Vài ý kiến về sự ra đời của CÁC NHÀ NƯỚC Ở PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

0_PxaAOthcqH8vfosg THS. BÙI XUÂN PHÁIKhoa Pháp luật Hành chính – Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự xuất hiện của nhà nước. Các công trình đó ít nhiều đã chỉ ra những nội dung khoa học cho biết về cách thức, thời gian, điều kiện cho sự ra đời của các nhà nước như công trình nghiên cứu có tính chất kinh điển[1], các giáo trình lịch sử hay lý luận nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật…

Nó cho thấy sự phức tạp của việc nghiên cứu quá trình ra đời của nhà nước. Sự phức tạp đó không chỉ ở chỗ các nguồn tư liệu rất phong phú, có rất nhiều quan điểm chưa phải là đã nhất trí với nhau mà còn ở chỗ biểu hiện của bản thân sự ra đời của nhà nước. Hiện nay, có một quan điểm có thể coi như được thừa nhận chung là nhà nước ra đời trên cơ sở của xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định với sự xuất hiện của chế độ tư hữu sau khi có sự phân công lao động xã hội và trong xã hội đã xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Tuy nhiên, cho đến nay, những thông tin có được từ các hoạt động như khảo cổ với những thư tịch cổ, các công cụ lao động, sinh hoạt… của con người thời kỳ cổ đại, từ các công trình nghiên cứu lịch sử đã cho chúng ta những cách nhìn toàn diện hơn về sự ra đời của các nhà nước cũng như pháp luật. Bài viết này là sự bày tỏ một số suy nghĩ của bản thân về sự xuất hiện của nhà nước, trong đó có sự so sánh và đưa ra cách luận giải về sự khác nhau trong sự xuất hiện của các nhà nước ở phương Đông và phương Tây và ý nghĩa của việc xác định sự khác nhau đó.

Trong bài viết này, xin được ngược dòng thời gian để trở về quá khứ, thông qua những kết quả của lịch sử để lại và hiện thực cuộc sống để lý giải về sự xuất hiện của nhà nước dưới các góc độ văn hóa, kinh tế, chính trị…

Continue reading

VÀI Ý KIẾN VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC NHÀ NƯỚC Ở PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính – Nhà nước, Đại học Luật HN

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự xuất hiện của nhà nước. Các công trình đó ít nhiều đã chỉ ra những nội dung khoa học cho biết về cách thức, thời gian, điều kiện cho sự ra đời của các nhà nước như công trình nghiên cứu có tính chất kinh điển[1], các giáo trình lịch sử hay lý luận nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật…

Nó cho thấy sự phức tạp của việc nghiên cứu quá trình ra đời của nhà nước. Sự phức tạp đó không chỉ ở chỗ các nguồn tư liệu rất phong phú, có rất nhiều quan điểm chưa phải là đã nhất trí với nhau mà còn ở chỗ biểu hiện của bản thân sự ra đời của nhà nước. Hiện nay, có một quan điểm có thể coi như được thừa nhận chung là nhà nước ra đời trên cơ sở của xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định với sự xuất hiện của chế độ tư hữu sau khi có sự phân công lao động xã hội và trong xã hội đã xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Tuy nhiên, cho đến nay, những thông tin có được từ các hoạt động như khảo cổ với những thư tịch cổ, các công cụ lao động, sinh hoạt… của con người thời kỳ cổ đại, từ các công trình nghiên cứu lịch sử đã cho chúng ta những cách nhìn toàn diện hơn về sự ra đời của các nhà nước cũng như pháp luật. Bài viết này là sự bày tỏ một số suy nghĩ của bản thân về sự xuất hiện của nhà nước, trong đó có sự so sánh và đưa ra cách luận giải về sự khác nhau trong sự xuất hiện của các nhà nước ở phương Đông và phương Tây và ý nghĩa của việc xác định sự khác nhau đó.

Trong bài viết này, xin được ngược dòng thời gian để trở về quá khứ, thông qua những kết quả của lịch sử để lại và hiện thực cuộc sống để lý giải về sự xuất hiện của nhà nước dưới các góc độ văn hóa, kinh tế, chính trị…

Continue reading

CÁ NHÂN – Chủ thể của Luật quốc tế?

