Chính sách đất đai ở Việt Nam TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NGUYỄN TẤN PHÁT– Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Vấn đề ruộng đất thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. “Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững, quản trị quốc gia hiệu quả, phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo”(1)

I. Tổng quan chính sách đất đai ở Việt Nam trong 25 năm (1981 – 2005)

Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay.

Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước. Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã hội khủng hoảng nghiêm trọng.

Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm 1981 của Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” với mục đích khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo ra sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông nghiệp. Sau kết quả khả quan của “Khoán 100” năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có bước đột phá quan trọng khi lần đầu tiên thừa nhận các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ.

Luật Đất đai ra đời năm 1993 nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban hành, đồng thời, qui định và điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội theo hướng dài hạn.

Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NGUYỄN TẤN PHÁT- Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Vấn đề ruộng đất thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. “Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững, quản trị quốc gia hiệu quả, phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo”(1)

I. Tổng quan chính sách đất đai ở Việt Nam trong 25 năm (1981 – 2005)

Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay.

Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước. Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã hội khủng hoảng nghiêm trọng.

Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm 1981 của Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” với mục đích khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo ra sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông nghiệp. Sau kết quả khả quan của “Khoán 100” năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có bước đột phá quan trọng khi lần đầu tiên thừa nhận các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ.

Luật Đất đai ra đời năm 1993 nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban hành, đồng thời, qui định và điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội theo hướng dài hạn.

Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

Continue reading

NHỮNG RỦI RO TỪ VIỆC NHẬN THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM

LÊ DUY KHÁNH

Bất động sản là gì?

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, Bất động sản (BĐS) là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

Tại sao các ngân hàng xem BĐS là ưu tiên hàng đầu khi nhận tài sản thế chấp?

Về mặt lý thuyết, khi quyết định cho vay thì tình hình hoạt động kinh doanh tạo ra nguồn trả nợ của khách hàng mới là điều kiện quan trọng nhất. Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều ưu tiên cấp tín dụng có tài sản thế chấp, xem đó như là chiếc phao cuối cùng để thu hồi khoản vay trong trường hợp xảy ra khả năng vỡ nợ.

Tại hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch đảm bảo nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tín dụng tại Việt Nam” ngày 27/6/2007, Công ty Tài chính Quốc tế và Hiệp hội Ngân hàng đã công bố khảo sát về tình hình hoạt động cho vay cho thấy có đến 93% các ngân hàng muốn nhận BĐS làm tài sản thế chấp cho các khoản vay thương mại. Còn theo ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì năm 2008, dư nợ BĐS ở mức hơn 9% tổng dư nợ, song giá trị BĐS thế chấp lên đến 50% tổng tài sản ngân hàng, tức bằng GDP của Việt Nam. Những số liệu này cho thấy, hệ thống ngân hàng vẫn xem BĐS là ưu tiên hàng đầu khi nhận tài sản thế chấp.

Rủi ro của hoạt động tín dụng chủ yếu xuất phát từ vấn đề thông tin bất cân xứng với hai hành vi phổ biến là lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.

Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi cho vay, do ít thông tin mà ngân hàng có thể sai lầm trong việc lựa chọn khách hàng và dẫn đến những rủi ro trong thanh toán sau này. Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi cho vay, cũng vì ít thông tin và khả năng kiểm soát quá trình sử dụng vốn, tình hình hoạt động kinh doanh, nguồn trả nợ… gặp khó khăn mà một lần nữa, ngân hàng lại gặp phải những khó khăn trong việc thu hồi nợ. Chính vì vậy mà khi cho vay, vấn đề đầu tiên các ngân hàng xem xét là tài sản và giá trị tài sản thế chấp.

Continue reading

DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN GIA ĐÌNH ĐỘI NHẦM MŨ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN

AGROINFOR – Hiện nay phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong nông nghiệp, nông thôn là yêu cầu cấp bách để có thể phát triển nền nông nghiệp hàng hóa cạnh tranh, hiện đại. Tuy nhiên, câu hỏi là làm thế nào để có thể khuyến khích và hỗ trợ các DNNVV này phát triển trong thực tế? Nhóm nghiên cứu của bộ môn Thể chế nông thôn là đầu mối thực hiện các nghiên cứu khác nhau để trả lời câu hỏi này.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số phát hiện của nhóm nghiên cứu liên quan đến tình hình phát triển của hai loại hình doanh nghiệp (DN) là Doanh nghiệp tư nhân gia đình và các Công ty TNHH ở nông thôn và những vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với các loại hình DN này. Đây cũng là một trong những kết quả của đề tài nghiên cứu nhỏ được tiến hành ở Hà tây và Vĩnh Phúc. Kết quả này chỉ rõ thêm những lí do và nguyên nhân tại sao các DN ở nông thôn hiện nay khó có khả năng tích lũy vốn và mở rộng sản xuất. Nhiều DN chỉ sau thời gian đăng kí không lâu các hoạt động đã đi vào suy thoái.

