THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG: VẤN ĐỀ ĐIỀU TIẾT CỦA XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC QUAN HỆ LAO ĐỘNG

TSKH. PHẠM ĐỨC CHÍNH – Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Ngày nay, cả về phương diện lý thuyết, cả về phương diện thực tế đều thừa nhận rằng, phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại chỉ có thể đạt được kết quả trong điều kiện kết hợp khả năng tự điều tiết của nó với điều tiết của Nhà nước và xã hội. Dựa trên những công ước và hướng dẫn của Tổ chức lao động thế giới (International Labour Organization-ILO) vấn đề điều tiết của xã hội trên thị trường lao động đã được vận dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và kết quả đạt được cũng rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này mới được tiếp cận vào những năm gần đây và kết quả đạt được cũng chỉ là rất khiêm tốn, thậm chí đối với nhiều cơ quan quản lý lao động và việc làm thì lĩnh vực này vẫn được cho là hoàn toàn mới mẻ. Vì vậy, tiếp theo bài viết “Thị trường lao động: vấn đề điều tiết và tự điều tiết ở Việt Nam”1, bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu hơn nữa vào vấn đề điều tiết của xã hội trong lĩnh vực quan hệ lao động- xã hội trong giai đoạn hình thành thị trường lao động ở nền kinh tế đang chuyển đổi của Việt Nam.

I. Khái niệm về điều tiết của xã hội trong thị trường lao động

Điều tiết xã hội-đó là sự tham gia cùng nhau của các bên khác nhau vào soạn thảo và thực hiện những thoả ước lao động xã hội (các chương trình, thoả thuận) trong một thời hạn nhất định. Điều kiện cơ sở để tạo lập nền kinh tế thị trường là quan hệ giữa nhà doanh nghiệp và người lao động để đạt được giữa họ với nhau bầu không khí hòa bình xã hội, còn những mâu thuẫn xuất hiện thì được giải quyết bằng những biện pháp văn minh. Điều tiết xã hội không loại trừ khả năng đòi hỏi của người lao động về tăng lương, thay đổi chế độ làm việc và điều kiện lao động, giảm thuế v.v. Continue reading

NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN CHÍ THIỆN – Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên

1. Suy giảm kinh tế là gì?

Suy thoái kinh tế là một giai đoạn của Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh. Đó là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Vì pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh cũng có thể chỉ chia thành gồm hai pha chính là suy thoái và hưng thịnh (hay mở rộng) (1)

clip_image001

 

Nguồn: Wikipedia, 2009. Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3188/BTP-BTTP NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CHUYỂN GIAO CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH TỪ UBND XÃ SANG TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG

Kính gửi: Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An

Bộ Tư pháp nhận được Công văn số 969/STP-VB Ngày 10/8/2009 của Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi của tỉnh, nêu những kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện việc chuyển giao, về vấn đề này, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Trước hết, Bộ Tư pháp hoan nghênh Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 55/2009/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 về việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ UBND cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng theo tinh thần Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, qua đó tăng cường tính chuyên nghiệp trong việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch, bảo đảm an toàn pháp lý, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

2. Về một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Quyết định số 55/2009/QĐ-UBND mà Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An nêu tại Công văn số 969/STP-VB

a. Về việc có ý kiến cho rằng việc chuyển giao thẩm quyền nói trên không phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, không tạo thuận lợi cho dân, dân phải đi xa hơn khi chứng nhận các hợp đồng, giao dịch.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1602/TTg-KTN NGÀY 9 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Kính gửi:

– Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Tư pháp

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (Công văn số 4128/UBND – ĐTMT ngày 13 tháng 8 năm 2009), Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Công văn số 5378/UBND – VP ngày 25 tháng 8 năm 2009), Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (Công văn số 2344/UBND – KTN ngày 14 tháng 8 năm 2009); ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Công văn số 3067/BTNMT -TCQLĐĐ ngày 24 tháng 8 năm 2009), của Bộ Tư pháp (Công văn số 3082/BTP – XDPL ngày 31 tháng 8 năm 2009) về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến như sau:

Để đáp ứng nhu cầu thực tế, bảo đảm các giao dịch dân sự – kinh tế được thực hiện thông suốt, trong khi chờ ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (theo quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội), đồng ý Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo và thực hiện việc tiếp tục cấp giấy chứng nhận: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ: số 181/2004/NĐ -CP ngày 29 tháng 10 năm 2004, số 95/2005/NĐ -CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 và số 90/2006/NĐ -CP ngày 06 tháng 9 năm 2006./.

