ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU, TÀI SẢN VÔ HÌNH – KHOA HỌC HAY NGHỆ THUẬT?

NGUYỄN TRUNG THẮNG  – Chủ tịch Masso Group, Viện trưởng Viện Marketing và quản trị Việt Nam

Trong thời gian qua, ở Việt Nam có nhiều tranh luận về giá trị của thương hiệu, tài sản vô hình. Vấn đề trên trở nên đặc biệt quan trọng khi công ty tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn trong danh sách VNR500 tiến hành cổ phần hóa hay khi một công ty trách nhiệm hữu hạn muốn thu hút sự tham gia của thành viên mới. Lúc này, một câu hỏi lớn được đặt ra là doanh nghiệp có giá trị bao nhiêu? Đồng thời, việc định giá thương hiệu, tài sản vô hình còn quan trọng bởi nó cho phép đánh giá hiệu quả của marketing gia tăng giá trị tài sản vô hình.

Giá trị thương hiệu và tài sản vô hình

Trước khi thống nhất thương hiệu là tài sản vô hình, vậy cần phải hiểu tài sản là gì? Tài sản được định nghĩa là những gì có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài sản thương hiệu là những lợi ích mà công ty có được khi sở hữu thương hiệu này bao gồm: khả năng thu hút khách hàng mới, duy trì khách hàng trung thành, đưa chính sách giá cao, mở rộng thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, tạo rào cản với đối thủ cạnh tranh.

Tất cả những lợi ích này có được là nhờ thương hiệu đã gây dựng được niềm tin nơi người tiêu dùng nhờ những nỗ lực trong quá khứ và do đó tạo ra khả năng sinh lợi trong tương lai. Giá trị của một doanh nghiệp bao gồm hai phần, phần giá trị hữu hình và phần giá trị vô hình. Đối với nhiều doanh nghiệp, xây dựngthương hiệu ngày nay đồng nghĩa với việc tạo dựng và quản lý tài sản thương hiệu.

Danh sách những thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2008 được tạp chí Bussiness Week công bố cho thấy có sự gia tăng giá trị đáng kể của những thương hiệu công nghệ như Google (tăng 43% so với năm 2007), Apple (24%), Amazon (19%) và những thương hiệu hàng hiệu như Zara (15%), Audi (11%) và Gucci (7%).

Continue reading

TỶ GIÁ – NGUỒN GỐC RỦI RO TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP

THS. ĐINH THỊ THU HỒNG

Tỷ giá là một trong nguồn gốc rủi ro chính khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới rơi vào lao đao, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rất nhiều công cụ phòng chống rủi ro ngoại hối. Trong quá khứ, tác động của việc tỷ giá biến động nhiều hơn kể từ sau sự sụp đổ của chế độ tỷ giá Bretton Woods vào đầu thập niên 1970 đã kéo nhiều công ty lớn trên thế giới, đặc biệt là nhiều công ty tên tuổi của Mỹ và Nhật vào những “rắc rối” về tỷ giá trong các thập niên 1980 và 1990. Thời kỳ đó, những tên tuổi như Laker Airlines, Caterpillar, Toyota, Honda, v.v. đều than phiền trên mặt báo rằng những biến động bất lợi của tỷ giá đã tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, và khiến cho doanh thu lẫn lợi nhuận giảm thấp.

Trong thời gian gần đây, tỷ giá USD/VND có những biến động bất thường, mới đầu năm 2008 còn tình trạng đồng đô la ế ẩm không ngân hàng thương mại nào mua thì giờ đây (vào giữa tháng 5/2008) giá trị đồng tiền này đã tăng vọt lên hơn 13% không đầy 3 tháng. Những biến động này đã tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp. Bài viết tập trung làm rõ về mặt lý thuyết và thực tiễn những tác động rủi ro tỷ giá đến các doanh nghiệp và đề xuất một số biện pháp nhằm giảm những rủi ro này.

1. Tác động của tỷ giá đến các doanh nghiệp

Về lý thuyết, biến động tỷ giá có thể tác động đến doanh nghiệp theo nhiều cách và được đo lường bằng độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá.

Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá có thể xảy ra cho bất kỳ doanh nghiệp nào – thậm chí xảy ra với cả những doanh nghiệp mà tất cả các hoạt động kinh doanh của họ không liên quan gì đến bất cứ một loại ngoại tệ nào. Vậy nguồn gốc của rủi ro tỷ giá xuất phát từ đâu?

Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá bắt nguồn từ các giao dịch thương mại. Đây là loại nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá phổ biến nhất mà các doanh nghiệp gặp phải do hoặc phải trả tiền cho người cung cấp hoặc bán hàng và thu về một đồng tiền khác với đồng tiền nước mình, thông qua các giao dịch như:

Continue reading

TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI MUA VÀ SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM, CẦN BIẾT (Trích một số nội dung của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/12/2008)

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP

CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Tình hình chung:

Nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng được coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn và mặc để giúp con người có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Đối với người nước ngoài có nhu cầu vào đầu tư làm ăn, học tập và sinh sống tại Việt Nam thì vấn đề nhà ở cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của họ khi vào Việt Nam.

Hiện nay, số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc và sinh sống ngày càng nhiều thông qua nhiều con đường khác nhau. Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, với chính sách đa phương hoá, Nhà nước Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới thì nước ta đã là điểm đến của nhiều người nước ngoài, không chỉ là việc các nước mở Đại sứ quán, Lãnh sự quán để tăng cường hợp tác với Việt Nam, thúc đẩy đầu tư vào Việt Nam mà còn hợp tác trong nhiều lĩnh vực như y tế, giao dục, văn hoá, khoa học – kỹ thuật…Xu hướng này đã tạo thành bức tranh đa dạng, phong phú về tình hình người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Theo thống kê từ năm 2004 đến hết năm 2007 đã có khoảng hơn 80.000 người vào Việt Nam làm ăn, học tập và sinh sống, trong đó có khoảng gần 25.000 người vào Việt Nam làm ăn theo con đường hợp tác đầu tư, khoảng 1.600 người vào Việt Nam làm việc cho các Cơ quan đại diện nước ngoài, các Tổ chức quốc tế và hơn 54.000 người nước ngoài vào Việt Nam sinh sống và làm việc trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể thao, kinh tế. Tính đến hết năm 2007 đã có hơn 60 Đại sứ quán và hơn 30 Tổng Lãnh sự quán có trụ sở tại Việt Nam, trong số khoảng 1.600 người nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực ngoại giao tại Việt Nam thì có khoảng gần 1.400 người làm việc cho các Đại sứ quán và hơn 200 người đang làm việc trong các Lãnh sự quán. Ngoài số lượng nêu trên thì còn có khoảng hơn 30 người nước ngoài đang làm việc cho 16 Tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam (bao gồm Tổ chức của Liên Hiệp quốc như UNICEF, UNPA, UNDP…, các Tổ chức quốc tế khác như Ngân hàng thế giới WB, Ngân hàng Châu á ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF…).

Continue reading

KHÁI NIỆM CƠ BẢN về giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả của hàng hóa

DINHGIA Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

Giá trị của hàng hoágiá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiếtthời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG, GIÁ TRỊ TRAO ĐỔI VÀ GIÁ CẢ CỦA HÀNG HÓA

DINHGIA – Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

Giá trị của hàng hoágiá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiếtthời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading

NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG NGHỊ QUYẾT 1037/2006/NQ-UBTVQH11 NGÀY 27-07-2006 CỦA UBTVQH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.

THU CHINH

Ngày 27/7/2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1037/2006/ NQ-UBTVQH11 quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 01/07/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia giao dịch có yếu tố nước ngoài mà phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm, bởi vì trước đây họ là những chủ thể chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết do Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24-08-1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình..

Những quy định của Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11  là cơ sở pháp lý nhằm giải quyết các vướng mắc trong giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài còn tồn đọng cho đến nay.

Nghiên cứu Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH! thì thấy các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài được NQ điều chỉnh có 2  nội dung giao dịch thực tế phát sinh tranh chấp nhiều nhất là mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở và mua bán nhà ở.

Đối với nội dung mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở, Nghị quyết 1037 quy định về thời hạn, cách thức, hình thức thay đổi, chấm dứt giao dịch các trường hợp cụ thể như sau:

Với trường hợp bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; bên mượn, bên ở nhờ nhà ở thường trú tại Việt Nam .

Trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng.

Continue reading

TÌM HIỂU ĐIỀU 418 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – TANDTPHCM

Chương XXXVI Bộ Luật tố tụng dân sự quy định về tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự – Điều 418. Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận

“1.Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

2.Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài phải được gửi cho Tòa án Việt Nam kèm theo bản dịch ra tiếng Việt đã được công chứng chứng thực hợp pháp.”

Điều luật đã quy định rõ: “Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận..”, như vậy chỉ có các loại giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận muốn được Tòa án Việt nam công nhận thì các loại giấy tờ tài liệu đó phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Các loại giấy tờ, tài liệu do cá nhân (là người nước ngoài hoặc người ViệtNam ở nước ngoài lập) thì không cần hợp pháp hóa lãnh sự.

