LÀM SAO ĐỂ ĐÀO TẠO NGƯỜI CÓ “TƯ DUY SÁNG TẠO”?

BÙI TRỌNG LIỄU – Nguyên giáo sư Đại học Paris, Pháp

Trước tiên, tôi muốn tìm hiểu cụm từ “tư duy sáng tạo” mà một số người Việt Nam đang dùng hiện nay nghĩa là gì. Nói giáo dục đào tạo ra những người “biết suy luận” (có người gọi là có “tính chủ động tư duy”) thì tôi hiểu. Còn từ “sáng tạo” thì tôi hiểu theo nghĩa là “phát minh, tạo ra những cái mới có giá trị về vật chất hay tinh thần mà tới nay chưa có; tìm ra những giải pháp độc đáo chưa ai dùng để giải quyết vấn đề này nọ; hoặc là biết phù hợp hóa những phát minh của người khác vào khung cảnh đặc biệt của mình”. Nếu quả vậy, tôi xin được phát biểu đôi lời về việc giáo dục đào tạo ra những con người biết suy luận.

Không thể có suy luận, không thể có sáng tạo nếu không có kiến thức cơ bản tối thiểu

Tôi nghĩ loài người tiến bộ là nhờ tích lũy được những hiểu biết của các thế hệ trước rồi mới tìm ra những cái mới cho thế hệ mình, chứ không phải là mỗi thế hệ luôn trở lại thời đồ đá rồi tự phát minh lại từ đầu. Cho nên ở mức độ bình thường thì nên học cho đủ hiểu biết đã. Tôi nói điều này cho tất cả mọi cấp học, từ mẫu giáo, tiểu học, trung học và những năm đầu đại học, ngoại trừ cấp “đào tạo qua nghiên cứu”. Nói như vậy không có nghĩa là người học (học sinh, sinh viên) hoàn toàn thụ động, học kiểu học vẹt: nếu nhà giáo có nhiệm vụ chuyển giao kiến thức qua bài giảng, người học, ngoài việc phải tiếp thu còn phải được hướng dẫn để biết tự mình tra sách, tìm tài liệu tại thư viện hay bằng những phương tiện khác như tìm trên mạng… để bổ sung sự hiểu biết của mình.

Ở đây, tôi thấy cần nói thật rõ để tránh hiểu lầm. Học vẹt có thể điển hình bằng một thí dụ “cực cấp”: ở nước nào có quốc giáo (thần tiên hay trần tục) thì có việc học thánh kinh, mà đã là học thánh kinh thì không có chuyện đòi suy luận, chỉ có việc học sao cho thuộc để tụng lại.

Continue reading

BÀN VỀ SỬA ĐỔI CÁC QUI ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bộ luật Dân sự năm 2005 mới được ban hành thì đã có hàng loạt công trình nghiên cứu lớn nhỏ công khai phê phán các bất cập, nên buộc phải có kế hoạch sửa đổi lớn, trong khi hầu hết các Bộ luật Dân sự của các nước phương Tây đã sống hơn một thế kỷ mà vẫn chưa bị gọi là “già”, mặc dù hoàn cảnh xã hội của họ đã có nhiều thay đổi.

Tại sao nhiều đạo luật của ta mới ngấp nghé ra đời thì đã có nguy cơ sửa đổi rình rập, và làm thế nào để Bộ luật Dân sự sống trên một thế kỷ mà vẫn không bị gọi là “già” là các câu hỏi cần có câu trả lời trước khi bắt tay vào công việc sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005.

1. Phân tích từ một điều luật

Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2005 có các quy định về mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, mà tại đó đã tụ hội nhiều bất cập liên quan tới kỹ thuật pháp lý, kỹ thuật lập pháp, nhận thức về luật dân sự nói chung và luật hợp đồng nói riêng của nhà làm luật. Điều luật này quy định các bên mua bán có thể thỏa thuận trao cho bên bán quyền chuộc lại tài sản bán trong một thời hạn nhất định. Kèm theo đó nhà làm luật ấn định: (1) bên bán có quyền chuộc lại tài sản bất kể lúc nào trong thời hạn thỏa thuận, với điều kiện phải báo trước cho bên mua trong khoảng thời gian hợp lý; (2) thời hạn các bên thỏa thuận không được vượt quá một năm đối với động sản và năm năm đối với bất động sản kể từ thời điểm “giao tài sản”; (3) giá chuộc lại là “giá thị trường tại thời điểm và địa điểm chuộc lại”, nếu không có thỏa thuận khác (khoản 1, Điều 462); và (4) trong thời hạn chuộc lại, bên mua “không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm cố” và “phải chịu rủi ro đối với tài sản” là đối tượng chuộc lại (khoản 2, Điều 462)(1).

