VAI TRÒ CỦA THƯƠNG HIỆU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TS. BÙI HỮU ĐẠO

Thương hiệu là một trong các nhân tố quan trọng góp phần duy trì, mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại, góp phần chống cạnh tranh không lành mạnh. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, các doanh nghiệp đứng trước việc cạnh tranh gay gắt, nhất là khi có nhiều hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Vì vậy, điều hết sức cần thiết là các doanh nghiệp phải xây dựng thương hiệu cho hàng hóa của mình.

Thương hiệu là gì?

Hiện nay, thuật ngữ thương hiệu đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Tuy hiện đang tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau xoay quanh thuật ngữ này. Trong văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ thương hiệu mà chỉ có các thuật ngữ liên quan khác trong đó có nhiều quan điểm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp… Như vậy, có thế hiểu thương hiệu một cách tương đối như sau:

Thương hiệu, trước hết là một thuật ngữ dùng nhiều trong marketing; là hình tượng về một cơ sở sản xuất, kinh doanh (gọi tắt là doanh nghiệp) hoặc hình tượng về một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dich vụ; là tập hợp các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp khác. Các dấu hiệu có thể là các chữ cái, con số, hình vẽ, hình tượng, sự thể hiện màu sắc, âm thanh… hoặc sự kết hợp các yếu tố đó. Nói đến thương hiệu không chỉ nhìn nhận và xem xét trên góc độ pháp lý của thuật ngữ này mà quan trọng hơn, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam cần nhìn nhận nó dưới góc độ quản trị doanh nghiệp và marketing. Như vậy thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng. Trước hết nó là hình tượng về hàng hóa (sản phẩm) hoặc doanh nghiệp. Tuy vậy nếu chỉ là hình tượng với cái tên, biểu trưng thôi thì chưa đủ; đằng sau nó cần phải là chất lượng hàng hóa, dịch vụ, cách ứng xử của doanh nghiệp với khách hàng, cộng đồng, những hiệu quả và tiện ích đích thực cho người tiêu dùng do hàng hóa và dịch vụ mà nó mang lại…thì thương hiệu đó mới đi sâu vào tâm trí khách hàng.

Continue reading

VĂN KIỆN THỎA ƯỚC MADRID VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

(Ban hành ngày 14.4.1891, được sửa đổi tại Brussel 14.12.1900, tại Washington 2.6.1911, tại La Hay 6.11.1925, tại London ngày 2.6.1934, tại Nice 15.6.1957 và tại Stockholm 14.7.1067, và thay đổi ngày 2.10.1979)

Điều 1. Thành lập Liên hiệp đặc biệt, nộp đơn đăng ký tại Văn phòng quốc tế, Xác định nước xuất xứ

1) Các nước mà Thoả ước này áp dụng thành lập Liên hiệp đặc biệt về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá.

2) Công dân của tất cả các nước thành viên có thể đạt được sự bảo hộ tại các nước khác cho nhãn hiệu của mình đối với các hàng hoá và dịch vụ, đã được đăng ký tại nước xuất xứ , bằng việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đó tại Văn phòng quốc tế về Sở hữu trí tuệ ( sau đây gọi tắt là " Văn phòng quốc tế ") được quy định tại Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (sau đây gọi là " Tổ chức") thông qua sự trung gian của Cơ quan tại nước xuất xứ.

3) Nước được coi là nước xuất xứ là nước thành viên Liên hiệp đặc biệt mà người nộp đơn có cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh thực thụ và nghiêm túc , hoặc nếu không có các cơ sở đó trong phạm vi Liên hiệp đặc biệt thì nước thành viên của Liên hiệp đặc biệt mà người nộp đơn có chỗ ở cố định , hoặc nếu không có chỗ ở cố định trong phạm vi Liên hiệp đặc biệt mà là công dân của một nước thành viên của Liên hiệp, thì nước thành viên mà người nộp đơn là công dân .

Điều 2. áp dụng Điều 3 của Công ước Pari " đối xử với một số người như là công dân của nước là thành viên của Liên hiệp đặc biệt".

Continue reading

THUẾ NHÀ – ĐẤT CHO VIỆT NAM CẦN XÂY DỰNG THEO HƯỚNG NÀO?

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ – Chủ nhiệm Bộ môn Địa chính – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đổi mới hệ thống thuế có liên quan đến đất đai là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đưa ra chủ trương đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai, chuyển thuế chuyển quyền sử dụng đất thành thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, xây dựng thuế sử dụng đất thống nhất.

