GIẤC MƠ NỬA TRIỆU DOANH NGHIỆP VÀ MỘT ĐẠO LUẬT CHUNG: LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 TỪ MỘT GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI LUẬT CÔNG TY 2005 CỦA CHND TRUNG HOA

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Cùng với Luật đầu tư, một đạo luật chung cho doanh nghiệp không phân biệt quốc hữu, tư hữu hay tư bản nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Liệu Luật doanh nghiệp (LDN 2005) có mang tới cho nhà đầu tư khuôn mẫu công ty hiện đại đủ sức ganh đua trong những không gian lạ với đường chân trời ngày càng lùi xa. Bước đầu so sánh với Luật công ty được ban hành cùng năm của nước láng giềng Phương Bắc, bài viết dưới đây bàn về vài diễn tiến đáng ghi nhận trong LDN 2005 cũng như đôi điều cần lưu ý khi thực thi đạo luật này.

Thai nghén và những cuộc vận động chuyên nghiệp

Cùng với làng nghề, phường hội, bàng, cuộc và gia đình nhà buôn truyền thống, theo chân kẻ thực dân, hội người, hội vốn, hội đồng lợi, hội nặc danh, ngân hàng cổ phần… đã bén rễ và nảy mầm trong văn hóa kinh doanh Việt Nam. Pháp luật công ty, vì lẽ ấy, đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỉ nay ở nước ta. Chỉ có điều cái mầm yếu ớt ấy sớm héo hon trước sự chèn ép của mại bản và những cơn biến động chính trị. Nam tiến, tìm lại những nhánh rễ rơi vãi ngày xưa, Luật công ty 1990 đã mở màn tái khám phá ra công ty TNHH và CTCP. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy được thay đổi bởi Luật doanh nghiệp 1999 với những tư duy táo bạo; giành lấy quyền tự do cho doanh nhân và từng bước hạn chế công lực, xóa bỏ giấy phép, xóa bỏ vốn pháp định, minh định thủ tục đăng kí kinh doanh. Những người soạn LDN 2005 có thâm ý làm lan rộng thần thái cải cách ấy sang cho khu vực doanh nghiệp quốc hữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi có hiệu lực, LDN 2005 sẽ thay thể Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, trừ những điều khoản bảo lưu cho quá trình chuyển đổi của DNNN sang mô hình công ty trong một thời hạn chậm nhất là 04 năm [1].

Để làm được việc ấy, những người soạn thảo đã tiến hành vận động đầy cẩn trọng. Bắt đầu bằng một văn bản của Chính phủ xác định tư tưởng chỉ đạo và những nội dung cơ bản cần có, dự thảo LDN 2005 đã được hậu thuẫn bởi không dưới 25 công trình nghiên cứu quy mô quốc tế, hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia với sự đưa tin và tạo dư luận của báo giới [2]. Tìm kiếm lí lẽ, kể cả bởi những phương cách mới như đánh giá tác động quy phạm (RIA), những người soạn LDN 2005 đã tìm thấy sự đồng điệu với trào lưu phi quy chế hóa toàn cầu. Quả là ở đâu quy chế pháp lí càng phức tạp thì dân nước đó càng nghèo [3].

Continue reading

CHUYỆN SỔ ĐỎ, SỔ HỒNG

NGUYÊN LÂM

Chuyện “sổ đỏ”, “sổ hồng” rộ lên gần đây nghe như cổ tích thời nay, khi người dân mua nhà mà lại chỉ được công nhận phần đất; hoặc đang có cả nhà, cả đất hợp pháp, nay bỗng nhiên như có phép lạ, các “thầy phù thuỷ đời mới” chỉ bằng mấy chữ thần chú đã thổi bay mất ngôi nhà của họ. Nguyên do là trước kia, theo Nghị định 60, đất có nhà được cấp “sổ hồng”- gọi là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; đất không có nhà được cấp “sổ đỏ”- gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi có Nghị định 181, các giấy trên được thay bằng mẫu mới là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn tài sản trên đất như nhà chỉ được… “ghi nhận”. Hàng loạt rắc rối đã nảy sinh trên thực tế mà chúng ta đã biết.

Tại sao như vậy?

Trước đây việc cấp sổ hồng thuộc chức năng của Sở Nhà đất. Nay Sở Tài nguyên – môi trường chỉ quản lý đất. Còn Sở Xây dựng xưa nay lại chỉ quản lý xây dựng, không quản lý nhà. Bộ máy tổ chức như vậy tất yếu dẫn đến tách quản lý đất với quản lý nhà. Thế nhưng bao giờ đất và nhà cũng gắn bó với nhau. Đối tượng quản lý chỉ có một nhưng lại có tới hai cơ quan nhà nước quản lý. Phức tạp, nhiêu khê phát sinh từ đó.

Trớ trêu là không có cơ quan nào quản lý nhà. Để bổ khuyết, Sở Xây dựng hay Sở Tài nguyên – môi trường có thể được giao chức năng này. Nhưng chuyện sổ hồng, sổ đỏ cho thấy, như trong nhiều trường hợp khác, một lần nữa, sự phối hợp giữa các bộ, ngành còn chưa khớp, khiến người dân không yên tâm và doanh nghiệp lúng túng trong hoạt động đầu tư kinh doanh nhà ở. Nó cũng làm người dân phải đặt câu hỏi, liệu có chuyện lợi ích gì ở đây không, kiểu như anh được quản phần này, thì tôi cũng phải có phần kia, còn dân thì mackeno?

