TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: SA THẢI NHÂN VIÊN VÌ LỪA ĐỐI NHẬN THƯỞNG

HOÀNG LAM

Mức kỷ luật này quá nặng so với quy định của Bộ luật Lao động.

Năm 2005, anh T. (quận Phú Nhuận, TP.HCM) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn để làm công nhân cho một công ty của Nhật Bản có chi nhánh tại Việt Nam. Năm 2007, công ty thông báo hứa thưởng cho nhân viên cũ có công giới thiệu nhân viên mới vào công ty. Nếu người mới ký hợp đồng và làm việc dưới hai tháng thì người giới thiệu được thưởng 50 ngàn đồng, làm trên hai tháng thì thưởng 100 ngàn đồng, làm trên sáu tháng thì thưởng 150 ngàn đồng.

Muốn hưởng tiền thưởng, anh T. mạo nhận mình có giới thiệu một số nhân viên mới. Thật không may, công ty phát giác hành vi mạo nhận này nên đưa anh T. ra xem xét kỷ luật. Bởi lẽ khi đối chiếu thực tế, các nhân viên do anh T. mạo nhận giới thiệu đã khẳng định mình không hề quen biết anh T., cũng chưa từng nhờ anh nộp hồ sơ giúp.

Cuối tháng 2-2008, công ty lập biên bản kỷ luật anh T. về hành vi “vi phạm gian dối để nhận tiền công ty”, đồng thời ra quyết định sa thải anh T. với lý do “lừa dối nhận tiền công ty”. Điều này đồng nghĩa với việc công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh.

Cho rằng mình bị sa thải trái luật, anh T. nộp đơn kiện công ty ra TAND quận nơi công ty đặt trụ sở. Theo anh T., hành vi mạo nhận của mình tuy có thật nhưng mới là sai phạm lần đầu, chưa gây thiệt hại cho công ty. Bởi lẽ anh chưa nhận của công ty một đồng tiền thưởng nào. Giả như hành vi mạo nhận có trót lọt thì tiền thưởng anh nhận được cũng chỉ khoảng 600 ngàn đồng. Anh T. nói công ty cần áp dụng hình thức kỷ luật khác tương xứng với vi phạm của anh, chứ sa thải thì quá nặng.

Anh T. khẳng định công ty họp xét kỷ luật sa thải mà không mời anh tham gia. Trong đơn khởi kiện, anh yêu cầu tòa án hủy bỏ quyết định sa thải của công ty, buộc công ty nhận anh trở lại làm việc. Ngoài ra, anh còn yêu cầu công ty trả cho mình hơn 20 triệu đồng, bao gồm tiền bồi thường vì bị sa thải trái luật và tiền lương trong những ngày anh không được làm việc. Nếu không muốn nhận anh trở lại làm việc, công ty phải trả cho anh trợ cấp thôi việc cùng một khoản tiền thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng.

Continue reading →

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG HIỆN HÀNH TẠI VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TRẦN MINH SƠN

Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm… Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.

Continue reading →

CẢM NHẬN CỦA MỘT LUẬT SƯ: VIỆC NHỎ HAY VIỆC LỚN

LS. ĐOÀN THỊ LAN

Một dịp thật vô tình. Tôi được tham dự một phiên tòa phúc thẩm xét xử tranh chấp thừa kế, vụ việc đã được Tòa án Nhân dân (TAND) quận Gò Vấp xử sơ thẩm ngày 13/04/2009, nguyên đơn, bị đơn vụ kiện, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn kháng cáo và tòa dân sự thành phố xét xử phúc thẩm vào ngày 29/05/2009.

Dưới sự chủ tọa của thẩm phán phó chánh tòa dân sự thành phố, việc xét xử được diễn ra nhanh chóng gọn, chưa hết 2 tiếng đồng hồ kể cả thời gian nghị án, bản án phúc thẩm đã được tuyên theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND quận Gò Vấp vì đã vi phạm tố tụng dân sự và thiếu cơ sở pháp lý để tuyên án.
Rời phiên tòa trong cái nắng nóng gay gắt của tháng 5 không làm tôi mệt mỏi nhưng cảm nhận của tôi đối với các nguyên đơn, bị đơn theo đuổi vụ kiện tôi thấy mệt mỏi cho họ. Mất thật nhiều thời gian, công sức mà bị hủy án vì lý do chủ quan của cơ quan xét xử cũng thấy nhiều điều trăn trở. Sau một phiên xử đối với người làm công tác pháp luật, bản án đã tuyên, thế là xong, việc còn lại là của bộ phận khác. Trong vụ kiện này tôi cảm nhận được 2 điều:

1- Việc chia thừa kế theo pháp luật đã có qui định rõ ràng tại các văn bản pháp luật và Nghị quyết 02 ngày 10/08/2004 của hội đồng thẩm phán vấn đề này tôi  nghĩ những người ngồi xét xử chắc chắn phải hiểu rõ hơn ai hết, trường hợp nào được thụ lý chia tài sản thừa kế, trường hợp nào không thụ lý được vì đã hết thời hiệu khởi kiện.