1. Chức năng đã được phân định của mỗi loại hình doanh nghiệp

Không phải ngẫu nhiên mà trong các luật (doanh nghiệp, dân sự và kinh tế…), cả luật pháp quốc tế và trong nước, người ta lại phân loại doanh nghiệp thành nhiều loại[1]: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH), Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (DNTN)…Trong đó CTTNHH và DNTN là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất, chiếm đến 70-80% tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Việc phân biệt các loại hình doanh nghiệp nói chung và sự phân biệt giữa CTTNHH và DNTN nói riêng không chỉ giúp cho các doanh nghiệp định hướng hoạt động có hiệu quả mà còn tạo điều kiện để Chính phủ có thể quản lí và có các giải pháp hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp. Một trong những cơ sở quan trọng để phân biệt DNTN và CTTNHH chính là sở hữu vốn. Từ sở hữu vốn này mà quy định nên hình thức tổ chức doanh nghiệp, tư cách, nghĩa vụ pháp lí của doanh nghiệp, quy định trách nhiệm quản lí, hỗ trợ và bảo hộ của Chính phủ đối với doanh nghiệp, chủ đầu tư.

Continue reading

THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ KẾT CÁU CHẾ ĐỘ SỞ HỮU Ở TRUNG QUỐC

CRIONLINE

1. Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

30 năm trước sau khi nước Trung Hoa mới ra đời năm 1949, Chính phủ TQ luôn luôn thi hành thể chế kinh tế kế hoạch, do cơ quan chuyên trách Nhà nước quy hoạch và ấn định mục tiêu phát triển kinh tế trong mọi lĩnh vực. Thể chế này khiến nền kinh tế TQ được phát triển ổn định theo mục tiêu và kế hoạch, song cũng đã ràng buộc nghiêm trọng đến sức sống cũng như nhịp độ phát triển của bản thân.

Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước, TQ bắt đầu cải cách thể chế kinh tế kế hoạch. Nam 1978, TQ thi hành chế độ khoán sản lượng gia đình tại vùng nông thôn; năm 1984, cuộc cải cách thể chế kinh tế từ nông thôn chuyển dịch tới thành thị; năm 1992, TQ đã xác định phương hướng cải cách nhằm thiết lập thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10 năm 2003, TQ đã nêu rõ hơn nữa mục tiêu và nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đó là: thể theo yêu cầu trù tính chung về phát triển giữa thành thị và nông thôn, phát triển giữa khu vực với nhau, phát triển giữa kinh tế và xã hội,  phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên cũng như giữa phát triển trong nước và mở cửa đối ngoại, phát huy ở mức độ lớn hơn vai trò cơ bản của thị trường trong khi chi phối tài nguyên, tăng cường sức sống và cạnh tranh doanh nghiệp, kiện toàn kiểm soát vĩ mô Nhà nước, hoàn thiện chức năng quản lý xã hội và phục vụ công cộng của chính quyền, đảm bảo thể chế mạnh mẽ nhằm xây dựng toàn diện xã hội khá giả. Nhiệm vụ chủ yếu là: hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản lấy chế độ công hữu làm chủ thể và nhiều loại hình sở hữu kinh tế cùng phát triển; thiết lập thể chế có lợi cho từng bước thay đổi kết cấu kinh tế nhị nguyên giữa thành thị và nông thôn; hình thành cơ chế xúc tiến phát triển nhịp nhàng kinh tế khu vực; thiết lập hệ thống thị trường hiện đại mở cửa thống nhất và cạnh tranh có nền nếp; hoàn thiện hệ thống kiểm soát vĩ mô, thể chế quản lý hành chính và chế độ pháp luật kinh tế; kiện toàn chế độ việc làm, phân phối thu nhập và đảm bảo xã hội; thiết lập cơ chế xúc tiến phát triển bền vững kinh tế và xã hội.

