PHÁT HUY VAI TRÒ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI

TRẦN QUANG HẢI

Chỉ khi nào giám sát và phản biện xã hội được luật hóa, được thể chế hoá thành chính sách của Nhà nước thì các hoạt động quan trọng này mới có điều kiện đi vào cuộc sống; mới thực sự tạo nên những bước tiến mới với kết quả cao hơn, thiết thực và bền vững hơn.

Giám sát, phản biện dưới góc độ lý thuyết

Từ điển tiếng Việt định nghĩa, giám sát “là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không, cũng được hiểu là chức quan thời xưa, trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định”[1]. Còn phản biện “là phát hiện, đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ lấy học vị trước hội đồng chấm thi”[2].
Trong đời sống chính trị – xã hội, giám sát và phản biện xã hội được hiểu là người dân trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức chính trị – xã hội của mình để theo dõi, xem xét, kiểm tra, đánh giá các hoạt động thực thi pháp luật của các tổ chức, cơ quan trong bộ máy của Đảng, Nhà nước; của mọi cán bộ, viên chức, đảng viên; đồng thời để đóng góp ý kiến đối với việc hoạch định các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Nói cách khác, giám sát và phản biện xã hội không chỉ là việc phát huy quyền dân chủ của người dân và các tổ chức của họ, mà thực chất, còn là sự huy động và tập trung trí tuệ của toàn dân vào giải quyết công việc chung của hệ thống công quyền trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Trong cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng và Nhà nước, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của nhân dân là một khâu vô cùng hệ trọng. Điều 8 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân…”; và Điều 53 ghi: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân”.

Continue reading

Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

DƯƠNG THU PHƯƠNG – Lớp DS32C, Đại học Luật Hà Nội

1. Lãi suất và đặc điểm của lãi suất

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất (interest rate). Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nó không đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([1]).

Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([2]).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Continue reading

QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

DƯƠNG THU PHƯƠNG – Lớp DS32C, Đại học Luật Hà Nội

1. Lãi suất và đặc điểm của lãi suất

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất (interest rate). Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nó không đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([1]).

Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([2]).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Continue reading

LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009

 

Người thực hiện: Dương Thu Phương 

Giới tính: Nữ   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS32C

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Nguyễn Minh Oanh

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

     

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate). Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là lãi suất có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định pháp luật này còn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế. Sự quy định của pháp luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quy định này được áp dụng trong cuộc sống. Và khi có rất nhiều tranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tế hiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảm bảo lợi ích cho các chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp luật vững chắc.

Continue reading

VỀ SỐ PHẬN CỦA NHO GIÁO

PGS.TS. HỒ SĨ QUÍ – Viện Thông tin Khoa học Xã hội

Nho giáo là một trong số hiếm hoi các học thuyết chính trị – xã hội có số phận thật đặc biệt trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Đặc biệt ở chỗ, trải qua hàng nghìn năm, đến nay, Nho giáo vẫn là một “học thuyết sống”- còn đang sống, chứ không phải chỉ được trưng bày trong các “bảo tàng” như không ít học thuyết khác. Tuy trường tồn, nhưng số phận của Nho giáo lại “chẳng hề may mắn”, ngược lại, vị thế của Nho giáo rất thăng trầm. Nó thường bị người đời và các chính thể cầm quyền nhìn nhận khá phức tạp. Và do vậy, việc đánh giá vai trò của Nho giáo trong các thời đại cũng luôn diễn ra theo những khuôn thước khác nhau, với các thái độ khác biệt nhau, và thường là đối lập nhau.

Sang thế kỷ XXI, Nho giáo vẫn gây tranh cãi ở sức sống và tính lợi hại của nó. Mức độ ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và sức thu hút của bản thân học thuyết Nho giáo vẫn phụ thuộc một cách đáng ngại vào những quan điểm thế quyền. Điều đó làm rối thêm sự tranh cãi trong nhiều diễn đàn và dường như đang có xu hướng tăng lên cùng với sự trỗi dậy của “con sư tử Trung Hoa” đương đại. Bởi lẽ, ở Trung Quốc ngày nay, đời sống tinh thần xã hội đang có nhu cầu (đến mức đôi khi được gọi là “cơn sốt”) về một học thuyết đủ sâu sắc, có nguồn gốc bản địa, phù hợp hơn với tinh thần trỗi dậy của văn minh Trung Hoa… để làm một thứ sức mạnh mềm (Soft power) nhằm thay thế, lấp chỗ thiếu hụt, quảng bá hoặc làm công cụ giải quyết những vấn đề thuộc khu vực tư tưởng – tinh thần.

I. PHẦN 1

1. Tồn tại hay không tồn tại? Với Nho giáo, câu hỏi này được đặt ra cách nay hơn 1000 năm, năm 213-212 TrCN. Lúc đó, Nho giáo phải chịu sự định đoạt nghiệt ngã về sự sống còn của mình trong chính sách “Phần thư khanh Nho” của Nhà Tần. Dù có những nghiên cứu vẫn bênh vực hay biện minh cho lý do ít nhiều xác đáng khiến Tần Thủy Hoàng “xuống tay”, thì Nho giáo cũng vẫn phải ghi tên vào lịch sử như một thứ triết học – cai trị cần cảnh giác1.