Continue reading →

HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ chỉ còn một vài ngày, thậm chí một vài giờ; thái độ giao tiếp thân thiện; sẵn sàng phục vụ tại nơi ở đối với người không có khả năng, điều kiện đi lại… Nếu cách nay vài năm mà nói rằng đó là những điều ghi nhận được từ thủ tục cấp chứng minh nhân dân và hộ chiếu, thì chắc chắn không ai tin. Vậy mà những điều ấy đang là một phần kết quả cải cách thủ tục hành chính công tại TP.HCM.

Thực ra, bộ máy hành chính công, được hiểu là cái do Nhà nước tạo ra để tổ chức cho công dân thực hiện quyền tự do cá nhân trong không gian chung – tức là xã hội, thì chỉ có chức năng phục vụ. Bảo đảm cho mỗi người dân có cuộc sống thoải mái và bình yên là một phần cơ bản trong nội dung sứ mạng của Nhà nước và, suy cho cùng, cũng là một trong những lý do chính để Nhà nước tồn tại.

Chức năng cung ứng dịch vụ của Nhà nước rất đa dạng, cứ hình dung: cá nhân có nhu cầu làm rõ lai lịch để phân biệt với cá nhân khác, Nhà nước có dịch vụ đăng ký hộ tịch, cấp chứng minh thư để đáp ứng; cá nhân muốn thực hiện quyền sở hữu tài sản, Nhà nước mở dịch vụ đo đạc, đăng ký công khai, chứng thực để tạo điều kiện thuận lợi; cá nhân mong việc đi lại trên đường công cộng luôn được nhanh chóng và an toàn, Nhà nước đặt ra cơ chế điều hoà, phối hợp và kiểm soát để giao thông công cộng diễn ra có trật tự…

Dẫu sao trong trường hợp đặc thù của Việt Nam, có lẽ do vẫn còn bỡ ngỡ sau khi cởi bỏ gông cùm nô lệ, nhiều người có thể chưa đủ tự tin lúc ban đầu để hành xử với tư cách công dân đích thực, nhất là chưa quen với suy nghĩ mình được trao quyền này, quyền nọ và chưa dám mạnh dạn sử dụng các quyền ấy trong tư thế đĩnh đạc của một ông chủ. Có quyền nhưng không đủ khả năng thực hiện quyền của mình, công dân thực sự ở trong tình trạng mà luật gọi là mất năng lực hành vi.

Continue reading →

CHUYỂN NHƯỢNG VỐN BẤT ĐỘNG SẢN NÀO PHẢI ĐÓNG THUẾ?

VŨ NGUYÊN

Từ ngày 26.9.2009, theo hướng dẫn của cục Thuế TP.HCM, nhà đầu tư góp vốn mua bất động sản bao gồm căn hộ, đất nền, nhà… khi chuyển nhượng sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Theo các luật sư, quy định hiện hành xem việc chuyển nhượng góp vốn lại là bất hợp pháp, vậy thì thu thuế như thế nào?

Theo quy định của thông tư 161, có hiệu lực từ 26.9, việc tính thuế đối với các trường hợp chuyển nhượng hợp đồng góp vốn, hay ở dạng chuyển nhượng bất động sản (BĐS) chưa có chủ quyền cũng sẽ được áp dụng như chuyển nhượng BĐS có chủ quyền. Khi đó, mức thuế suất được áp dụng sẽ là 25% trên phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua. Nếu không có đủ hồ sơ chứng từ hợp lệ xác định được giá và các chi phí, cơ quan thuế sẽ áp dụng mức thuế suất 2% tính trên toàn bộ trị giá chuyển nhượng.