Đổi mới hệ thống thuế có liên quan đến đất đai là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đưa ra chủ trương đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai, chuyển thuế chuyển quyền sử dụng đất thành thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, xây dựng thuế sử dụng đất thống nhất.

Tháng 11/2003, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai mới (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004). Tháng 6/2003, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó có thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền (có hiệu lực từ ngày 01/01/2004). Tháng 11/2007, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân có nội dung về thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đối với hộ gia đình và cá nhân (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009).

Từ 2009 tới nay, Bộ Tài chính đã có nhiều nỗ lực xây dựng thuế sử dụng đất, thuế bất động sản, thuế tài sản, v.v. và trong khoảng 1 năm trở lại đây, Dự thảo Luật thuế nhà đất đã được đưa ra lấy ý kiến. Nội dung chủ yếu của Dự thảo này tập trung vào đổi mới Pháp lệnh về thuế nhà đất đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua năm 1992 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1994. Phạm vi điều chỉnh của thuế nhà đất là tất cả các loại đất phi nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh và mục đích để ở, tất cả các loại nhà gắn liền với đất là đúng với lý luận và nhu cầu thực tiễn hiện nay. Vấn đề còn lại là các nội dung chi tiết: một là nguyên tắc tính thuế (thuế áp trên thu nhập từ sử dụng nhà – đất, trên diện tích nhà – đất hay trên giá trị nhà – đất), hạn mức tính thuế và mức lũy tiến (hạn mức theo thu nhập từ sử dụng nhà – đất, theo diện tích hay theo giá trị), và ba là thuế suất cho từng trường hợp cụ thể. Những chi tiết này càng phù hợp với mục tiêu của sắc thuế, càng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở nước ta thì hiệu quả và hiệu lực của sắc thuế càng cao.

Continue reading

MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP

THANH TRÚC

Quy luật trong kinh doanh rất dễ hiểu và đơn giản: “phát triển hay là chết”. Các công ty đang phát triển sẽ lấy đi thị phần từ các đối thủ cạnh tranh, tạo ra lợi nhuận kinh tế và mang lại thu nhập cho các cổ đông. Ngược lại, những công ty không phát triển thường bị phá sản. M&A đóng một vai trò quan trọng đối với cả 2 chiều của quy luật này, thúc đẩy các công ty mạnh phát triển nhanh hơn. Còn chắc chắn các công ty yếu kém sẽ nhanh chóng bị loại khỏi cuộc chơi.

1+1 >2

Các thương vụ M&A đều dựa trên một nguyên tắc cơ bản là giá trị tổng hợp sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng rẽ. Giá trị tăng thêm này, thường được nhắc đến bằng khái niệm “giá trị cộng hưởng” – là một yếu tố rất quan trọng dẫn đến thành công của một thương vụ. Nó được coi như một thành tố màu nhiệm thúc đẩy bên mua bỏ ra hàng triệu USD chi phí phụ trội trong thương vụ M&A.

Giá trị cộng hưởng có được nhờ sự kết hợp hợp lý sau M&A, để thống nhất, tập hợp nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực và thương hiệu, quản lý chi phí hiệu quả hơn, tạo lợi nhuận và giá trị cổ đông lớn hơn, lợi thế kinh tế nhờ quy mô, khả năng làm giá tốt hơn nhờ giảm bớt cạnh tranh và nâng cao thị phần, thâm nhập một ngành mới… Tất nhiên, sự cộng hưởng sẽ không tự đến nếu không có M&A.

Trong thực tế không ít trường hợp, khi hai công ty tiến hành sáp nhập lại có hiệu ứng ngược lại, đó là 1+1<2. Do đó, việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng. Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp. Đây cũng là sự thật của “một nửa sự thật ít nói” về M&A.

Continue reading

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở EU

SAGA.VN – ĐỖ MINH TUẤN (Asia Law)

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã phải va chạm với các vụ kiện chống bán phá giáở EU. Để giúp các doanh nghiệp có những hiểu biết ban đầu để có định hướng khi vướng phải vụ việc bán chống bán phá giá, chúng tôi xin chia sẻ một vài hiểu biết cơ bản về các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thủ tục giải quyết vụ việc chống bán phá giá ở EU.

Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc chống bán phá giá của EU

Vụ việc chống bán phá giá được khởi xướng bằng đơn kiện của thể nhân, pháp nhân hoặc hiệp hội hành động nhân danh ngành sản xuất nội địa của EU và được giải quyết thông qua các thủ tục luật định bởi các cơ quan có thẩm quyền của EU.