 NGUYỄN ĐỨC LAM

Từ khi mới xuất hiện đến nay chức năng chính của Luật quốc tế là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các nhà nước với nhau, bởi vậy chủ thể chính của luật quốc tế trong lịch sử phát triển của nó là các quốc gia. Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai trong khuôn khổ của luật quốc tế xuất hiện một ngành mới là luật về quyền con người. Quyền con người không còn là đối tượng điều chỉnh của hệ thống luật của từng quốc gia nữa đã làm nảy sinh ra vấn đề: cá nhân con người có phải là chủ thể của luật quốc tế hay không?

Khẳng định cá nhân là chủ thể của luật quốc tế, nhiều tác giả thậm chí đưa ra đề nghị đổi thuật ngữ Luật quốc tế thành “Luật thế giới”, “Luật hoàn cầu”, “Luật toàn cầu”… Một số khác lại phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong luật quốc tế. Để chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một vài suy nghĩ về vấn đề này.

1- Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ đó. Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi hành các qui tắc của luật quốc tế. Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực thể độc lập có những quyền  và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản chất của mình. Đó là các  quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế; các tổ chức liên Chính phủ;  các  quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng- trong phạm vi nào đó là cá nhân con người.

Một số tác giả khi nói đến chủ thể của luật quốc tế thì cho rằng chúng cần phải tham gia vào quá trình thiết lập các quy tắc của luật quốc tế. Trong trường hợp đó dĩ nhiên cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế. Nhưng cũng có thể định nghĩa một cách khác rằng chủ thể của luật quốc tế là bất kỳ một thực thể nào có quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các điều luật của công pháp quốc tế.

Continue reading

CÁ NHÂN – CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ?

NGUYỄN ĐỨC LAM

Từ khi mới xuất hiện đến nay chức năng chính của Luật quốc tế là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các nhà nước với nhau, bởi vậy chủ thể chính của luật quốc tế trong lịch sử phát triển của nó là các quốc gia. Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai trong khuôn khổ của luật quốc tế xuất hiện một ngành mới là luật về quyền con người. Quyền con người không còn là đối tượng điều chỉnh của hệ thống luật của từng quốc gia nữa đã làm nảy sinh ra vấn đề: cá nhân con người có phải là chủ thể của luật quốc tế hay không?

Khẳng định cá nhân là chủ thể của luật quốc tế, nhiều tác giả thậm chí đưa ra đề nghị đổi thuật ngữ Luật quốc tế thành “Luật thế giới”, “Luật hoàn cầu”, “Luật toàn cầu”… Một số khác lại phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong luật quốc tế. Để chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một vài suy nghĩ về vấn đề này.

1- Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ đó. Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi hành các qui tắc của luật quốc tế. Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực thể độc lập có những quyền  và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản chất của mình. Đó là các  quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế; các tổ chức liên Chính phủ;  các  quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng- trong phạm vi nào đó là cá nhân con người.

Một số tác giả khi nói đến chủ thể của luật quốc tế thì cho rằng chúng cần phải tham gia vào quá trình thiết lập các quy tắc của luật quốc tế. Trong trường hợp đó dĩ nhiên cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế. Nhưng cũng có thể định nghĩa một cách khác rằng chủ thể của luật quốc tế là bất kỳ một thực thể nào có quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các điều luật của công pháp quốc tế.

Continue reading

BA THÁCH THỨC CỦA QUỐC HỘI

VÕ VĂN KIỆT – Cố Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCNVN

Thách thức thứ nhất là khả năng đại diện cho nhân dân

Theo Luật tổ chức QH, QH nước ta chỉ có ba chức năng là: chức năng lập pháp; chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; chức năng giám sát (không có chức năng đại diện). Thông thường, đã là một cơ quan do nhân dân bầu ra thì chức năng đầu tiên phải là chức năng đại diện. Đây là chức năng quan trọng nhất vì bản chất dân chủ của chế độ thể hiện trước hết ở chức năng này.

Trên thực tế, nếu chức năng đại diện không vận hành thì các chức năng lập pháp, quyết định và giám sát cũng có thể vận hành sai, vì ý chí của nhân dân, lợi ích của nhân dân sẽ khó có thể phản ánh được đúng đắn trong các quyết sách của QH.

Để thực hiện tốt chức năng đại diện đòi hỏi các vị đại biểu QH phải có động lực để đại diện và có trình độ, có năng lực để đại diện. Cả động lực để đại diện, cả trình độ và năng lực để đại diện đều đang có vấn đề.