Có khoảng trống

Luật sư Nguyễn Văn Quynh (Đoàn luật sư TP Hà Nội ) phân tích, điều 1 của thông tư 161/TT-BTC của bộ Tài chính xác định rõ đối tượng phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trong trường hợp chuyển nhượng BĐS chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà thì phải căn cứ vào giấy tờ hợp pháp khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận để xác định đối tượng nộp thuế. Trường hợp góp vốn với các tổ chức, cá nhân xây dựng nhà để hưởng quyền mua căn hộ, mua nền nhà nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng lại chuyển nhượng phần vốn và quyền mua nền, căn hộ thì thực hiện kê khai, nộp thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS. Theo ông Quynh, các quy định này là phù hợp với các quy định của pháp luật về chuyển nhượng BĐS. Bởi muốn tham gia giao dịch chuyển nhượng BĐS thì bắt buộc phải có công chứng chứng thực, hoặc các giấy tờ hợp lệ khác của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.

Continue reading →

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: MẬP MỜ CÔNG CHỨNG

LS. HỒ QUANG TÂN PHONG

Ông Trần Văn Được sinh năm 1914 và bà Nguyễn Thị Biện sinh năm 1911 có ba người con: Người con lớn là bà Trần Kim Xuân, sinh năm 1937; người con thứ hai là ông Trần Kim Thanh, sinh năm 1938 và người thứ ba là bà Trần Kim Hạnh, sinh năm 1940.

Lúc sinh thời, năm 1967, ông Được và bà Biện có mua của bà Nguyễn Thị Sách lô đất nông nghiệp, diện tích là 2.650 m2, tọa lạc tại P.15, Q. Tân Bình. Bà Biện sử dụng một phần lô đất trên để làm đường và chuyển nhượng cho ông Sỷ 56 m2. Diện tích đất còn lại là 2.139m2, nay thuộc thửa số MPT4, tờ số 49 (BĐĐC), F Tây Thạnh, Q Tân Phú TP.HCM. Trước khi qua đời, hai ông bà này không để lại di chúc nên di sản để thừa kế được chia theo quy định của pháp luật. Phần đất này bà Trần Kim Hạnh  thay mặt cho gia đình đứng tên và được UBND quận Tân Phú TP.HCM cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00123 ngày 23-01-2008, diện tích 2.139 m2. Mục IV của giấy chứng nhận này ghi chú “Nhà đất chưa phân chia thừa kế, không được thực hiện các giao dịch”.

Ngày 01/08/2008, ông Thanh và bà Xuân lập ủy quyền tại Phòng Công chứng số 4 cho bà Trần Kim Hạnh được quyền giao dịch phần quyền sử dụng đất nói trên. Ngày 05/08/2008 tại phòng Công chứng số 4, bà Trần Kim Hạnh được xác nhận là người đại diện khai nhận di sản thừa kế.

Ngày 29/08/2008, tại Phòng Công chứng số 4 TP.HCM, bà Trần Kim Hạnh lập hợp đồng tặng cho số 031302, tặng một phần quyền sử dụng lô đất trên cho bà Trần Kim Xuân, nhưng “không ghi rõ trong hợp đồng tặng cho một phần là bao nhiêu mét vuông, cũng không ghi rõ vị trí QSDĐ được tặng cho”.

Continue reading →

BÀN VỀ GIÁ TRỊ CÔNG BẰNG VÀ TƯƠNG TRỢ TRONG NỘI DUNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GS.VS. ĐÀO THẾ TUẤN – Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO)

Chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về kinh tế thị trường, loài người đã đi được một quãng đường khá dài, nên hướng phát triển và những ưu điểm, khuyết điểm, thành công và thất bại của nó đã tương đối rõ, nhưng về định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề không chỉ dừng lại ở mục tiêu lý tưởng mà phải có những hướng phát triển, bước đi thật cụ thể. Bởi vậy, trong khuôn khổ của bài viết, tôi xin bàn về góc độ giá trị công bằng và tương trợ của chủ nghĩa xã hội.

Trong lịch sử thế giới đã có nhiều phong trào muốn thực hiện hoài bão của loài người là xây dựng một xã hội công bằng và tương trợ. Trong vấn đề này thực tế đã chỉ rõ, không những mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô thất bại, mà mô hình nhà nước phúc lợi của các nước do các đảng xã hội dân chủ lãnh đạo cũng không mấy thành công. Nhiều nhóm nước trên thế giới đang đi tìm các mô hình chủ nghĩa xã hội mới. Đáng chú ý là từ năm 2001 đến nay, hằng năm đều có các diễn đàn xã hội thế giới để thảo luận về vấn đề toàn cầu hóa theo kiểu khác (Alter-globalisation). Diễn đàn này đã có tác dụng thúc đẩy các phong trào cách mạng tiến bộ ở nhiều nước châu Mỹ La-tinh.