1. Ủy ban Châu Âu (European Commission):

Ủy ban Châu Âu (UBCA) là cơ quan tiếp nhận đơn kiện và có các thẩm quyền chính sau:

-    Quyết định khởi xướng điều tra; chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều tra chống bán phá giá bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá và điều tra thiệt hại; Tổ chức phiên họp điều trần để nguyên đơn và bị đơn đối thoại, tranh luận trực tiếp với nhau;
-    Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
-    Chấp nhận cam kết về giá;
-    Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nếu có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá khi việc điều tra chưa kết thúc; quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức khi có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá và việc điều tra đã kết thúc;
-    Quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ việc;
-    Đề xuất Hội đồng Châu Âu ra quyết định áp dụng biện pháp chính thức (áp đặt thuế chống bán phá giá);
-    Quyết định hoãn biện pháp chống bán phá giá vì lợi ích cộng đồng;
-    Quyết định bắt đầu và tiến hành “rà soát hoàng hôn” hoặc “rà soát lại”

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN: THUÊ KHO BÃI RỒI “Ở LỲ”

HOÀNG YẾN

Nghĩ rằng sẽ được thuê tiếp nên dù không được tái ký hợp đồng, bên thuê vẫn nại ra đủ thứ lý do để từ chối giao trả mặt bằng(?).

TAND quận 11 (TP.HCM) vừa xử một vụ tranh chấp hợp đồng cho thuê kho bãi tưởng đơn giản nhưng lại rắc rối bởi bên thuê nại ra đủ thứ lý do để nhất quyết không chịu dọn đi dù thời hạn thuê theo hợp đồng đã hết từ lâu.

Gian nan đòi kho bãi

Đầu năm nay, Tổng Công ty Địa ốc S. đã khởi kiện ra TAND quận 11, tha thiết nhờ tòa buộc Công ty T. (100% vốn nước ngoài) phải giao trả lại mặt bằng vì đòi mãi mà không được.

Theo đơn kiện, đầu năm 2007, Tổng Công ty S. cho Công ty T. thuê kho bãi ở khu cư xá Lữ Gia với giá hơn 8,5 triệu đồng/tháng. Thời hạn thực hiện hợp đồng là một năm, tức đến tháng 12-2007 Công ty T. phải giao trả kho bãi. Đến ngày gần hết hạn hợp đồng, Tổng Công ty S. thông báo việc chấm dứt, thu hồi mặt bằng thì Công ty T. đề nghị gia hạn. Tổng Công ty S. không đồng ý và đôn đốc Công ty T. giao trả mặt bằng nhưng họ nhất quyết không đi. Vì thế, Tổng Công ty S. phải đâm đơn kiện đối tác ra tòa để lấy lại tài sản và đòi tiền thuê kho bãi từ tháng 8-2009 cho đến khi phía bị đơn dọn đi.

Trình bày với tòa, Công ty T. thừa nhận có thuê kho bãi của Tổng Công ty S. làm văn phòng giao dịch từ năm 2006. Tuy hợp đồng được ký hằng năm nhưng Tổng Công ty S. hứa hẹn sẽ cho thuê dài hạn bằng việc hết hạn thì ký lại. Hợp đồng cuối năm 2007 chưa được ký lại làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của công ty nên công ty đã cố gắng thương lượng để tiếp tục được thuê. Tìm hiểu thực chất lý do của việc chấm dứt hợp đồng, Tổng Công ty S. chỉ cho biết là phải thu hồi để triển khai thực hiện dự án đầu tư nhưng lại không nêu rõ tính chất, quy mô, kế hoạch… Do đó, Công ty T. nghi ngờ Tổng Công ty S. lấy lại mặt bằng cho doanh nghiệp khác thuê.

Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NGOẠI NHẬP: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI

THANH BÌNH

Canada

Thuê lao động nước ngoài có thể là một phần thiết yếu trong chiến lược kinh doanh của một công ty ở Canada. Lao động nước ngoài có thể lấp đầy những thiếu hụt lao động và mang những kỹ năng cũng như hiểu biết mới để giúp phát triển nền kinh tế nước này.

