TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ ĐẾN THỜI ĐẠI DÂN DOANH: GIA TÀI CỦA 60 NĂM NGÀNH LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Từ năm Ất Dậu 1945 đến năm Ất Dậu 2005, 60 năm đã trôi qua. Tan rồi hợp, một giới luật học mới nhen nhúm tái hình thành từ gần ba thập kỷ nay. Chúng ta đã học được gì của tiền nhân và sẽ để lại gì cho hậu thế; gia tài của 60 năm cải cách có đủ chắp cánh cho những thế hệ tương lai xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật. Đó là những câu hỏi lớn, chắc sẽ còn day dứt người đương thời và con cháu mai sau. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý nhằm nhìn nhận lại những cột mốc thịnh suy đáng nhớ của 60 năm ngành luật kinh tế Việt Nam và những rắc rối trong đổi thay của ngành luật này thời nay.

I. Hoài niệm về một thoáng dân luật thực dân

Trong cuộc ganh tài kinh doanh thời nay, người ta thường bảo "khác biệt hay là chết". Ấy vậy mà giữ lại sự khác biệt ngày càng trở nên rất khó khăn. Khi người Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên hành tinh này, pháp luật của họ ngày càng bành trướng, kể cả về Phương Đông. Tư duy pháp lý kiểu Mỹ ẩn chứa dưới những đồng tiền tài trợ, dưới những điều khoản vay, những hiệp định tự do thương mại song và đa phương, chúng đổ bộ vào những xứ sở đang rất ngỡ ngàng với nền kinh tế thị trường. Người Việt Nam buộc phải vay mượn luật lệ thời mở cửa, như ông cha chúng ta từng phải chấp nhận du nhập nền dân luật thực dân. 80 năm trôi qua như một cơn mưa bụi, nền dân luật thực dân tan rã, mà dường như chẳng để lại một di sản đáng kể nào trong nền quan chế và tâm thức người dân nước ta.

Nay muốn vay mượn thành công pháp luật Phương Tây, xin đừng cố quên đi những thất bại của tiền nhân trong cuộc du nhập nền dân luật kiểu Pháp. Luật pháp chỉ sống khi được dung dưỡng trên mảnh đất văn hóa dân tộc; chính cái văn hóa đó làm cho pháp luật của người Việt Nam khác biệt với pháp luật của thế giới bên ngoài. Nếu giới quan lại có liêm sỉ, giới doanh nhân có dũng khí và giới trí thức có khí tiết đã là nền tảng giúp Minh Trị canh tân nước Nhật, thì một nền văn hóa đóng kín thù địch với tự do cá nhân và chủ nghĩa trọng thương, một xã hội nông dân dễ thỏa mãn, một nền quan chế bảo thủ và một giới trí thức giáo điều đã ngăn cản nước Đại Nam hiểu được những gì đang diễn ra ở Châu Âu trong thời kỳ khai sáng. Nho giáo suy tàn, sau bóng dáng của Minh Mạng, nước Việt Nam rơi vào vòng xoáy của những cuộc khủng hoảng niềm tin vào giới cầm đầu xã hội. Một thể trạng văn hóa như vậy chưa thể sẵn sàng cho việc du nhập những tư tưởng tự do-nền móng của nền dân luật theo kiểu Pháp chưa hề tồn tại trong xã hội Việt Nam thời cận đại.

Continue reading

NHÌN LẠI CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THỜI GIAN QUA VÀ MỘT VÀI ĐỀ XUẤT

NGUYỄN HÒA BÌNH – Chủ tịch HĐQT VCB

1. Điều hành chính sách tiền tệ 2008-2009 – những thành công lớn

Theo nhận định của nhiều chuyên gia tài chính trong và ngoài nước, của giới ngân hàng cũng như công luận nói chung, việc điều hành chính sách tiền tệ trong hai năm qua đã thực sự thành công. NHNN đã có những quyết định hết sức nhanh nhậy, kịp thời trong điều hành lãi suất, tỷ giá, … và những liệu pháp đó đã nhanh chóng có tác động điều tiết rõ rệt đối với thị trường. Có thể điểm lại một số ví dụ.