Qua nghiên cứu các xu thế tiến bộ trên thế giới, tôi thấy việc Đảng ta lựa chọn con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn. Tuy vậy, cũng cần tham khảo kinh nghiệm và các ý tưởng mới trên thế giới để từ đó có thể giúp ta suy nghĩ về các biện pháp thực hiện thành công định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Bước đầu tôi xin mạnh dạn nêu lên một số nội dung sau:

Continue reading →

GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC CÓ SỐNG ĐƯỢC BẰNG LƯƠNG?

DIỆU THÙY

I. Dạy quanh năm, thu nhập “lai rai”

Không đủ tiền trang trải cuộc sống, nên có không ít giảng viên phải “bán” đi chữ tâm của nghề giáo khi tham gia vào mua bán điểm, đề thi, “ăn” phong bì khi học sinh bảo vệ đồ án tốt nghiệp… làm cho hình ảnh người thầy càng ngày càng méo mó trong con mắt của sinh viên và xã hội.

image Giảng viên cũng “chạy sô”, làm thêm

Là giảng viên đại học với học vị tiến sĩ, thâm niên 14 năm, nhưng mức lương chính của TS Trần Nam (đang dạy ở trường đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia TP.HCM)… chỉ 2,2 triệu đồng, cộng thêm các khoản thu nhập khác được khoảng 6 – 7 triệu/tháng. “Hiện một tuần tôi phải giảng khoảng ba, bốn lớp, hướng dẫn ba, năm học viên cao học và nghiên cứu sinh, thỉnh thoảng ngồi hội đồng (chấm luận văn tốt nghiệp – PV), thu nhập khoảng 90 triệu đồng/năm, tức khoảng 7 triệu đồng/tháng. Nếu vợ tôi cũng làm được chừng ấy tiền nữa thì đủ để chi tiêu hàng tháng. May mà tôi còn có nguồn thu nhập khác để mua nhà, tích luỹ…”, ông Nam tâm sự.

ThS Lê Thạc Hoa, người từng có thâm niên hơn mười năm giảng dạy môn tiếng Anh tại nhiều trường đại học, hiện đã chuyển ra làm công ty, cho biết thời… “cao điểm” đi dạy có lúc thu nhập của ông đạt mức trên 20 triệu đồng/tháng. “Hai mươi triệu. Có nghĩa là 16 tiết mỗi ngày, từ 6 – 21h. Tuần bảy ngày, không thấy mặt vợ con, nghỉ trưa một tiếng rưỡi đủ gặm bánh mì”, ông Hoa nói không chút hài hước. Ai cũng nghĩ tiếng Anh là thời thượng nhưng đó là môn học không bắt buộc sinh viên phải có mặt trên lớp, sĩ số lớp lại bị khống chế, do đó thù lao giảng dạy không quá 60.000đ/tiết. Vì ông Hoa tiết lộ từng ấy năm đi dạy đại học, ông chưa bao giờ dám nhận môn viết luận vì “nếu nhận thì còn đâu thời giờ để sửa bài cho sinh viên”. Với môn chủ nghĩa Mác – Lênin, tình hình cũng “căng thẳng” không kém. Hiệu trưởng một trường đại học tư thục ở TP.HCM đề nghị không nêu tên tiết lộ, thời bây giờ thắp đuốc kiếm giảng viên môn Mác – Lênin quá khó. Trả 150.000đ, thậm chí 200.000đ/tiết cũng không có đủ giảng viên để đứng lớp.

Continue reading →

MUA BÁN, SÁP NHẬP CÔNG TY – NHIỀU KIỂU MUA BÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Mua hay bán công ty là nói về một giao dịch nhưng ở vị trí khác nhau của người mua hay người bán; còn về phía công ty – anh “pháp nhân” tội nghiệp – thì bị mua hay được bán tức là nó sáp nhập với một pháp nhân khác.

Các cách mua bán

Một công ty có thể mua một công ty khác bằng một trong ba cách là: sáp nhập, mua tài sản, hay mua cổ phần/cổ phiếu của công ty kia. Sự khác biệt chính giữa ba cách này nằm ở các vấn đề sau: (i) công ty đi mua có ôm nợ của công ty bị bán không; (ii) cổ đông của cả hai bên, hoặc một bên, có phải biểu quyết để chấp thuận việc mua bán không; (iii) cổ đông của công ty bị mua có được hưởng lợi nhờ một sự định giá cổ phiếu do tòa án ra không (vì họ cãi nhau về giá bán) và (iv) mức thuế phải đóng cho giao dịch này.