Tuy nhiên, trong hầu hết mọi trường hợp, các lao động nước ngoài bắt buộc phải có giấy phép lao động để làm việc hợp pháp tại Canada. Khi thuê một người nước ngoài làm việc ở Canada, người chủ thuê nhân công phải nộp đơn lên Trung tâm Dịch vụ Canada nêu được công việc cần thuê là chính đáng; bù lấp được sự thiếu hụt lao động ở Canada hoặc việc thuê người nước ngoài làm việc sẽ trực tiếp tạo ra những cơ hội việc làm mới hay giúp duy trì những việc làm cho người Canada. Người lao động nước ngoài đó sẽ truyền những kỹ năng mới và hiểu biết cho người Canada…

Sau khi đã xét đơn và thấy các điều kiện nêu ra đều hợp lệ, Trung tâm Dịch vụ Canada phê chuẩn và có thư thông báo đến người lao động nước ngoài để người lao động này nộp đơn xin giấy phép lao động của Bộ Di trú và Quốc tịch Canada (CIC). Sau đó, CIC sẽ quyết định liệu người lao động nước ngoài có được phép làm việc và cư trú tạm thời ở Canada hay không.

Singapore

Theo khảo sát của Hãng tư vấn Gallup, Singapore là nơi hấp dẫn lao động nước ngoài số 1 trong 29 nền kinh tế có dân số dưới 20 triệu người. Ở đất nước 4 triệu dân này có đến gần 1 triệu người lao động nước ngoài. Người lao động nước ngoài tạo ra tới 41% GDP cho Singapore. Vì vậy, Cựu Thủ tướng Goh Chok Tong xem việc thu hút nhân tài nước ngoài là một vấn đề sống còn, quyết định khả năng cạnh tranh kinh tế của Singapore. Ông Lý Quang Diệu còn cho rằng 20 năm nữa, thậm chí nếu có 5 thành viên nội các chính phủ không phải là người sinh ra từ mảnh đất này thì cũng là điều tự nhiên. Cần nhớ nội các đầu tiên gồm 10 thành viên của Chính phủ Singapore chỉ có hai người bản địa.

Continue reading

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ NHỮNG GÓC KHUẤT

HUỲNH THẾ DU – Giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam

Cách đây một năm, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhiều người kỳ vọng rằng hệ thống tài chính sẽ có cơ hội đột phá để bước lên một tầm cao mới.

Sự sôi động của thị trường chứng khoán, sự mở rộng của các ngân hàng, các công ty chứng khoán… cho thấy dường như điều dự đoán đang xảy ra. Tuy nhiên, nếu nhìn chi tiết hơn những thay đổi liên quan đến bốn thành tố cơ bản của hệ thống tài chính gồm: các thị trường tài chính, các tổ chức tài chính,các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính, nhất là hạ tầng mềm, có thể thấy được nhiều góc khuất của bức tranh.

Thị trường tài chính tăng trưởng đột biến về lượng

Đối với thị trường cổ phiếu, nếu không có gì thay đổi, kết thúc năm 2007, giá trị thị trường của gần 250 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch sẽ vào khoảng 470.000 tỉ đồng, gấp hơn hai lần năm 2006 và bằng 41% GDP.

Nếu tính thêm Vietcombank với giá cổ phiếu bằng mức giá khởi điểm khi IPO, cộng với Bảo Việt và Công ty Tài chính Dầu khí, những doanh nghiệp sẽ niêm yết cổ phiếu trong một tương lai gần, sẽ được con số gấp ba lần năm 2006 và bằng 60% GDP, cao hơn mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010.

Ở khu vực ngân hàng, tín dụng cũng có sự đột biến với tốc độ tăng trưởng có thể lên đến 40%. Một lượng tiền gần 300.000 tỉ đồng được đưa vào nền kinh tế, cao hơn rất nhiều nguồn vốn được cung ứng qua kênh chứng khoán và trở thành năm các tổ chức tín dụng cho vay nhiều nhất từ trước đến nay để đưa tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế xấp xỉ 1 triệu tỉ đồng, bằng 90% GDP.

Trên thị trường trái phiếu, sự khởi sắc của những phiên giao dịch đầu năm không giúp thị trường ấm lên khi mà tình trạng ế hàng đã liên tục xảy ra ở giai đoạn cuối năm và nhiều tổ chức phát hành phải trì hoãn kế hoạch của mình. Thêm vào đó, 2007 có lẽ lại là một năm không thành công đối với ngành bảo hiểm.

Continue reading

CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 6 – MODUL1: Nội dung quyền sở hữu

Những câu hỏi thuộc vấn đề này chỉ mang tính chất cá nhân không mang tính chất đại diện chuyên môn của bất kỳ tổ chức, cơ sở đào tạo nào.