Tuy nhiên, đó chỉ mới là nguyên nhân ở phần nổi, dễ thấy. Đàng sau những rắc rối ấy là nguyên nhân khác, nằm chìm ở những quan niệm pháp lý chỉ có ở nước ta về quyền tài sản, quyền sở hữu. Sau đây xin được kiến giải cụ thể hơn.

Continue reading

NGHỆ THUẬT THƯƠNG THUYẾT: TÂM LÝ CHIẾN

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG *

Một trong những vũ khí có thể làm cho một cuộc thương thuyết đang nghiêng ngửa phải thay đổi cục diện là yếu tố tâm lý. Chẳng hạn, nếu chủ đầu tư dự án “mê tít” các sản phẩm của bạn, công ty đối thủ bắt đầu chán nản trong cuộc thương thuyết, hay chủ dự án tỏ ra e ngại một điều gì đó nơi phương án của các công ty đối thủ, thì bạn đã đi gần tới mục đích thắng thế và cầm chắc trong tay một yếu tố để lạc quan!

Cũng như trong các ván cờ tướng, cờ vua, địch thủ mà bị chạm vào tâm lý rồi thì khó mà quẫy ngược lại được.

Ngay trong những trò chơi hoặc các bộ môn thể thao, như quần vợt, bóng đá, nhất là điền kinh hoặc golf, tâm lý đóng một vai trò then chốt. Các huấn luyện viên, trước khi cho cầu thủ ra sân, chỉ mong sao tiêm vào đầu của cầu thủ ý nghĩ là họ sẽ thắng! Trong môn nhảy cao hoặc nhảy sào, vận động viên phải suy nghĩ tích cực, tin chắc mình sẽ vượt qua mức xà nào đó, bằng không thì nhảy sẽ vô ích!

Không chỉ có con người mới phải suy nghĩ tích cực. Những cuộc đá gà là gì nếu không phải một trò chơi tâm lý: có những con gà đá to xác vừa nhảy vào chiến trường đã chạy như… vịt. Chung quy chỉ vì vừa thấy con gà địch thủ đã sợ. Con gà toát mồ hôi sợ hãi là một con gà sắp thua! Lớn, nhỏ hẳn không phải là yếu tố quyết định. Cái ý chí khao khát triệt hạ đối thủ mới là yếu tố quyết định.

Trở về cuộc đàm phán, thế nào là đánh vào tâm lý? Nên dùng chiến thuật nào, kỹ thuật nào?

Thứ nhất là gây lòng tin với khách hàng về công ty và sản phẩm của mình.

Năm 1988, tôi phải đi Ai Cập để thương thuyết một dự án nhà máy điện. Hồi đó Alstom là một công ty đang ở thế “thiếu cơm áo” nên nhất thiết phải lấy cho bằng được hợp đồng. Địch thủ toàn là “đấu thủ quốc tế hạng nặng” như General Electric, Brown Boveri, Siemens, Mitsubishi… Cũng may hình ảnh của Alstom về công nghệ điện lực còn rất cao. Tôi lợi dụng luôn hình ảnh tốt đẹp đó để “đóng đinh vào cột”.

Continue reading

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Những năm gần đây, chứng chỉ hành nghề – một trong những “giấy phép con” liên tục xuất hiện trong nền kinh tế nước ta. Ít nhất có thể kể ra: chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát; chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán; chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh; chứng chỉ hành nghề dược phẩm; chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán; chứng chỉ hành nghề luật sư; chứng chỉ hành nghề kinh doanh bất động sản, thẻ thẩm định viên về giá…

Chứng chỉ hành nghề là gì?

Khi một chứng chỉ hành nghề được đưa vào văn bản quy phạm pháp luật là hàng loạt lớp bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn để cấp chứng chỉ hành nghề được tổ chức và không ít doanh nghiệp sẽ không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu chưa có các chứng chỉ hành nghề theo quy định.Vậy chứng chỉ hành nghề là gì? Nó có vai trò quan trọng như thế nào đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?

Ở các nước phát triển, chứng chỉ hành nghề cũng được cấp cho khá nhiều nghề được coi là “nhạy cảm” như ở nước ta. Song, quan niệm về chứng chỉ hành nghề ở đó lại không như ở nước ta.

Trước hết, chứng chỉ hành nghề không phải là một “giấy chứng nhận” về trình độ chuyên môn của người hành nghề. Bởi lẽ, chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp cho những người đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạo quốc gia (trường trung cấp, cao đẳng, dạy nghề, đại học, sau đại học) và cả những người đã hành nghề lâu năm, không có vi phạm pháp luật.

Do đó, bằng tốt nghiệp của các cơ sở đào tạo (trừ trường hợp bằng giả và bằng thật nhưng học giả) và quá trình công tác mới là chứng chỉ xác nhận trình độ chuyên môn của người hành nghề. Chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong những công cụ để quản lý, giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.

Continue reading