Continue reading

VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA NHỮNG QUI ĐỊNH ƯU TIÊN ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ

NGUYỄN TUẤN NGỌC

Bộ luật Lao động đã dành một chương về lao động nữ với nhiều quy định ưu tiên (Chương X). Tuy nhiên, qua 15 năm thực hiện, nhiều nội dung bộc lộ bất cập, khó thực thi, đòi hỏi phải sớm sửa đổi, bổ sung để bảo đảm quyền lợi của lao động nữ.

Kết quả tham vấn ý kiến tại cộng đồng cũng như các cuộc hội thảo do Ủy ban Về các vấn đề xã hội phối hợp với Văn phòng Quốc Hội và Dự án 00049114 của UNDP tổ chức đều cho rằng, những quy định về việc tuyển dụng, ký kết hợp đồng lao động, mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, mức lương, nâng lương, điều kiện, môi trường lao động, chế độ thai sản… đối với lao động nữ đã được nhiều doanh nghiệp (DN) thực hiện khá tốt, nhất là DN có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều lao động nữ cũng làm cho DN gặp khó khăn. Đối với DN sử dụng từ 4.000- 5.000 lao động nữ thì bình quân hàng tháng có khoảng 150 người nghỉ thai sản, khoảng 100 người nghỉ con ốm hoặc mẹ ốm; tỷ lệ bỏ việc sau khi sinh cũng khá cao (do nhà trẻ chỉ nhận trẻ trên 12 tháng tuổi). DN thường bị động về số lượng lao động, năng suất, chất lượng bị ảnh hưởng, nhất là DN sản xuất theo dây chuyền. Thực tế cho thấy, những quy định của pháp luật lao động đối với lao động nữ là rất ưu việt, nhưng việc thực hiện gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Một mặt do ý thức chủ quan của người sử dụng lao động nhưng mặt khác cũng do những yếu tố khách quan. Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động cho phù hợp yêu cầu thực tế.

Việc DN phải đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ theo quy định tại Điều 110 Bộ luật Lao động và Nghị định 23/NĐ/CP khó thực hiện, bởi DN không có kinh phí dành cho đào tạo nghề dự phòng, chỉ có thể đào tạo nghề cho công nhân mới được tuyển. Hơn nữa, công nhân nữ phải lao động 8 tiếng/ngày không thể bố trí được thời gian để học. Có ý kiến cho rằng, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tổ chức dạy nghề cho lao động nữ, DN không có chức năng này.

Continue reading

CẦN QUI ĐỊNH PHÙ HỢP VỚI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

NGUYỄN XUÂN VIỄN

Ngày 18.1.2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản. Qua thời gian thi hành cho thấy, Nghị định 05 còn một số quy định chưa rõ, cần bổ sung, hướng dẫn thêm. Do đó, ngày 20.8.2009, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ Dự thảo Nghị định mới thay thế Nghị định số 05 nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục, trình tự, bảo vệ quyền bán đấu giá tài sản và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia đấu giá. Tuy nhiên, Dự thảo Nghị định mới vẫn có một số điểm còn bất cập.

Thứ nhất, theo Dự thảo Nghị định mới: “Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh quyết định thành lập để bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền từ cấp huyện trở xuống quyết định xử phạt và chuyển giao theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Hội đồng  bán đấu giá tài sản cấp huyện không bắt buộc phải có đấu giá viên tiến hành, điều hành cuộc bán đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, Điều 4 của Dự thảo quy định về nguyên tắc bán đấu giá tài sản cũng không có khoản, điểm nào bắt buộc phải có đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản đối với Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Quy định như vậy chưa phù hợp, không bảo đảm hiệu quả của các cuộc bán đấu giá đối với các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Trên thực tế, việc bán đấu giá tài sản khá quan trọng lại mang nhiều rủi ro, đòi hỏi trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại do quá trình bán đấu giá tài sản gây ra. Và, trách nhiệm cá nhân ở đây phải là trách nhiệm cụ thể của Đấu giá viên – người trực tiếp điều hành cuộc bán đấu giá. Không thể quy trách nhiệm chung chung cho cả Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện. Vì lẽ đó, Ban soạn thảo nên quy định rõ về vấn đề này. Cụ thể, phải quy định bắt buộc các Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện trong quá trình bán đấu giá thuộc thẩm quyền phải có Đấu giá viên điều hành; nếu các địa phương chưa có Đấu giá viên thì phải ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản cấp tỉnh tiến hành cuộc bán đấu giá. Có như vậy mới tránh được những sai sót, thiệt hại có thể xảy ra đối với cá nhân, tổ chức liên quan.

Continue reading