Các bạn có thể tham khảo cho học tập và trao đổi kiến thức. Để đảm bảo khách quan, việc trích dẫn lại đề nghị ghi rõ nguồn: thongtinphapluatdansu.wordpress.com

Số lượng và nội dung các câu hỏi sẽ được Civillawinfor chỉnh sửa, bổ sung và cập nhật

CÂU HỎI TỰ LUẬN

  1. Khái niệm và đặc điểm của sở hữu;
  2. Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu;
  3. Khái niệm và đặc điểm của quyền chiếm hữu;
  4. Khái niệm và đặc điểm của quyền sử dụng;
  5. Khái nịêm và đặc điểm của quyền định đoạt;
  6. Xác định các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật, Ý nghĩa của nó trong thực tiễn và trong áp dung luật dân sự;
  7. Xác định các trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, Ý nghĩa của nó trong thực tiễn và trong áp dung luật dân sự;
  8. Phân biệt giữa chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp không ngay tình. Vận dụng để giải quyết các vụ việc cụ thể;
  9. Các trường hợp hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu. Vận dụng để giải quyết vụ việc cụ thể;
  10. Xác định các trường hợp quyền chiếm hữu thuộc về người không phải là chủ sở hữu. Vận dụng để giải quyết một vụ việc cụ thể;
  11. Xác định các trường hợp quyền sử dụng thuộc về người không phải là chủ sở hữu. Vận dụng để giải quyết một vụ việc cụ thể;
  12. Xác định các trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng người chiếm hữu không phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu;
  13. Xác định các trường hợp thực hiện quyền sở hữu phải thông qua hành vi của chủ thể khác mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu;
  14. Xác định các trường hợp một chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản nhưng không có quyền định đoạt. Vận dụng vào giải quyết một vụ việc cụ thể;
  15. Hãy chứng minh chế độ chính trị, kinh tế, xã hội quyết định nội dung quyền sở hữu của chủ thể dân sự;
  16. Xác định các trường hợp chủ sở hữu khi thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc cho phép;
  17. Hãy chứng minh chủ sở hữu có thể chuyển quyền sở hữu của mình cho chủ thể khác thông qua giao dịch. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch và áp dụng luật dân sự;
  18. Hãy xác định rõ quan hệ sở hữu là quan hệ vật quyền hay quan hệ trái quyền;
  19. Hãy xác định các trường hợp chủ thể bị hạn chế quyền sở hữu;
  20. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của một nhà đầu tư vốn vào một tổ chức kinh tế;
  21. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của hộ gia đình và thành viên của hộ gia đình đối với tài sản của hộ;
  22. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của cá nhân đối với tài sản của họ;
  23. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của pháp nhân đối với tài sản của pháp nhân đó;
  24. Xác định các trường hợp người không phải là chủ sở hữu có quyền chiếm hữu tài sản mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu;
  25. Xác định các trường hợp quyền của chủ sở hữu bị hạn chế do quyết định hoặc bản án có hiệu lực của Toà án;
  26. Hãy chứng minh chủ sở hữu là cá nhân chỉ được trực tiếp thực hiện quyền sở hữu khi đạt độ tuổi nhất định.

KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

  1. Chủ sở hữu là người thụ hưởng quyền từ tài sản mà không phải thực hiện nghĩa vụ;

  2. Quyền sở hữu chấm dứt khi chủ sở hữu chết;

  3. Quyền chiếm hữu chỉ thuộc quyền của người không phải là chủ sở hữu khi chính được chủ sở uỷ quyền hoặc chuyển quyền thông qua giao dịch hợp pháp;

  4. Khi chuyển giao quyền sử dụng tài sản thì đương nhiên phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản đó;

  5. Quyền định đoạt phải do chính chủ sở hữu thực hiện;

  6. Quyền thuộc về chủ sở hữu, nhưng việc thực hiện quyền có thể thực hiện thông qua chủ thể khác;

  7. Quyền của chủ sở hữu là quyền năng do luật định;

  8. Quan hệ sở hữu luôn là quan hệ tuyệt đối;

  9. Người không có quyền chiếm hữu một tài sản là người không có quyền sử dụng tài sản đó;

  10. Quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu phát sinh cùng thời điểm;

  11. Quyền của chủ sở hữu chỉ được xác lập khi chủ sở hữu có đủ năng lực thực hiện các quyền năng đó;

  12. Quan hệ sở hữu là quan hệ vật quyền;

  13. Quan hệ sở hữu là quan hệ vật quyền trừ khi chủ sở hữu uỷ quyền hoặc chuyển chiếm hữu, sử dụng cho chủ thể khác thông qua giao dịch;