Luật lệ của các nước phát triển ngày nay có khuynh hướng buộc công ty đi mua phải gánh nợ cho công ty bị bán; dù có là bán tài sản đi nữa, nếu bên mua lấy gần hết số tài sản và tiếp tục kinh doanh sau đó. Do việc này, hai bên mua bán phải bàn bạc kỹ lưỡng về việc người mua gánh nợ của người bán và người trước phải kiểm tra làm sao để biết chắc không có các món nợ trời ơi bỗng ở đâu rơi xuống đầu mình trong tương lai vì công việc kinh doanh trước kia hay hiện nay của bên bán.

Cách mua bán đầu tiên là sáp nhập được quy định trong luật doanh nghiệp. Diễn giải ra là A một công ty lớn mua B một công ty nhỏ; B sẽ sáp nhập vào A và bị giải thể để chỉ còn A. Cổ đông của B có thể được trả tiền mặt hay được cấp cổ phiếu của A; hoăc nhận cả hai thứ kia; hoặc có cổ đông này nhận tiền, người kia nhận cổ phiếu. Cách sáp nhập này uyển chuyển trong việc trả tiền.

Continue reading →

MÔ HÌNH BỘ MÁY QUỐC GIA VỀ NHÂN QUYỀN Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ SUY NGHĨ VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

TS. TƯỜNG DUY KIÊN – Học viện Chính trị – hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

1. Tiêu chuẩn quốc tế và mô hình bộ máy quốc gia về nhân quyền ở một số nước trên thế giới

1.1. Khái niệm và các tiêu chuẩn quốc tế về cơ quan quốc gia về nhân quyền

Mặc dù, đã tồn tại các tiêu chuẩn quốc tế về vị trí của cơ quan quốc gia về nhân quyền, nhưng rất khó để đi đến một định nghĩa hay có được một cách hiểu thống nhất “cơ quan quốc gia về nhân quyền là gì?”. Trong khuôn khổ khái niệm liên quan tới các hoạt động đầu tiên của Liên hợp quốc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, hiểu cơ quan quốc gia về nhân quyền là bất kỳ một cơ quan nào, ở cấp độ quốc gia có mức độ ảnh hưởng /tác động trực tiếp hay gián tiếp đến việc thúc đẩy, và bảo vệ quyền con người. Theo đó, cơ quan lập pháp, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan trợ giúp pháp lý và các cơ quan phúc lợi xã hội, đều được xem xét, lưu ý bình đẳng so với các uỷ ban quốc gia, văn phòng cơ quan thanh tra hay các thể chế tương tự khác, vì đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ, thúc đẩy quyền con người.

Do tính chất và công thức áp dụng, cũng như cách hiểu về cơ quan nhân quyền như trên là rất rộng, nên cần thiết phải thu hẹp phạm vi, dựa trên chức năng hay mô hình phổ biến, trong đó đặc biệt nhấn mạnh cơ quan thực hiện chức năng liên quan trực tiếp tới các hoạt động giáo dục và thúc đẩy nhân quyền; tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề nhân quyền, điều tra và xem xét các khiếu nại liên quan tới vi phạm nhân quyền, do các thực thể cả công và tư gây ra. Tuy vậy, với cách hiểu theo hướng tiếp cận dựa trên chức năng để loại trừ các thể chế như cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp hay các tổ chức phúc lợi xã hội vẫn chưa thể đi đến một định nghĩa hay xác định theo cách hiểu tốt nhất cơ quan quốc gia về thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền. Chính vì thế, một Hội thảo quốc tế đầu tiên về thể chế quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền đã được triệu tập tại thủ đô Pari từ ngày 7- 9/10/1991 và đã thông qua các Nguyên tắc Pari. Các nguyên tắc này sau đó được Uỷ ban Nhân quyền thông qua theo Nghị quyết 1992/54 và được Đại hội đồng LHQ chính thức thông qua theo Nghị quyết 48/134 năm 1993.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 3231 /BTP-BTTP NGÀY 10 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP TRẢ LỜI MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

Kính gửi: Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên

Trả lời Công văn số: 513 /STP-TPK ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Sở Tư pháp tỉnh Hưng Yên về việc đề nghị giải đáp một số vướng mắc trong lĩnh vực công chứng, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Việc UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 2043/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 về việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện:

Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng. Tiếp đó, Ngày 18/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, trong đó đã phân biệt, tách bạch rõ về công tác công chứng và công tác chứng thực. Theo đó, các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch, còn UBND cấp xã, cấp huyện thực hiện việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Ngày 25/8/2008, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2008/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, tại Điểm 8 của Thông tư số 03/2008/TT-BTP đã quy định rõ về việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.