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Hoàng Trung Hải

CÔNG VĂN SỐ 1946/BXD-TTr NGÀY 11 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG TRẢ LỜI KHIẾU NẠI VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI NHÀ Ở

Kính gửi: Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 598/UBND-NC ngày 17/03/2009 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xin ý kiến giải quyết khiếu nại của ông Trần Kỳ Đô, (đại diện theo uỷ quyền của bà Bùi Thị Hiệp) liên quan đến các căn nhà số 167, 169, 171 và số 173 đường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi. Sau khi xem xét nội dung của Công văn trên cùng các tài liệu liên quan, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Đối với các căn nhà số 169, 171, 173 đường Trương Quang Trọng nguyên thuộc sở hữu của bà Bùi Thị Hiệp, Nhà nước đã có văn bản quản lý và bố trí cho Cửa hàng ăn uống trực thuộc Ty Thương nghiệp tỉnh Nghĩa Bình (cũ) sử dụng từ năm 1988. Năm 1990, Cửa hàng ăn uống giải thể, các căn nhà trên để trống, gia đình bà Hiệp đã tự ý vào ở đến nay mà không ký hợp đồng thuê với Nhà nước. Thực tế từ năm 1990 đến nay, Nhà nước không quản lý đã không thực hiện việc quản lý và bố trí sử dụng đối với các căn nhà nói trên. Do đó, có thể áp dụng quy định tại điểm a, khoản 1, điều 5 của Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để công nhận quyền sở hữu cho gia đình bà Bùi Thị Hiệp đối với các căn nhà này.

Đối với căn nhà số 167 đường Trương Quang Trọng mà Nhà nước đã có văn bản quản lý, bố trí sử dụng, nay đã được bán hoá giá; căn cứ quy định của Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội thì việc gia đình bà Bùi Thị Hiệp đòi lại căn nhà trên là không thể giải quyết được.

Bộ Xây dựng trả lời để Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi biết và giải quyết vụ việc./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

MỘT KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Quản lý doanh nghiệp là công việc vô cùng phức tạp – đó vừa là khoa học lại vừa là nghệ thuật. Do đó, người quản lý doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng.

Thuê quản lý doanh nghiệp – một nhu cầu tất yếu

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”.

Sẽ không có gì phải bàn khi chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp. Song, thực tiễn hiện nay và trong tương lai gần, với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nước ta, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp lại không phải là người quản lý doanh nghiệp.

Những trường hợp như vậy ít nhất cũng có thể bao gồm:

Thứ nhất, chủ doanh nghiệp cần giành một khoảng thời gian dài từ 1-3 năm để học tập nâng cao năng lực quản lý ở một nơi xa doanh nghiệp, chẳng hạn ở nước ngoài. Khi đó, chủ doanh nghiệp không thể “vừa học, vừa làm”.

Thứ hai, chủ doanh nghiệp không may bị qua đời và người thừa kế để làm chủ mới của doanh nghiệp lại chưa đủ năng lực cả về chuyên môn và quan hệ xã hội để trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp.

Thứ ba, do sự thay đổi của pháp luật, lĩnh vực kinh doanh đang thực hiện của chủ doanh nghiệp “bỗng nhiên” được đưa vào danh mục “kinh doanh có điều kiện” và “điều kiện kinh doanh” lại là chủ doanh nghiệp phải có một chứng chỉ. Trong khi đó, để có thể có được chứng chỉ ấy, chủ doanh nghiệp lại gặp những khó khăn không thể vượt qua, chẳng hạn, đòi hỏi phải thi, sát hạch về ngoại ngữ…

Continue reading

BẤT CẬP TRONG QUI ĐỊNH VỀ THÔNG BÁO BÁN ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN KHI ÁP DỤNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

ĐÌNH NAM

Trong hệ thống các quy phạm về thi hành án dân sự, quy định về thông báo làm một nội dung hết sức quan trọng và đều được quy định rõ trong các văn bản pháp luật về thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng đã dành 5 điều để quy định về thông báo là:

Điều 39. Thông báo về thi hành án

Điều 40. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân

Điều 41. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức

Điều 42. Niêm yết công khai

Điều 43. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Còn các thông báo khác liên quan tới thủ tục thi hành án dân sự được quy định ở các văn bản dưới luật, trong đó có thông báo về bán đấu giá tài sản để thi hành án.

Trước đây, Thông báo bán đấu giá tài sản trước đây không được quy định tại Pháp lệnh thi hành án mà được quy định tại Điều 12 Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản  như sau:

Điều 12. Niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản

1. Người bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại nơi bán đấu giá, nơi trưng bày tài sản, nơi đặt trụ sở của người bán đấu giá tài sản, nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản trước ngày mở cuộc bán đấu giá tài sản.

Trong trường hợp người có tài sản bán đấu giá có yêu cầu thì thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể rút ngắn theo thoả thuận của các bên.

Continue reading