  14. Quan hệ sở hữu có thể là quan hệ tương đối;

  15. Quyền định đoạt của chủ sở hữu chỉ bị hạn chế khi pháp luật qui định;

  16. Trong một số trường hợp một người là chủ sở hữu tài sản nhưng không thể bán tài sản;

  17. Khi chủ sở hữu uỷ quyền hoặc chuyển giao quyền chiếm hữu cho chủ thể khác thì người được uỷ quyền hoặc được chuyển giao quyền chiếm hữu phải là người có đầyđủ năng lực hành vi dân sự;

  18. Cá nhân chết thì quyền sở hữu của họ chấm dứt khi tài sản đã chuyển cho những người thừa kế hoặc người khác theo qui định của pháp luật;

  19. Một cá nhân bị tuyên bố mất tích thì việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản của người bị tuyên bố do người đại diện thực hiện;

  20. Đầu tư vốn vào một tổ chức kinh tế là một hình thức chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản cho chủ thể khác thông qua giao dịch;

  21. A gửi xe tại bãi xe công cộng là một hình thức chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản cho người trông xe;

  22. A nhờ B trông hộ nhà, trường hợp này A chỉ quyển giao quyền chiếm hữu nhà cho B;

  23. Gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng là một hình thức chuyển giao quyền chiếm hữu tiền gửi cho ngân hàng;

  24. Cá nhân không có hoặc có một phần năng lực hành vi dân sự thì bị hạn chế quyền năng đối với tài sản của mình;

  25. Người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì không còn quyền năng đối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

  26. Quyền sở hữu là một quyền tài sản.

 

“Mọi thành bại được mất đều nằm ở chính chúng ta, nhưng chúng ta lại luôn đùn đẩy cho ý trời”

SHAKESPEARE

 

CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 6 – MODUL1: NỘI DUNG QUYỀN SỞ HỮU

   

Những câu hỏi thuộc vấn đề này chỉ mang tính chất cá nhân không mang tính chất đại diện chuyên môn của bất kỳ tổ chức, cơ sở đào tạo nào.

Các bạn có thể tham khảo cho học tập và trao đổi kiến thức. Để đảm bảo khách quan, việc trích dẫn lại đề nghị ghi rõ nguồn: thongtinphapluatdansu.wordpress.com

 

Số lượng và nội dung các câu hỏi sẽ được Civillawinfor chỉnh sửa, bổ sung và cập nhật

 

CÂU HỎI TỰ LUẬN

  1. Khái niệm và đặc điểm của sở hữu;
  2. Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu;
  3. Khái niệm và đặc điểm của quyền chiếm hữu;
  4. Khái niệm và đặc điểm của quyền sử dụng;
  5. Khái nịêm và đặc điểm của quyền định đoạt;
  6. Xác định các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật, Ý nghĩa của nó trong thực tiễn và trong áp dung luật dân sự;
  7. Xác định các trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, Ý nghĩa của nó trong thực tiễn và trong áp dung luật dân sự;
  8. Phân biệt giữa chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp không ngay tình. Vận dụng để giải quyết các vụ việc cụ thể;
  9. Các trường hợp hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu. Vận dụng để giải quyết vụ việc cụ thể;
  10. Xác định các trường hợp quyền chiếm hữu thuộc về người không phải là chủ sở hữu. Vận dụng để giải quyết một vụ việc cụ thể;
  11. Xác định các trường hợp quyền sử dụng thuộc về người không phải là chủ sở hữu. Vận dụng để giải quyết một vụ việc cụ thể;
  12. Xác định các trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng người chiếm hữu không phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu;
  13. Xác định các trường hợp thực hiện quyền sở hữu phải thông qua hành vi của chủ thể khác mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu;
  14. Xác định các trường hợp một chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản nhưng không có quyền định đoạt. Vận dụng vào giải quyết một vụ việc cụ thể;
  15. Hãy chứng minh chế độ chính trị, kinh tế, xã hội quyết định nội dung quyền sở hữu của chủ thể dân sự;
  16. Xác định các trường hợp chủ sở hữu khi thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc cho phép;
  17. Hãy chứng minh chủ sở hữu có thể chuyển quyền sở hữu của mình cho chủ thể khác thông qua giao dịch. Ý nghĩa của nó trong thực tiễn giao dịch và áp dụng luật dân sự;
  18. Hãy xác định rõ quan hệ sở hữu là quan hệ vật quyền hay quan hệ trái quyền;
  19. Hãy xác định các trường hợp chủ thể bị hạn chế quyền sở hữu;
  20. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của một nhà đầu tư vốn vào một tổ chức kinh tế;
  21. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của hộ gia đình và thành viên của hộ gia đình đối với tài sản của hộ;
  22. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của cá nhân đối với tài sản của họ;
  23. Vận dụng kiến thức về nội dung quyền sở hữu hãy xác định các quyền năng của pháp nhân đối với tài sản của pháp nhân đó;
  24. Xác định các trường hợp người không phải là chủ sở hữu có quyền chiếm hữu tài sản mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu;
  25. Xác định các trường hợp quyền của chủ sở hữu bị hạn chế do quyết định hoặc bản án có hiệu lực của Toà án;
  26. Hãy chứng minh chủ sở hữu là cá nhân chỉ được trực tiếp thực hiện quyền sở hữu khi đạt độ tuổi nhất định.

KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG HAY SAI? TẠI SAO?

  1. Chủ sở hữu là người thụ hưởng quyền từ tài sản mà không phải thực hiện nghĩa vụ;

  2. Quyền sở hữu chấm dứt khi chủ sở hữu chết;

  3. Quyền chiếm hữu chỉ thuộc quyền của người không phải là chủ sở hữu khi chính được chủ sở uỷ quyền hoặc chuyển quyền thông qua giao dịch hợp pháp;

  4. Khi chuyển giao quyền sử dụng tài sản thì đương nhiên phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản đó;

  5. Quyền định đoạt phải do chính chủ sở hữu thực hiện;

  6. Quyền thuộc về chủ sở hữu, nhưng việc thực hiện quyền có thể thực hiện thông qua chủ thể khác;

  7. Quyền của chủ sở hữu là quyền năng do luật định;

  8. Quan hệ sở hữu luôn là quan hệ tuyệt đối;

  9. Người không có quyền chiếm hữu một tài sản là người không có quyền sử dụng tài sản đó;

  10. Quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu phát sinh cùng thời điểm;

  11. Quyền của chủ sở hữu chỉ được xác lập khi chủ sở hữu có đủ năng lực thực hiện các quyền năng đó;

  12. Quan hệ sở hữu là quan hệ vật quyền;

  13. Quan hệ sở hữu là quan hệ vật quyền trừ khi chủ sở hữu uỷ quyền hoặc chuyển chiếm hữu, sử dụng cho chủ thể khác thông qua giao dịch;

  14. Quan hệ sở hữu có thể là quan hệ tương đối;

  15. Quyền định đoạt của chủ sở hữu chỉ bị hạn chế khi pháp luật qui định;

  16. Trong một số trường hợp một người là chủ sở hữu tài sản nhưng không thể bán tài sản;

  17. Khi chủ sở hữu uỷ quyền hoặc chuyển giao quyền chiếm hữu cho chủ thể khác thì người được uỷ quyền hoặc được chuyển giao quyền chiếm hữu phải là người có đầyđủ năng lực hành vi dân sự;

  18. Cá nhân chết thì quyền sở hữu của họ chấm dứt khi tài sản đã chuyển cho những người thừa kế hoặc người khác theo qui định của pháp luật;

  19. Một cá nhân bị tuyên bố mất tích thì việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản của người bị tuyên bố do người đại diện thực hiện;

  20. Đầu tư vốn vào một tổ chức kinh tế là một hình thức chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản cho chủ thể khác thông qua giao dịch;

  21. A gửi xe tại bãi xe công cộng là một hình thức chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản cho người trông xe;

  22. A nhờ B trông hộ nhà, trường hợp này A chỉ quyển giao quyền chiếm hữu nhà cho B;

  23. Gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng là một hình thức chuyển giao quyền chiếm hữu tiền gửi cho ngân hàng;

  24. Cá nhân không có hoặc có một phần năng lực hành vi dân sự thì bị hạn chế quyền năng đối với tài sản của mình;

  25. Người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì không còn quyền năng đối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