Ví dụ:

1. Một người mang quốc tịch Cannada kết hôn với một người Việt Namtheo quy định của pháp luật Việt Nam. Chung sống được một thời gian thì người mang quốc tịch Cannada có đơn khởi kiện ra Tòa án Việt Nam để xin ly hôn với người mang quốc tịch Việt nam (đơn khởi kiện được thực hiện bằng tiếng ViệtNam). Đơn khởi kiện do chính người có quốc tịch nước ngoài mang đến Tòa án để nộp, Tòa án đã kiểm tra đối chiếu giấy tờ tùy thân như passport và visa nhập cảnh của họ để xác định đúng là người đứng đơn khởi kiện thì Tòa án nhận đơn, đơn của họ không cần phải hợp pháp hóa lãnh sự vì trong đơn không có cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hay xác nhận gì.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3298/BTP-BTTP NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CÔNG CHỨNG ỦY QUYỀN

Kính gửi: Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại Giao

Trả lời Công văn số 1048/CV-LS-PLLS ngày 27/4/2009; Công văn số 2411/CV-LS-PLLS ngày 8/9/2009 của Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại Giao về việc công chứng ủy quyền của cơ quan đại diện Việt Nam nước ngoài, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về quy định liên quan đến công chứng ủy quyền quy định tại Điều 48 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP quy định: “Việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được uỷ quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng”, trong khi đó Luật công chứng ban hành năm 2006 không có quy định nào liên quan đến nội dung này. Điều 67 Luật công chứng về hiệu lực thi hành không quy định Nghị định số 75/2000/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hết hiệu lực thi hành.Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, thì những quy định của văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trước mắt, trong khi chưa có hướng dẫn chính thức, trong trường hợp này, do Luật công chứng không quy định các trường hợp ủy quyền nói trên phải được lập thành hợp đồng, nên theo chúng tôi, đương sự có quyền lựa chọn hình thức hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho các bên tham gia giao dịch, cơ quan chức năng nên hướng dẫn các bên lập hợp đồng ủy quyền để bảo đảm chặt chẽ, tránh rủi ro pháp lý về sau. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiến hành nghiên cứu và rà soát các quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP và sẽ có hướng dẫn thống nhất về vấn đề này.

2. Đối với việc công chứng hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Việc công chứng hợp đồng, giao dịch nói chung và công chứng hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền của cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Điều 65 Luật công chứng.

Continue reading

BỘ LUẬT HAMMURABI – BỘ LUẬT CỔ XƯA NHẤT CỦA NHÂN LOẠI

THS. NGUYỄN MINH TUẤN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nền kinh tế của Lưỡng Hà phát triển chủ yếu là kinh tế nông nghiệp. Tuy vậy, kinh tế hàng hoá phát triển, dẫn đến nhu cầu cần phải có qui định để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ dân sự. Người Lưỡng Hà phát hiện chữ viết (văn tự) từ rất sớm (giữa thiên niên kỷ thứ 4 trước CN). Tiền lệ pháp, tập quán pháp đã được sử dụng rất rộng rãi trước khi Bộ luật này ra đời.

Về mặt nguồn gốc, Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người Amôrít. Bộ luật Hammurabi được phát hiện năm 1901 của đoàn khảo cổ người Pháp, khắc trên đá bazan cao 2,25 m và dựng tại quảng trường thành phố cho nhân dân đọc mà thi hành. Bộ luật Hammurabi là Bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời kỳ cổ đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận[1]. Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị. Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. Tác giả bộ luật đã ý thức sâu sắc kết hợp thần quyền, vương quyền, và pháp quyền, khiến bộ luật trở nên được “thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng.

Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật được hiện rõ ngay từ mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật:“Vì hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp muôn dân.”

Continue reading

GIAO DỊCH BẢO CHỨNG: KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN –  Việc mua chứng khoán với khoản tiền trả trước ít hơn tổng giá trị phải bỏ ra ngay một lúc được gọi là mua theo bảo chứng (buying on margin). Thoạt đầu, do "margin" chỉ đơn thuần là cách vay tiền để mua chứng khoán, người ta đã gọi hoạt động này là vay mua. Nhưng về sau, khi bối cảnh margin ngày càng hoàn thiện, với các nghiệp vụ phức tạp và không chỉ liên quan tới tiền, thì cách hiểu và gọi đơn giản quá đã tỏ ta không còn phù hợp. Đặc biệt là trong "short sale" (bán trước), một nhánh quan trọng của nghiệp vụ margin, lại có giao dịch cần được hiểu là vay bán. Do vậy, gọi là giao dịch bảo chứng sẽ cho cách hiểu khái quát hơn.