Mới đây, ngày 18/6/2009 Bộ Tư pháp đã ban hành Văn bản số 1939/BTP-BTTP về một số nội dung liên quan đến công chứng gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có hướng dẫn việc từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng.

Căn cứ vào quy định của các văn bản pháp luật nêu trên thì việc UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Quyết định số 2043/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 về việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện là hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật Công chứng, Thông tư số 03/2008/TT-BTP và sự chỉ đạo của Bộ Tư pháp.

Continue reading →

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CẦM GIỮ VÀ CẦM CỐ HÀNG HẢI 1993

Tổ chức tại Palais des Nations, Geneva, từ 19 tháng 4 đến 6 tháng 5 năm 1993

Các quốc gia tham gia hội nghị này:

– Nhận thức được sự cần thiết phải cải tiến các điều kiện đối với tài trợ tầu biển và phát triển đội tàu thương mại quốc gia,

– Mong muốn một sự thống nhất quốc tế trong lĩnh vực lưu giữ và cầm cố hàng hải, và do vậy

– Nhất trí về sự cần thiết phải có một công cụ pháp lý quốc tế điều chỉnh quyền lưu giữ và cầm cố quốc tế, đã quyết định ký kết một Công ước với mục đích trên và thống nhất như sau:

Ðiều 1 – Công nhận và thi hành việc cầm cố, thế chấp và lệ phí :

Tài sản cầm cố, thế chấp và các khoản ký quỹ đăng ký (lệ phí đăng ký) có bản chất tương tự như việc thế chấp, – lệ phí đăng ký có bản chất tương tự thế chấp dưới đây gọi là "lệ phí" – áp dụng đối với tàu biển sẽ được các quốc gia thành viên công nhận và thi hành với điều kiện rằng:

a) Tài sản cầm cố, thế chấp và "lệ phí" đã được thực hiện và đăng ký theo luật của quốc gia sở tại nơi mà con tàu được đăng ký;

b)Sổ đăng ký và những văn bản phải để lưu giữ tại cơ quan đăng ký, theo luật của quốc gia sở tại nơi con tàu được đăng ký, được công khai cho phép kiểm tra tự do; và trích lục từ sổ đăng ký, bản sao các văn bản đó có thể được cung cấp tại cơ quan đăng ký.

c) Hoặc là sổ đăng ký hoặc là bất kỳ văn bản nào nêu trong tiểu mục (b) phải cho biết cụ thể ít nhất là tài sản cầm cố, thế chấp hoặc lệ phí được thực hiện để cho ai hưởng – tên và địa chỉ của người được hưởng lợi đó hay được ký phát vô danh, trị giá tối đa được bảo đảm, nếu đó là quy định theo luật của quốc gia đăng ký hoặc nếu đó là trị giá được nêu cụ thể trong văn bản cam kết cầm cố, thế chấp hoặc lệ phí, ngày và các chi tiết khác, theo luật của nước đăng ký, xác định thứ hạng của các loại cầm cố, thế chấp và lệ phí.

Continue reading →

CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỐI PHIẾU VÀ KỲ PHIẾU QUỐC TẾ (1988)

(Nghị quyết 43/165 của Ðại Hội Ðồng, phụ lục)

Chương I

PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ HÌNH THỨC CỦA PHƯƠNG TIỆN

Ðiều 1

1. Công ước này áp dụng cho hối phiếu quốc tế khi nó chứa đựng tiêu đề "Hối phiếu quốc tế (Công ước UNCITRAL) và cũng chứa đựng trong nội dung của nó những từ "Hối phiếu quốc tế (Công ước UNCITRAL)".

2. Công ước này áp dụng cho kì phiếu quốc tế khi nó chứa đựng tiêu đề "Kì phiếu quốc tế (Công ước UNCITRAL)" và cũng chứa đựng trong nội dung của nó những từ "Kì phiếu quốc tế (Công ước UNITRAL).