  26. Quyền sở hữu là một quyền tài sản.

"Mọi thành bại được mất đều nằm ở chính chúng ta, nhưng chúng ta lại luôn đùn đẩy cho ý trời"

SHAKESPEARE

LẬP HIẾN HƯỚNG TỚI PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

NGUYỄN MINH TUẤN (CHLB Đức)

Thành công của Hiến pháp Mỹ đó là bản Hiến pháp này đã tạo ra đồng thời hai cơ chế giám sát hữu hiệu, đó là sự giám sát bên trong, tức là cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực (check and balance) giữa các cơ quan Nhà nước, và sự giám sát bên ngoài chính là xã hội dân sự (civil society) với đầy đủ những quyền năng được Hiến pháp bảo vệ. Thiết chế này có khả năng phản biện các chính sách, buộc Nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp, cùng thúc đẩy xã hội phát triển.

GS.TS. John Attanasio

Gần đây chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp như một nhu cầu cấp bách[1]. Tôi cho rằng, nhu cầu này là có thật, nhưng thay vì sửa đổi nhỏ lẻ, tại sao chúng ta không tính đến một chiến lược lâu dài hơn là hoàn thiện một Hiến pháp tích hợp được cả những điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó của dân tộc, vừa phải tích hợp được những tinh hoa của nền lập hiến các nước trên thế giới.

Bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử nhân loại và cũng là bản Hiến pháp tồn tại lâu nhất cho đến nay trên thế giới, đấy chính là bản Hiến pháp của Mỹ năm 1787. Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng, nhiều vấn đề có thể hôm nay đúng, nhưng ngày mai chưa chắc vẫn còn đúng, vậy đâu là những giá trị trường tồn có khả năng thích ứng với đổi thay của xã hội trong bản Hiến pháp này?

Cách đây không lâu tôi có dịp trao đổi với GS.TS. John Attanasio, Chủ nhiệm Khoa Luật, đến từ Đại học Dedmann của Hoa Kỳ về Hiến pháp so sánh. Chúng tôi đã cùng chia sẻ nhiều vấn đề về Hiến pháp.

Ông đã đặt một câu hỏi mà tôi cho rằng rất thú vị đó là: “Bạn thử nghĩ xem Hiến pháp Mỹ qui định cho đối tượng nào?”

Tôi biết ông đặt câu hỏi như vậy là có ý muốn chia sẻ và so sánh một điều gì đó nên tôi trả lời để lắng nghe ông giải thích: “Phải chăng cho hai chủ thể là công dân và Nhà nước?”

Ông chia sẻ:

Continue reading

NÃO TRẠNG CHÍNH QUYỀN VÀ KHUYẾT TẬT NGANG DỌC

TS. DIỆP VĂN SƠN

Trong khi các chuyên gia cho rằng, tái cơ cấu trước hết phải ở chính bộ máy nhà nước, cơ chế và thể chế quản lý, thì não trạng của bộ máy hành chính nhà nước, không chỉ có hiện tượng hành dân mà còn đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau giữa các cơ quan công quyền – TS. Diệp Văn Sơn.

Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính của chính phủ đã bước sang giai đoạn 2, giai đoạn rà soát lại các thủ tục hành chính gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Đây có thể nói là bước đi hết sức cần thiết của chính phủ để tháo gỡ từng bước những rào cản về thủ tục trong quá trình phát triển.

Để góp phần hỗ trợ Chính phủ trong việc phát hiện và rà soát những thủ tục còn tồn tại, Tuần Việt Nam thực hiện Diễn đàn "Sáng kiến Cải cách Hành chính" để qua đó, trí thức, người dân và doanh nghiệp góp tiếng nói, cùng tìm ra những bất hợp lý trong hệ thống hành chính hiện tại và đưa ra những sáng kiến để giải quyết triệt để vấn đề.

Tuần Việt Nam mong nhận được những góp ý cụ thể về từng thủ tục còn vướng mắc và cả những sáng kiến, ý tưởng, đề xuất chung, để cùng chính phủ xây dựng một nền hành chính minh bạch, đơn giản và hiệu quả hơn.

Khuyết tật dọc – ngang

Nhận thấy khuyết tật đùn đẩy chính quyền trên, sau nhiều năm thực hiện “một cửa”, gần đây, Thủ tướng Chính phủ quyết định triển khai “một cửa liên thông” (Quyết định 93/2007/QĐ-TTg) để hoàn thiện hơn, hiệu lực hơn nhằm đổi mới phương thức làm việc của cơ quan công quyền…

Continue reading