– Về lãi suất

Sau hơn hai năm giữ ổn định ở mức 8,25%/năm, lãi suất cơ bản (LSCB) đã được NHNN điều chỉnh tăng lên mức 8,75% từ 01/02/2008 và nhảy vọt lên mức 12% từ 19/05/08. Chưa đầy 1 tháng sau đó, từ ngày 11/06/09, LSCB đã được đẩy lên mức đỉnh – 14%. Cùng với LSCB, lãi suất tái chiết khấu (LSTCK), lãi suất tái cấp vốn (LSTCV) cũng liên tiếp được điều chỉnh tăng với đỉnh tương ứng là 13% và 15% áp dụng trong khoảng thời gian từ 11/06/08-20/10/08. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD cũng được điều chỉnh tăng trong khi lãi suất DTBB bị điều chỉnh giảm. NHNN còn phát hành trên 20.000 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các NHTM.

Hình 1: Diễn biến LSCB của Việt Nam thời gian qua

clip_image002

Nguồn: NHNN Việt Nam

Chính sách tiền tệ thắt chặt với hàng loạt các động thái quyết liệt trên đã tạo ra một lực hút mạnh thu hút tiền từ lưu thông đồng thời làm giảm mạnh cấp tín dụng từ các NHTM ra thị trường. Và kết quả là lạm phát đã bị chặn đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm) trong tháng 5 xuống các mức thấp hơn trong quý 3 và thậm chí âm trong các tháng cuối năm. Tỷ lệ lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89%.

Continue reading

THƯƠNG HIỆU LÀ GÌ?

ĐẦU TƯTại Mỹ, thuật ngữ “thương hiệu” được dùng hiện nay có nguồn gốc từ dấu sắt nung in trên mình gia súc thả rông để đánh dấu quyền sở hữu của người chủ đối với đàn gia súc. Tại Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong khoảng thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, từ “thương” trong “thương hiệu” được biết đến rộng rãi với ý nghĩa liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, theo Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, nguồn gốc tiếng Hán của từ này có nghĩa là “san sẻ, bàn tính, đắn đo cùng nhau”, một nét nghĩa có lẽ phù hợp hơn với giá trị của thương hiệu đối với doanh nghiệp.

Giá trị hơn vẫn là cách thức mà một thương hiệu mạnh liên hệ về mặt cảm xúc với khách hàng thông qua các mối liên tưởng khác nhau.

Để giải thích về thương hiệu, hãy thử nghĩ tới bạn bè xung quanh và những mối quan hệ công việc mà bạn có. Nếu họ có chút gì đó giống với các mối quan hệ quen biết của tôi, thì bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng, tất cả họ đều khác nhau, mỗi người có những nét tính cách riêng, đó là chưa kể đến đặc điểm khác biệt về ngoại hình. Và cũng như tôi, có lẽ bạn cũng đã tạo dựng mối quan hệ với từng người trong số đó theo những cách thức khác nhau.

Thương hiệu cũng rất giống với những người quen mà bạn vừa nghĩ đến. Đằng sau mỗi logo là một thói quen hành xử mà bạn thấy có thể chấp nhận được hay thậm chí bạn rất ưa thích. Giống như các mối quan hệ, thương hiệu thường trở nên đáng ưa trong mắt bạn chỉ khi chúng phù hợp tương ứng với nhu cầu trong cuộc sống của bạn và giữ được điều đó nhất quán cùng với thời gian.

Continue reading

HOA KỲ: PHÁ SẢN THUỘC THẨM QUYỀN DUY NHẤT Ở TÒA ÁN LIÊN BANG

LS. TỐNG QUANG MINH

Xin mạn phép trình bày những thông tin dưới đây do Leonidas Ralph Mecham, Giám đốc Văn phòng Hành chính các Tòa án Hoa Kỳ đã đưa ra trong tài liệu “Hiểu biết về các Tòa án Liên bang” được xuất bản cách đây 10 năm và đang có hiệu lực ở Hoa Kỳ.

Thẩm quyền chung của tòa án liên bang Hoa Kỳ

Nhìn chung thì các Tòa án Liên bang giải quyết các vụ việc có liên quan đến chính phủ Hoa Kỳ, hiến pháp Hoa Kỳ hay các luật của liên bang, hoặc các vụ kiện giữa các tiểu bang hay giữa Hoa Kỳ với các chính phủ nước ngoài. Một vụ việc được xem là sự cố liên bang có thể được thụ lý ở tòa án liên bang, chẳng hạn như một cá nhân khiếu kiện về vấn đề tiền bạc liên quan đến an sinh xã hội trong một chương trình của chính phủ liên bang; hoặc chính phủ kiện ai đó đã vi phạm luật liên bang, hoặc do những hành động phản đối nào đó của một cơ quan thuộc liên bang.