3. Công ước này không áp dụng đối với các loại séc.

Ðiều 2

1. Hối phiếu quốc tế là một hối phiếu qui định ít nhất hai trong số các địa điểm sau và chỉ ra rằng bất kì hai địa điểm nào được qui định như vậy nằm ở các nước khác nhau:

a. Ðịa điểm hối phiếu được kí phát;

b. Ðịa điểm ghi bên cạnh chữ kí của người kí phát;

c. Địa điểm ghi bên cạnh tên của người trả tiền;

d. Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người hưởng lợi;

e. Ðịa điểm trả tiền.

Với điều kiện là hoặc địa điểm nơi hối phiếu được kí phát hoặc địa điểm trả tiền được ghi trên hối phiếu thuộc một Quốc gia thành viên.

Continue reading →

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN – Xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

THS. ĐẶNG MINH TIẾN – Đại học Thương mại Hà Nội

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta…

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta. Điều này thể hiện ở chỗ, thứ nhất, với trình độ phát triển như hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân vẫn là nhu cầu khách quan, thứ hai, kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế – xã hợi của đất nước, thứ ba, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của đất nước. Tất nhiên, kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm mất động lực phát triển của nó, nhưng cũng không để nó vận động một cách tự phát.

Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệu quả tăng trưởng cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Continue reading →

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN – XU THẾ TẤT YẾU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. ĐẶNG MINH TIẾN – Đại học Thương mại Hà Nội

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta…

Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta. Điều này thể hiện ở chỗ, thứ nhất, với trình độ phát triển như hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân vẫn là nhu cầu khách quan, thứ hai, kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế – xã hợi của đất nước, thứ ba, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của đất nước. Tất nhiên, kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm mất động lực phát triển của nó, nhưng cũng không để nó vận động một cách tự phát.

Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệu quả tăng trưởng cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 74/2009/NĐ-CP NGÀY 9 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ CƠ QUAN QUẢN LÝ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

1. Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự;

2. Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp, Chấp hành viên cao cấp (sau đây gọi chung là Chấp hành viên); Thẩm tra viên thi hành án, Thẩm tra viên chính thi hành án, Thẩm tra viên cao cấp thi hành án (sau đây gọi chung là Thẩm tra viên thi hành án); Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

Việc bổ nhiệm từ ngạch Chấp hành viên cấp huyện, Chấp hành viên cấp tỉnh, Chấp hành viên quân khu sang ngạch Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.

3. Việc tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển.

4. Thẻ, công cụ hỗ trợ, trang phục, phù hiệu, cấp hiệu và chế độ đối với Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức làm công tác thi hành án dân sự.

Điều 2. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự

Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (trừ hệ thống tổ chức thi hành án trong quân đội quy định tại Điều 8 Nghị định này) được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất, gồm có:

Continue reading →

HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CẦN THỐNG NHẤT QUAN ĐIỂM TRONG TỐ TỤNG

LS. TRẦN CÔNG LY TAO

Báo Pháp luật TP.HCM số ra ngày 22/7/2009 có bài “Xử tranh chấp đất đai: Còn nhiều cái rối”. Theo chúng tôi, chẳng những chỉ có lĩnh vực tranh chấp đất mà ở các lĩnh vực khác cũng gặp không ít rắc rối.

Theo bài báo trên đây: Trước đây, khi tranh chấp này ra đến tòa thì đã có tòa nhận đơn thụ lý giải quyết, nhưng có tòa không thụ lý. Sự không thống nhất này khiến người dân phàn nàn khá nhiều về cách làm việc của tòa. Quan điểm chung của ngành tòa án TP.HCM là nếu có tranh chấp về mồ mả thì phần mồ mả tòa sẽ không thụ lý giải quyết.

Gần đây, có người nộp đơn kiện đòi lại “giấy hồng” do người khác mượn Tòa án Nhân dân (TAND) quân Bình Tân không thụ lý đơn. Trả lời người khởi kiện, chánh tòa này viện dẫn: Có trường hợp tương tự, TAND tỉnh KG thỉnh thị ý kiến chỉ đạo của TAND tối cao và đã được TAND tối cao “cho phép” TAND tỉnh KG không thụ lý đơn nên TAND quận Bình Tân căn cứ công văn vừa nêu của TAND tối cao “được phép” không thụ lý đơn của đương sự. Đồng thời TAND quận Bình Tân hướng dẫn đương sự nên làm đơn tố giác tội phạm gởi cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền. Những tưởng được tòa mách nước sẽ được CSĐT thụ lý giải quyết. Nhưng nào ngờ CSĐT  cũng từ chối nhận đơn với lý do: Đây là tranh chấp dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án! Không thể căn cứ công văn “đơn lẻ” của tòa án cấp trên trả lời tòa án cấp dưới rồi xem đây là “văn bản luật” làm kim chỉ nam để khước từ thụ lý đơn tranh chấp của đương sự như thế được.