Trước hết, động lực phải tận tụy với Đảng bao giờ cũng áp đảo. Hậu quả là chế độ trách nhiệm trước dân rất khó được xác lập.

Hiện nay, tỉ lệ đảng viên trong QH chiếm đến trên dưới 90% (447/498). Trong lúc đó, các đảng viên chỉ chiếm khoảng 5-6% trong tổng số cử tri cả nước. Trong những nhiệm kỳ vừa qua chúng ta đã cố gắng nâng cao tỉ lệ các vị đại biểu ngoài Đảng trong QH. Rất tiếc, cố gắng này không mấy thành công.

Để bảo đảm một tỉ lệ hợp lý các đại biểu là người ngoài Đảng, điều quan trọng là phải giới thiệu được nhiều hơn ứng cử viên là người ngoài Đảng và giảm số ứng cử viên là đảng viên xuống. Một đảng cầm quyền chỉ cần có được một đa số trên 50% số ghế trong QH là đủ.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO KINH TẾ, HÀNH VI DOANH NHÂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ; TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

HOÀNG XUÂN TRUNG

Giới thiệu

Tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng đối với các nước đang phát triển. Một vài nghiên cứu thực tế đã xem xét các ảnh hưởng của hành vi doanh nhân đến tăng trưởng kinh tế, nhưng rất ít các nghiên cứu thực hiện nhằm để xem xét ảnh hưởng của tự do kinh tế đến doanh nhân. Đồng thời việc nghiên cứu tự do kinh tế cũng quan trọng bởi vì nó có mối quan hệ với hành vi doanh nhân. Một số nghiên cứu thực tế khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tự do kinh tế và tăng trưởng kinh tế.

Ví dụ, James D. Gwartney và Robert A. Lawson và Erik Gartzke (2005), Báo cáo Hàng năm 2005 của Thế giới về Tự do Kinh tế, Johnson, B. và Sheehy, T. (1998) Phát triển Kinh tế và Tự do Kinh tế, Cách mạng Trong Kinh tế Phát triển; Anisha Madan (2002), Mối quan hệ giữa Tự do Kinh tế và Phát triển Kinh tế Xã hội. Và có một số nghiên cứu thực tế về mối quan hệ giữa hành vi doanh nhân và tăng trưởng kinh tế, ví dụ: Charlie Karlsson, Christian, Christian Friis và Thomas Paulsson (Tháng 9/2004), Mối Quan hệ Hành vi Doanh nhân với Tăng trưởng Kinh tế; Daniel Berkowitz và David N.Dejong (Tháng 5/2004), Hành vi Doanh nhân và Tăng trưởng Sau Thời Chủ nghĩa Xã hội; M.A. Carree và A.R. Thurik, Ảnh hưởng của Hành vi Doanh nhân đến Tăng trưởng Kinh tế. Tất cả nghiên cứu này khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hành vi doanh nhân và tăng trưởng kinh tế. Mục đích của bài viết này là xem xét mối quan hệ giữa tự do kinh tế và hành vi doanh nhân, và mối quan hệ giữa hành vi doanh nhân và tăng trưởng kinh tế. và sau đó xem xét trường hợp thực tế ở Việt nam.

I. Tự Do Kinh Tế và Hành Vi Doanh Nhân

1. Khái niệm về Tự do Kinh tế

Khái niệm về tự do kinh tế không phải là một khái niệm mới trong lý thuyết kinh tế. Kể từ thời Adam Smith, nếu không phải trước đây, các nhà kinh tế học đã tin rằng tự do lựa chọn nguồn cung và cầu, cạnh tranh trong kinh doanh, thương mại với các nước khác, và đảm bảo quyền tài sản là thành phần thiết yếu của tiến bộ kinh tế (North and Thomas, 1973). Smith (1776-1937) nhấn mạnh bàn tay vô hình của thị trường trong việc làm gia tăng sự giàu có của các quốc gia. David Ricardo (1821-1912) ủng hộ tự do thương mại như là phương tiện của việc tạo ra tăng trưởng kinh tế. Milton Friedman khẳng định "Tôi tin rằng các xã hội tự do xuất hiện và tồn tại chỉ bởi vì tự do kinh tế là hiệu quả về mặt kinh tế nhiều hơn nhiều so với các phương pháp khác trong việc kiểm soát hoạt động kinh tế" (Foreword in Gwartney et al., 1996).