Continue reading

CÁC BẤT HỢP LÝ TRONG QUI ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp 

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006 hướng dẫn Bộ luật Dân sự 2005 về các giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163), qua hơn hai năm thực hiện đã có tầm quan trọng và độ ảnh hưởng lớn trong đời sống giao dịch dân sự, thương mại.

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006 hướng dẫn Bộ luật Dân sự 2005 về các giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163), qua hơn hai năm thực hiện đã có tầm quan trọng và độ ảnh hưởng lớn trong đời sống giao dịch dân sự, thương mại. Đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, Nghị định đặc biệt có ý nghĩa vì hầu hết mọi hoạt động cho vay của ngân hàng phải được bảo đảm bằng tài sản của bên vay. Để góp phần vào việc hoàn thiện dự thảo thông tư hướng dẫn Nghị định số 163 (đang được Bộ Tư pháp thực hiện), bài viết phân tích một số quy định chưa hợp lý hoặc còn thiếu sót của Nghị định nhìn từ góc độ vận dụng trên thực tiễn hoặc khi đối chiếu với các quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Nhà ở năm 2005 (Luật Nhà ở); đồng thời chỉ ra một số rủi ro của các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam trong vấn đề nhận và xử lý tài sản bảo đảm trong bối cảnh chồng chéo hoặc thiếu hụt của các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

1. Về thỏa thuận thứ tự ưu tiên thanh toán

Khoản 2 Điều 6 của Nghị định số 163 quy định rằng: “Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản có quyền thoả thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền”. ở đây, chúng ta có thể chia quy định này thành hai vế. Vế thứ nhất cho phép các bên liên quan thỏa thuận thay thế thứ tự ưu tiên khi tài sản bảo đảm được xử lý (mặc dù bên được thế quyền ưu tiên đăng ký giao dịch bảo đảm sau bên bị thế quyền). Vế thứ hai quy định phạm vi được ưu tiên thanh toán chỉ trong phạm vi bảo đảm của bên bị thế quyền.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 72/2009/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH, NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Để thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 

1. Nghị định này quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sau đây:

a) Sản xuất con dấu;

b) Sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên);

c) Sản xuất, kinh doanh, sửa chữa công cụ hỗ trợ, sửa chữa súng săn; sản xuất pháo hoa;

d) Cho thuê lưu trú; cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê nhà để ở hoặc làm văn phòng;

đ) Hoạt động in;

e) Dịch vụ cầm đồ;

g) Kinh doanh karaoke; vũ trường; xoa bóp (massage, tẩm quất);

h) Trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài; kinh doanh casino;

i) Dịch vụ đòi nợ.

Continue reading

LỜI CHÚC ĐẦU NĂM HỌC TỚI CÁC BẠN SINH VIÊN

Năm học mới bắt đầu, bạn – sinh viên Luật bước vào giảng đường với nền tảng, động cơ, mục đích khác nhau. Khủng hoảng kinh tế làm trĩu thêm gánh nặng trên vai gia đình bạn và bản thân bạn.

Đôi lúc, bạn có thể hoài nghi con đường mình đã chọn, hoài nghi, chất lượng giáo dục, hoài nghi công lý và công bằng xã hội … Sự thật, bạn là tương lai của nền pháp chế Việt Nam. Xã hội, gia đình và bản thân bạn cần sự học của bạn.

Trên tất cả, tôi chúc bạn có đủ sức khỏe, nhiệt huyết và niềm tin vì bạn là thành tố không thể thay thế của một xã hội học tập và một nhà nước pháp quyền.

CIVILLAWINFOR