cải tổ sau khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đưa thị trường trái phiếu Hàn Quốc lên một bước phát triển mới. Các cải cách của Hàn Quốc là bài học quí báu cho các nước đang phát triển trong khu vực cũng như các nước có điều kiện phát triển tương đồng học tập để cải cách hệ thống thị trường của mình.

1. Quá trình phát triển thị trường trái phiếu Hàn Quốc trước khủng hoảng

Khác với các nền kinh tế có hệ thống tài chính dựa vào thị trường như Mỹ và Anh, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, hoạt động huy động vốn ở Hàn Quốc chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng để chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Chính phủ can thiệp mạnh mẽ vào hệ thống tài chính để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ sở áp dụng lãi suất trần và phân phối tín dụng thông qua các khoản cho vay chính sách. Trong giai đoạn này, cho vay chính sách là công cụ quan trọng để tập trung vốn cho một số khu vực kinh tế, ngành kinh tế, và thậm chí doanh nghiệp cụ thể theo định hướng của chính phủ.

Kết quả của quá trình can thiệp trực tiếp của chính phủ vào hệ thống tài chính Hàn Quốc là ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và là công cụ hữu hiệu của chính phủ để thực hiện chính sách công nghiệp. Thị trường vốn chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vào những năm 1970 và 1980, hệ thống ngân hàng đã không còn đủ sức cung cấp vốn cho một nền kinh tế phức hợp ngày càng phát triển ở Hàn Quốc. Với mục tiêu phát triển thị trường vốn để khắc phục những hạn chế của hệ thống ngân hàng, trong những năm 1970 và 1980, chính phủ đã thực hiện hàng loạt các chính sách để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trong đó đặc biệt phải kể đến hệ thống bảo lãnh trái phiếu doanh nghiệp.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN VÀ GIAO DỊCH: ĐẤT THUÊ ĐÃ LÂU PHẢI TRẢ LẠI

HOÀNG LAM

Gần 35 năm ở ổn định trên đất, giờ bị đơn bị cấp sơ thẩm buộc trả hơn 700 triệu đồng tiền đất cho nguyên đơn.

Cuối năm 1973, bà H. ký giấy bán một căn nhà tại huyện Hóc Môn (nay thuộc quận 12, TP.HCM) cho cha của bà N. Trong giấy, các bên thỏa thuận giá bán căn nhà là 80 ngàn đồng. Về tiền đất thì mỗi năm cha của bà N. phải trả cho chủ đất 500 đồng. Sau khi cha mẹ qua đời, bà N. tiếp tục sử dụng nhà, đất.

Lúc đòi hoa lợi…

Bán nhà được hơn 20 năm, bà H. tranh chấp với bà N. về hoa lợi trên đất. Theo Luật Đất đai năm 1993 (có hiệu lực vào thời điểm giải quyết tranh chấp), loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND. Thế nhưng vào năm 1996, UBND huyện Hóc Môn lại ban hành quyết định giải quyết tranh chấp theo hướng công nhận hiện trạng sử dụng đất cho bên mua nhà.

Sau khi quận 12 được thành lập, chị ruột của bà H. lại nộp đơn yêu cầu UBND quận 12 giải quyết tranh chấp đòi bồi hoàn hoa lợi trên đất. Lại lần nữa, UBND quận 12 làm sai thẩm quyền giải quyết khi ban hành quyết định bác đơn của chị bà H. vào năm 2002. Chị bà H. đã khởi kiện UBND quận 12 ra tòa.

Tháng 9-2004, TAND quận 12 mở phiên xử sơ thẩm vụ án hành chính và bác đơn khởi kiện của chị bà H. Đến phiên xử phúc thẩm hồi tháng 3-2005, TAND TP.HCM tuyên hủy quyết định giải quyết tranh chấp của UBND quận 12. Cấp phúc thẩm khẳng định tranh chấp đòi hoa lợi trên đất là loại việc dân sự nên UBND các cấp không được thụ lý, giải quyết.

… Lúc đòi đất

Continue reading

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: ĐUỔI VIỆC SAI PHẢI TRẢ GẦN 300 TRIỆU ĐỒNG

HOÀNG YẾN

Bên nói mình bị đuổi việc bất ngờ, bên lại bảo đã có sự thỏa thuận với người lao động…

TAND quận 3, TP.HCM vừa xử sơ thẩm vụ bà T. kiện Công ty cổ phần Tuyển dụng N. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vụ án diễn ra khá phức tạp khi cả hai bên không thể có tiếng nói chung trong quá trình hòa giải.