Continue reading

PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC ĐẠI HỌC ÁP DỤNG TRONG HỌC CHẾ TÍN CHỈ

LÊ ĐỨC NGỌC – Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Bản chất và đặc điểm dạy và học trong học chế tín chỉ :

Hiện tồn tại hai mô hình giáo dục:

1- Lấy thầy giáo làm trung tâm: dạy làm chính, thuộc bài của thày là giỏi.

2- Lấy người học làm trung tâm: học làm chính, tự chiếm lĩnh được kiến thức mới là giỏi.

Sự khác biệt giữa hai mô hình trên về dạy và học lấy giáo viên làm trung tâm và học viên làm trung tâm được tóm tắt trong bảng sau:

 

Giáo viên làm trung tâm

Học viên làm trung tâm

Truyền

thụ kiến thức

Kiến thức được truyền thụ từ

giáo viên đến học viên theo những gì giáo viên nói được tiếp thu và được học bởi học viên

Kiến thức xây dựng được từ

người học qua việc thu thập, tổng hợp và tích hợp thông tin với các kỹ năng như điều tra, trao đổi cũng như tư duy phê phán và tư duy sáng tạo

Sử dụng

kiến thức

Nhấn mạnh lĩnh hội kiến thức

(thường là nhớ thông tin) ngoài bối cảnh thực tế mà kiến thức được sử dụng

Nhấn mạnh sử dụng và trao đổi

kiến thức có hiệu quả nhằm vào những vấn đề mà giống như sẽ gặp trong đời sống thực

Vai trò

của giáo viên

Giáo viên là người cung cấp

thông tin ban đầu và kiểm tra kết quả học tập

Giáo viên là người huấn luyện và

thúc đẩy việc học. Cả hai giáo viên và học viên cùng đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra

đánh giá

Kiểm tra đánh giá được sử

dụng để đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra đánh giá được sử dụng

đẻ khảo sát vấn đề và thúc đẩy việc học sâu hơn, ngoài đánh giá kết quả học tập

Văn hoá

học

Văn hoá học là cạnh tranh và

cá thể hoá

Văn hoá học là hợp tác, cộng tác

và trợ giúp

(Jonathan A.Aliponga, PhD. Nishiyamato Gakuen and Hakoho Womens College Nara, Japan.Changing Winds and Shifting Sands: From Teacher-centred to Learner-centred Institution. CDT Link, July 2004 Vol.8 No2)

Continue reading

GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP VÀ ĐỌC TÍCH CỰC THEO SQ3R

T.T.H – Trung tâm hỗ trợ Giáo viên

Các chữ cái SQ3R là từ viết tắt của các kỹ thuật mà chúng ta sẽ sử dụng liên tiếp để đạt đến mục đích cuối cùng là nắm toàn bộ nội dung của tài liệu.

SQ3R = Survey – Question – Read – Recite – Review

Mô tả:

Có rất nhiều người trong chúng ta không thể nhớ nổi nội dung của một cuốn sách, một bài báo, một tài liệu cần thiết cho công việc của mình. Chúng ta quên béng mất nội dung của tài liệu chỉ sau vài giờ đồng hồ đọc chúng. Chính do quá trình quên nhanh chóng các nội dung quan trọng này, chúng ta thường không thể kết nối kiến thức, không thể thành công trong các kỳ thi và không thể hoàn thành tốt công việc của chính bản thân mình.

Nguyên nhân:

Do trong quá trình đọc tài liệu, chúng ta đọc một cách “thụ động”. Cặp mắt của chúng ta vẫn lướt trên tài liệu, nhưng bộ não của chúng ta lại đang nhảy múa với những ý tưởng khác hoặc hờ hững với nội dung của tài liệu. Hoặc học sinh của chúng ta đọc “ra rả” bài học nhưng ngay lúc ấy trí não của các em không hề “nhúc nhích”, nói cách khác, các em đang dùng các biện pháp “cơ học”, “cưỡng bức” để bộ não phải ghi nhớ, nhưng “chữ thầy vẫn trả cho thầy”.

Theo các điều tra về tâm lý và hoạt động của não bộ, chúng ta sẽ nhớ lâu hơn khi chúng ta chú tâm một cách tích cực và hiểu rõ nội dung mà tài liệu đang trình bày.

Continue reading