Continue reading

SÁU NĂM THI HÀNH PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: NHIỀU BẤT CẬP

THU HẰNG

Sau 6 năm thi hành Pháp lệnh trọng tài thương mại, đến nay theo thống kê của Hội Luật gia Việt Nam, tổng số trọng tài viên của các trung tâm trọng tài là 207 người, trong đó Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đã có đến 118 trọng tài viên. Theo khảo sát của Bộ Tư pháp thì có đến 30% số trọng tài viên được hỏi cho biết họ chưa bao giờ tham gia giải quyết một vụ tranh chấp thương mại nào, hơn 11% khác trả lời họ từng tham gia một vụ tranh chấp, số còn lại chủ yếu được tham gia từ 2 đến 5 vụ.

Trọng tài viên ít việc do việc sử dụng trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam thời gian qua là rất ít. Ngoại trừ Trung tâm trọng tài quốc tế VN là tổ chức có số vụ tranh chấp được thụ lý nhiều nhất, tuy nhiên cũng chỉ khoảng 20 vụ/năm (tức khoảng 0,5 vụ /trọng tài viên/năm). Nhiều trung tâm trọng tài từ ngày thành lập tới nay chưa giải quyết một vụ tranh chấp nào. Trong khi đó, thực tế xét xử của ngành tòa án thì ngày càng quá tải, đặc biệt tại một số thành phố lớn.

Có nhiều nguyên nhân trọng tài ít được sử dụng trong giải quyết tranh chấp. Theo ông Phạm Quốc Anh, chủ tịch Hội Luật gia VN thì 3 lý do được nói đến nhiều nhất là hiệu lực thi hành quyết định trọng tài thấp; nhiều người chưa tin tưởng và chưa biết đến phương thức này. Tuy nhiên, trọng tài ít việc cũng vì một nguyên nhân khác, đó là những bất cập trong cơ chế pháp luật hiện hành.

Phạm vi hẹp, chủ thể ít

Thuật ngữ “thương mại” lần đầu tiên được giải thích tương đối đầy đủ tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều cách hiểu về khái niệm dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài. Đó là những tranh chấp nội bộ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu có được giải quyết bằng trọng tài không? Có quan điểm cho rằng các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài, tuy nhiên quan điểm khác lại cho rằng nó thuộc thẩm quyền của Tòa án. Do có nhiều cách hiểu nên các tranh chấp đưa ra trọng tài không được chắc chắn và nhiều bất an do các quyết định của trọng tài có nguy cơ không được tòa án công nhận và cho thi hành.

Continue reading

CON NGƯỜI – HIỆU QUẢ KINH TẾ

TS. NGUYỄN CÔNG PHÚ – Tổng giám đốc APAVE Việt Nam & Đông Nam Á, Giám đốc Á Châu – APAVE SUDEUROPE

Một trong những văn hào thấm nhuần tư tưởng phương Đông André Malraux đã nói: “Văn hóa là những gì còn lại, khi tất cả đã mất đi”. Xin được dùng câu nói bất hủ đó làm lời dẫn đầu cho bài viết này.

Văn hóa là giá trị tinh thần cốt lõi của một dân tộc, một đất nước nói riêng và cả nhân loại nói chung, được hun đúc từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Giá trị tinh thần đó, khi được đưa ra làm kim chỉ nam, không có tính bảo thủ, hoài cổ, thủ cựu.

Lòng nhân ái, yêu nước, yêu thương đồng loại là những giá trị tinh thần “hội tụ” khi con người biết sử dụng khối óc, trái tim để khẳng định thân phận con người. Thông qua những phương sách, công cụ, nghi thức, các giá trị tinh thần cốt lõi đó được đưa vào cuộc sống, phục vụ con người, xã hội. Sự tiến hóa này là điều có thật khi con người được xem là chủ thể trung tâm.

Nói như thế để dẫn đến một kết luận cơ bản mà gần một năm qua, các học giả về quản trị doanh nghiệp đã đúc kết về những giá trị cốt lõi của học thuyết mới về quản trị doanh nghiệp: trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức.

Học thuyết quản trị mà Henri Fayol, Lyndall Urwick, Luther Gullick, Max Weber… xây dựng từ đầu thế kỷ 20, vẫn sẽ tồn tại để giải quyết các vấn đề hiệu quả và độ tin cậy về hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp lớn. Học thuyết và mô hình quản trị này (xem thêm bảng tóm tắt ở cuối bài) đã thật sự đem lại một sự phồn vinh kinh tế trong thế kỷ 20 và cực thịnh trong hai thập niên cuối cùng (1980-1990).

Continue reading