Do quy mô về số lượng và giá trị giao dịch trên thị trường sẽ tăng mạnh thông qua tài khoản bảo chứng, người ta ví von hoạt động đầu tư được hỗ trợ bằng phương tiện tiến công này là "một nửa sôi động" của TTCK. Tại các thị trường phát triển, phương thức đầu tư bảo chứng không chỉ có bảo chứng để mua (vay để mua), mà gồm cả bảo chứng để bán (vay để bán). Tài sản vay và cho vay cũng không nhất thiết chỉ là tiền, mà còn là chứng khoán. Việc vay và cho vay được chế định và quản lý theo các nghiệp vụ đầu tư tài chính bài bản, vừa chặt chẽ, vừa theo hướng "tạo điều kiện" khá phức tạp, rủi ro được hạn chế đến mức tối đa… Chứ không đơn giản là thủ tục vay nợ thế chấp thông thường giữa chủ nợ và con nợ (như giữa ngân hàng và NĐT theo "Chỉ thị 03" ở ta hồi năm 2007). Tuy vậy, đối với người đầu tư, việc sử dụng tài khoản bảo chứng lại khá đơn giản và tiện lợi.

Các mối quan hệ trong bối cảnh margin được xếp đặt hợp lý và có thể chia thành ba đôi chính: giữa NĐT với CTCK, giữa CTCK với ngân hàng và giữa các CTCK với nhau hoặc với tổ chức tài chính khác (cách vay trực tiếp giữa NĐT với ngân hàng là nghiệp vụ tín dụng thế chấp, chỉ có một đôi). Các đôi quan hệ này gắn kết đối ứng về quyền lợi và nghĩa vụ với nhau theo nguyên tắc phân công chuyên nghiệp. Rủi ro như vậy được chẻ nhỏ, được ngắt ra từng đoạn nhằm hạn chế sự lây lan hay đổ vỡ dây chuyền. Bởi, ngân hàng tuy giỏi kinh doanh tiền, nhưng không thể sâu hơn CTCK về mặt chứng khoán và ngược lại… Hành lang luật lệ, các quy chuẩn chuyên ngành, phương pháp tính toán, yêu cầu tác nghiệp đồng bộ trong hệ thống… là các yếu tố hạ tầng khác không kém phần quyết định, giúp cho lĩnh vực hoạt động khá chuyên sâu này được vận hành một cách trơn tru và hiệu quả. Hình thức bảo chứng sở dĩ thuyết phục và hấp dẫn là do nó có cái móng được kết cấu chặt (theo cách vừa nói) trên cái nền biến động – hay sinh động – của hoạt động đầu tư tài chính.

Continue reading

SUY NGẪM 39

1442115543_c8f80dba4a Con người là tất cả, chân lý đó luôn đúng. Nhưng nó sẽ trở thành vật cản cho sự phát triển khi người ta đánh giá sai về con người và sử dụng con người.

Dự thảo “Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền thành phố Hà Nội” đưa ra mục tiêu: Đến năm 2020, Hà Nội phấn đấu có 100% cán bộ diện Thành ủy quản lý có trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ diện UBND thành phố quản lý có trình độ trên đại học, trong đó một nửa cần đạt trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn có trình độ đại học, trong đó 50% trên đại học.

Để giải thích cho mục tiêu trên, một thành viên ban soạn thảo Chiến lược nói trên cho rằng: “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”.

Tiến sĩ là  học vị dành cho giới giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đành rằng, nhiều tiến sĩ đã làm công tác quản lý và làm tốt, nhưng không thể đồng nghĩa làm công tác quản lý phải có học vị tiến sĩ.

Thực tế, giáo dục là ngành có nhiều tiến sĩ nhất và là nơi đào tạo tiến sĩ nhưng hiện nay là một trong các ngành cần có sự đột phá nhất về tư duy.

Như TS. Hồ Tú Bảo viết trên tuanvietnamnet ngày 20/09/2009: “Nếu chỉ là ý kiến của một cá nhân thì cũng không có gì phải bàn, nhưng nếu đã thành chiến lược về cán bộ chính quyền của thành phố thì có những điều cần trao đổi”. Chẳng lẽ Hà Nội lại muốn sử dụng “liệu pháp sốc” để có tên trên bản đồ nhiều hơn chăng? Thiết nghĩ không cần thiết như vậy, vì sau một loạt các sự cố ngập lụt, chèn bê tông vào những khoảng cây xanh hiếm hoi, hiệu quả trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa, cấm bán hàng rong  và mới đây lâm tặc chặt cây giữa lòng thành phố… người ta cần Hà Nội có các quyết sách thực chất vì sự phát triển bền vững của thành phố hơn là tư duy lãng mạn, bay bổng ở tầng thinh không.

CIVILLAWINFOR

(Các số liệu được Civillawinfor tổng hợp tử tuanvietnam.net)

Xem các số khác