Continue reading →

XỬ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI: CÒN NHIỀU CÁI RỐI

KHẢI HÀ

Tranh chấp mồ mả: Tòa không giải quyết vì thiếu quy định.

Mới đây, ngành TAND TP.HCM đã tổ chức tập huấn về nghiệp vụ xét xử các vụ án liên quan đến tranh chấp đất đai. Một số sai sót đã được tòa nhắc nhở để thống nhất quan điểm xét xử chung của ngành.

Thiếu quy định về tranh chấp mồ mả

Một vấn đề được các tòa quan tâm và thường hỏi ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ là chuyện các tranh chấp đất đai nhưng liên quan đến mồ mả trên phần đất đó thì giải quyết chuyện mồ mả như thế nào. Không ít tòa bảo họ rất thường gặp các tranh chấp dạng này và lúng túng khi xử lý vì luật gần như chưa có quy định.

Tòa án TP.HCM cho biết trước đây, khi tranh chấp này ra đến tòa thì đã có tòa nhận đơn thụ lý giải quyết nhưng có tòa không thụ lý. Sự không thống nhất này khiến nhiều người dân phàn nàn khá nhiều về cách làm việc của tòa. Quan điểm chung của ngành tòa án thành phố là nếu có tranh chấp về mồ mả thì phần mồ mả tòa sẽ không thụ lý giải quyết.

Đơn cử như vụ của bà N. ở quận Bình Tân. Bà được cha mẹ cho một miếng đất ở phường Bình Hưng Hòa. Sau đó, bà được quận cấp giấy chủ quyền. Do trên đất rải rác có một vài ngôi mộ của gia đình nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Hai năm trước, một người anh của bà qua đời. Gia đình người anh đã qua hỏi xin chôn trên đất của bà nhưng bà không đồng ý. Nhưng do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn, bà không hay biết. Năm 2007, khi biết việc, bà đã làm đơn khởi kiện vụ việc ra tòa, nhờ tòa tuyên dời mộ người anh ra khỏi đất của bà. Tuy nhiên, nhận đơn, tòa đã lắc đầu không thể thụ lý vì không thuộc thẩm quyền.

Continue reading →

THỎA THUẬN WTO GHI NHẬN VỀ CÁC QUY TẮC VÀ THỦ TỤC ĐIỀU CHỈNH VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SU

Phụ lục 2

Các Thành viên nhất trí như sau:

Điều I

PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ÁP DỤNG

1. Các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải được áp dụng cho những tranh chấp được đưa ra theo các quy định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt kê trong Phụ lục 1 của Thỏa thuận này (trong Thoả thuận này được gọi là những “hiệp định có liên quan”). Những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này cũng được áp dụng cho việc tham vấn và giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên về quyền và nghĩa vụ của họ theo các quy định của Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (trong Thỏa thuận này được gọi là “Hiệp định WTO”) và của Thỏa thuận này được xem xét riêng hoặc cùng với bất cứ hiệp định có liên quan nào khác.

2. Các quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này phải được áp dụng với điều kiện phải tuân theo những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp được ghi trong các hiệp định có liên quan được nêu trong Phụ lục 2 của Thỏa thuận này. Trong chừng mực có sự khác nhau giữa những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này và những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2, thì những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2 phải được ưu tiên áp dụng. Đối với những tranh chấp liên quan đến những quy tắc và thủ tục của hai hay nhiều hiệp định có liên quan, nếu có mâu thuẫn giữa những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong những hiệp định có liên quan đang được xem xét đó, và khi các bên tranh chấp không thỏa thuận được với nhau về các quy tắc và thủ tục trong vòng 20 ngày kể từ khi thành lập ban hội thẩm, thì trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của 1 trong 2 bên, Chủ tịch của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp  quy định tại khoản 1 Điều 2 (trong Thỏa thuận này được gọi là “DSB”), sau khi tham vấn với các bên tranh chấp phải quyết định những quy tắc và thủ tục nào phải tuân theo. Chủ tịch phải quyết định theo hướng dẫn của nguyên tắc là những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung cần phải được sử dụng khi có thể, và những quy tắc và thủ tục được nêu trong Thỏa thuận này cần được sử dụng ở mức cần thiết để tránh xảy ra mâu thuẫn. Continue reading →