Bất ngờ đuổi việc?

Theo bà T., tháng 8-2007, bà được Công ty N. mời về làm trưởng phòng Dịch vụ khách hàng với mức lương 12 triệu đồng/tháng. Một tháng sau, bà được ký hợp đồng thử việc với mức lương này và đầy đủ phúc lợi. Tháng 11-2007, công ty ký hợp đồng lao động có thời hạn với bà. Một năm sau, công ty nâng lương cho bà lên 18 triệu đồng/tháng và ký hợp đồng không thời hạn.

Tuy nhiên, bất ngờ ngày 5-1-2009, công ty thông báo sẽ chính thức chấm dứt hợp đồng lao động với bà kể từ ngày 19-2 với lý do cần cắt giảm chi phí hoạt động. Dù thế, công ty lại yêu cầu bà ngay hôm sau giao trả thẻ ra vào cùng các vật dụng khác và không vào làm việc nữa. Ngay chiều ngày 5-1, bà đã giao trả thẻ ra vào cho công ty và bị cấm cửa luôn. Từ đó, bà đã nhiều lần trao đổi với tổng giám đốc công ty qua thư điện tử để giải quyết việc bồi thường nhưng không có kết quả.

Theo bà T., lý do mà công ty đưa ra để đuổi việc bà là hoàn toàn trái pháp luật. Đồng thời, công ty vi phạm thời hạn báo trước 45 ngày khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài ra, công ty thiếu thiện chí giải quyết quyền lợi cho bà, làm bà bị thất nghiệp gần chín tháng, hoàn cảnh kinh tế gia đình rơi vào bế tắc…

Bà T. đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động nhưng yêu cầu công ty phải đóng cho bà các loại tiền bảo hiểm; bồi thường lương, phụ cấp trong những ngày không được làm việc; tiền nghỉ phép, tiền thưởng thành tích quý IV năm 2008 và năm 2009. Công ty còn phải trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian một năm làm việc, khoản tiền vi phạm thời hạn báo trước 45 ngày làm việc và tiền thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng… Tổng cộng, bà yêu cầu công ty bồi thường gần 400 triệu đồng.

Continue reading

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC “KHÁT” GIẢNG VIÊN

MINH HIẾU

Chưa bao giờ các trường ĐH phải đối phó với bài toán thiếu giảng viên trầm trọng như hiện nay, đặc biệt là các trường dân lập, tư thục. Theo Bộ GD-ĐT, số giảng viên ĐH hiện nay chỉ đáp ứng 60% nhu cầu thực tế.

Khó thu hút giảng viên có học hàm, học vị

Hiện nay, việc bổ sung giảng viên tại các trường ĐH thông thường bằng cách giữ thủ khoa ở lại giảng dạy. Tuy nhiên, trước nhiều cơ hội việc làm, không ít thủ khoa không mặn mà với việc ở lại trường. Lực lượng thứ hai là các cá nhân đã làm việc bên ngoài và có kinh nghiệm. Tuy nhiên, đội ngũ này thường đòi hỏi lương cao, cơ chế tốt, nên không phải trường ĐH nào cũng đáp ứng được.

Không còn cách nào khác, các trường ĐH buộc phải thông báo tuyển giảng viên. Nhiều trường tuyển cả tiến sỹ đã về hưu, khi đăng tuyển không giới hạn số lượng và thời gian xét tuyển. Tuy nhiên, việc chọn được những giảng viên ưng ý không đơn giản. Hiện nay, những trường ĐH mới, nhất là ở tỉnh và các trường ĐHDL, khó thu hút giảng viên có học hàm, học vị. Đa số trường tư thục mới thành lập dùng chính giảng viên từ các trường công lập…

Các chuyên gia giáo dục cho rằng, nguyên nhân của tình trạng thiếu giảng viên ĐH là do trong một thời gian dài, chúng ta không có chiến lược phát triển đội ngũ này. Hiện nay, tỷ lệ giảng viên trên sinh viên của ta mới là 1/28, trong khi ở các nước là 1/15 hoặc 1/20. Đối với các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, do quy mô đào tạo tăng nhanh, đội ngũ giảng viên không được bổ sung kịp thời nên tỷ lệ này lên tới 30 SV/GV.

Continue reading