Vụ việc cũng có thể được tòa án liên bang thụ lý dựa trên “tính đa dạng về quyền công dân” của các nguyên đơn, như giữa công dân của các tiểu bang khác nhau, hay giữa công dân Hoa Kỳ với công dân nước khác. Để bảo đảm sự công bằng cho nguyên đơn ở ngoài tiểu bang, hiến pháp Hoa Kỳ cho tòa án liên bang xem xét vụ việc đó. Giới hạn quan trọng đối với thẩm quyền xét xử vụ việc là chỉ khi nào thiệt hại tiềm năng hơn 75.000 đô- la thì tòa án liên bang mới thụ lý. Dưới mức đó hoặc không liên quan gì với tiền bạc thì sẽ do tòa án tiểu bang giải quyết. Mặc dù các tòa án liên bang có mặt ở khắp các tiểu bang, nhưng các tòa án tiểu bang lại có thẩm quyền với hầu hết các vụ việc khác, như vấn đề ly hôn, cấp dưỡng trẻ em, các vụ hình sự, tranh chấp hợp đồng, hòa giải và di sản thừa kế, bất động sản, vấn đề vị thành niên, vi phạm luật giao thông, gây thương tích cá nhân. Ngoài ra, một số tranh chấp pháp lý khác có thể được giải quyết ở các tòa án đặc biệt hay các cơ chế hành chính liên bang hoặc thuộc ngành tư pháp, thì do các cơ quan hành chính liên bang hoặc tiểu bang tiến hành.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

NGUYỄN XUÂN THÔNG

Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Để làm rõ vấn đề này đã có nhiều cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học nêu lên khá hệ thống và cụ thể. Trong bài viết này tôi muốn làm rõ một số nội dung chính sau đây:

I. Trong nội dung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước, vấn đề đầu tiên là phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội. Bởi vì, đây là một trong những nội dung cơ bản của việc kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan Nhà nước duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân và cho các vùng lãnh thổ, là hình ảnh thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc và đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là nơi thực hiện và thể hiện chế độ dân chủ đại diện vừa là nơi thể hiện và thực hiện dân chủ trực tiếp. Quốc hội vừa có tư cách nhân dân, vừa có tư cách Nhà nước. Do đó, tổ chức và hoạt động của Quốc hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị và trong bộ máy Nhà nước. Thực tế chỉ ra rằng, muốn xây dựng và củng cố nền tảng chính trị pháp lý vững chắc cho hệ thống quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước phải chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Về đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội có mấy vấn đề sau đây:

1. Cần tiến hành trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, vì Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống. Nói phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm những nguyên tắc, quy tắc, cách thức, hình thức biện pháp mà các tổ chức, các cấp uỷ chọn lựa, sử dụng. Chẳng hạn như về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của các tổ chức đảng ở cơ sở hiện nay có 3 nội dung cụ thể. Đó là:

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ TÍNH HỢP HIẾN, HỢP PHÁP, TÍNH THỐNG NHẤT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

TS. VŨ HỒNG ANH – Đại biểu quốc hội khóa XII

Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật là một trong những yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa và cũng là một nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Vị trí tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật được xác định bởi tính chất đặc biệt của Hiến pháp. Là văn bản của quyền lực gốc, Hiến pháp điều chỉnh mối quan hệ, xác định hình thức nhà nước, mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, địa vị pháp lý của công dân, mối quan hệ giữa công dân và nhà nước. Do tính chất và tầm quan trọng của Hiến pháp nên quyền lập hiến – quyền làm ra hiến pháp, được gọi là “quyền lập quyền” hay còn gọi là quyền lực gốc – quyền lực nguyên thủy. Cũng từ đây xuất hiện yêu cầu về sự cần thiết phải đảm bảo tính hợp hiến trong hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước.

Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa Mac-Lênin đã chỉ rõ “pháp luật…là ý chí của giai cấp… được nâng lên thành luật…”. Trong điều kiện của nước ta, những tư tưởng và nguyên tắc của Hiến pháp thể chế hóa quan điểm và đường lối của Đảng nên Hiến pháp được quy định ở mức độ khái quát cao. Do vậy, để đảm bảo tính hợp hiến của hệ thống pháp luật, bảo đảm cho các chủ thể tham gia quá trình lập pháp hiểu rõ, nhất quán với tư tưởng và nguyên tắc của Hiến pháp, đối với các vấn đề cụ thể thì những quy định mang tính khái quát cao của Hiến pháp cần được diễn giải thông qua hoạt động giải thích Hiến pháp. Vì vậy, hoạt động giải thích Hiến pháp cần được chú trọng và tăng cường đúng mức.

Tính hợp pháp của hệ thống pháp luật xuất phát từ chính yêu cầu của cuộc sống xã hội. Trong khoa học pháp lý hiện nay phổ biến quan điểm cho rằng, tính hợp pháp của hệ thống pháp luật là sự phù hợp giữa quy định của các văn bản dưới luật với luật. Quan điểm này hoàn toàn đúng nhưng chưa thực sự đầy đủ. Bởi lẽ, nếu chỉ coi việc đảm bảo tính hợp pháp của hệ thống pháp luật chỉ là “văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định. Bên cạnh đó, hình thức của văn bản phải phù hợp với quy định về kỹ thuật văn bản” sẽ không đảm bảo nguyên tắc pháp luật phản ánh đời sống xã hội, thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân. Thực tế cho thấy có những văn bản do cơ quan hành chính ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục do luật định nhưng không nhận được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp dân cư dẫn đến hiệu lực thi hành thấp, phải bãi bỏ. Ví dụ quy định của UBND thành phố Hà Nội về cấm đăng ký xe máy ở các quận nội thành đã không nhận được sự ủng hộ của người dân Hà Nội, sau một thời gian thực hiện phải bãi bỏ.

Continue reading

GIỮ VỮNG BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TOÀN CẦU HÓA

PGS.TS. LÊ VĂN HÒE – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia

1. Quan niệm về bản chất nhà nước

Cái làm cho sự vật, hiện tượng tồn tại như chính nó được xác định là bản chất. Bản chất của sự vật, hiện tượng là cái tuyệt đối trong khi nhận thức của con người ta chỉ là tương đối. Bản chất của sự vật, hiện tượng được phản ánh tương ứng với những thang bậc nhận thức của con người được triết học xác định là “bản chất cấp một”, “bản chất cấp hai”… Do không nắm được những nguyên lý cơ bản của lý luận nhận thức ấy mà có giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật đã nêu đến “ba” bản chất của nhà nước kiểu mới, gồm bản chất giai cấp công nhân, bản chất dân chủ và bản chất là tổ chức có chức năng chủ yếu là sáng tạo, xây dựng xã hội mới.

Bản chất của nhà nước còn là vấn đề chính trị, nó được giải thích dưới sự chi phối của những lợi ích chính trị khác nhau. Đã một thời các luật gia, những nhà chính luận tư sản ra sức đề cao những giá trị xã hội của nhà nước tư sản, che mờ tính chất giai cấp của nhà nước, trong khi lý luận về nhà nước xã hội chủ nghĩa lại tuyệt đối hoá tính chất giai cấp của nhà nước, rất ít coi trọng nghiên cứu và phát huy những chức năng xã hội của nhà nước.

Nhà nước cũng như xã hội là những hiện tượng hết sức phức tạp, trước hết là phức tạp về bản chất. Nếu “xã hội là tổng hoà của những quan hệ giữa con người với con người” thì nhà nước, bản chất của nhà nước là tổng hoà của những thuộc tính được hình thành trong quá trình tồn tại, phát triển của nó, và được biểu hiện ra trong toàn bộ các quan hệ của nó với xã hội, với giai cấp, dân tộc, với các quốc gia khác trong các quan hệ chính trị quốc tế. Tính chất và nội dung của những quan hệ ấy cũng là yếu tố quy định bản chất của nhà nước. Có những thuộc tính có tính phổ biến ở tất cả các nhà nước, như thuộc tính về chủ quyền, về quyền lực… Song, có những thuộc tính, những mối quan hệ mà tính chất và nội dung của nó quy định sự khác biệt giữa bản chất của kiểu nhà nước này với bản chất của kiểu nhà nước khác.

Continue reading