BỘ LUẬT HAMMURABI – BỘ LUẬT CỔ XƯA NHẤT CỦA NHÂN LOẠI

THS. NGUYỄN MINH TUẤN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nền kinh tế của Lưỡng Hà phát triển chủ yếu là kinh tế nông nghiệp. Tuy vậy, kinh tế hàng hoá phát triển, dẫn đến nhu cầu cần phải có qui định để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ dân sự. Người Lưỡng Hà phát hiện chữ viết (văn tự) từ rất sớm (giữa thiên niên kỷ thứ 4 trước CN). Tiền lệ pháp, tập quán pháp đã được sử dụng rất rộng rãi trước khi Bộ luật này ra đời.

Về mặt nguồn gốc, Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người Amôrít. Bộ luật Hammurabi được phát hiện năm 1901 của đoàn khảo cổ người Pháp, khắc trên đá bazan cao 2,25 m và dựng tại quảng trường thành phố cho nhân dân đọc mà thi hành. Bộ luật Hammurabi là Bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời kỳ cổ đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận[1]. Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị. Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. Tác giả bộ luật đã ý thức sâu sắc kết hợp thần quyền, vương quyền, và pháp quyền, khiến bộ luật trở nên được “thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng.

Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật được hiện rõ ngay từ mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật:“Vì hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp muôn dân.”

Continue reading →

GIAO DỊCH BẢO CHỨNG: KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN –  Việc mua chứng khoán với khoản tiền trả trước ít hơn tổng giá trị phải bỏ ra ngay một lúc được gọi là mua theo bảo chứng (buying on margin). Thoạt đầu, do "margin" chỉ đơn thuần là cách vay tiền để mua chứng khoán, người ta đã gọi hoạt động này là vay mua. Nhưng về sau, khi bối cảnh margin ngày càng hoàn thiện, với các nghiệp vụ phức tạp và không chỉ liên quan tới tiền, thì cách hiểu và gọi đơn giản quá đã tỏ ta không còn phù hợp. Đặc biệt là trong "short sale" (bán trước), một nhánh quan trọng của nghiệp vụ margin, lại có giao dịch cần được hiểu là vay bán. Do vậy, gọi là giao dịch bảo chứng sẽ cho cách hiểu khái quát hơn.

Do quy mô về số lượng và giá trị giao dịch trên thị trường sẽ tăng mạnh thông qua tài khoản bảo chứng, người ta ví von hoạt động đầu tư được hỗ trợ bằng phương tiện tiến công này là "một nửa sôi động" của TTCK. Tại các thị trường phát triển, phương thức đầu tư bảo chứng không chỉ có bảo chứng để mua (vay để mua), mà gồm cả bảo chứng để bán (vay để bán). Tài sản vay và cho vay cũng không nhất thiết chỉ là tiền, mà còn là chứng khoán. Việc vay và cho vay được chế định và quản lý theo các nghiệp vụ đầu tư tài chính bài bản, vừa chặt chẽ, vừa theo hướng "tạo điều kiện" khá phức tạp, rủi ro được hạn chế đến mức tối đa… Chứ không đơn giản là thủ tục vay nợ thế chấp thông thường giữa chủ nợ và con nợ (như giữa ngân hàng và NĐT theo "Chỉ thị 03" ở ta hồi năm 2007). Tuy vậy, đối với người đầu tư, việc sử dụng tài khoản bảo chứng lại khá đơn giản và tiện lợi.

Các mối quan hệ trong bối cảnh margin được xếp đặt hợp lý và có thể chia thành ba đôi chính: giữa NĐT với CTCK, giữa CTCK với ngân hàng và giữa các CTCK với nhau hoặc với tổ chức tài chính khác (cách vay trực tiếp giữa NĐT với ngân hàng là nghiệp vụ tín dụng thế chấp, chỉ có một đôi). Các đôi quan hệ này gắn kết đối ứng về quyền lợi và nghĩa vụ với nhau theo nguyên tắc phân công chuyên nghiệp. Rủi ro như vậy được chẻ nhỏ, được ngắt ra từng đoạn nhằm hạn chế sự lây lan hay đổ vỡ dây chuyền. Bởi, ngân hàng tuy giỏi kinh doanh tiền, nhưng không thể sâu hơn CTCK về mặt chứng khoán và ngược lại… Hành lang luật lệ, các quy chuẩn chuyên ngành, phương pháp tính toán, yêu cầu tác nghiệp đồng bộ trong hệ thống… là các yếu tố hạ tầng khác không kém phần quyết định, giúp cho lĩnh vực hoạt động khá chuyên sâu này được vận hành một cách trơn tru và hiệu quả. Hình thức bảo chứng sở dĩ thuyết phục và hấp dẫn là do nó có cái móng được kết cấu chặt (theo cách vừa nói) trên cái nền biến động – hay sinh động – của hoạt động đầu tư tài chính.

Continue reading →

SUY NGẪM 39

1442115543_c8f80dba4a Con người là tất cả, chân lý đó luôn đúng. Nhưng nó sẽ trở thành vật cản cho sự phát triển khi người ta đánh giá sai về con người và sử dụng con người.

Dự thảo “Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền thành phố Hà Nội” đưa ra mục tiêu: Đến năm 2020, Hà Nội phấn đấu có 100% cán bộ diện Thành ủy quản lý có trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ diện UBND thành phố quản lý có trình độ trên đại học, trong đó một nửa cần đạt trình độ tiến sĩ, 100% cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn có trình độ đại học, trong đó 50% trên đại học.

Để giải thích cho mục tiêu trên, một thành viên ban soạn thảo Chiến lược nói trên cho rằng: “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”.

Tiến sĩ là  học vị dành cho giới giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đành rằng, nhiều tiến sĩ đã làm công tác quản lý và làm tốt, nhưng không thể đồng nghĩa làm công tác quản lý phải có học vị tiến sĩ.

Thực tế, giáo dục là ngành có nhiều tiến sĩ nhất và là nơi đào tạo tiến sĩ nhưng hiện nay là một trong các ngành cần có sự đột phá nhất về tư duy.

Như TS. Hồ Tú Bảo viết trên tuanvietnamnet ngày 20/09/2009: “Nếu chỉ là ý kiến của một cá nhân thì cũng không có gì phải bàn, nhưng nếu đã thành chiến lược về cán bộ chính quyền của thành phố thì có những điều cần trao đổi”. Chẳng lẽ Hà Nội lại muốn sử dụng “liệu pháp sốc” để có tên trên bản đồ nhiều hơn chăng? Thiết nghĩ không cần thiết như vậy, vì sau một loạt các sự cố ngập lụt, chèn bê tông vào những khoảng cây xanh hiếm hoi, hiệu quả trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa, cấm bán hàng rong  và mới đây lâm tặc chặt cây giữa lòng thành phố… người ta cần Hà Nội có các quyết sách thực chất vì sự phát triển bền vững của thành phố hơn là tư duy lãng mạn, bay bổng ở tầng thinh không.

CIVILLAWINFOR

(Các số liệu được Civillawinfor tổng hợp tử tuanvietnam.net)

Xem các số khác

VỀ KHAI THÁC KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN TÁC GIẢ THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẬP THỂ TẠI VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN NAM  – Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Hiện nay, việc sở hữu quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp quảng bá, lưu thông, bảo vệ, phát triển các hàng hóa và dịch vụ của mình trên thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do nhu cầu chuyển giao và được chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng lên, các giao dịch khai thác quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả tại Việt Nam cũng trở lên đa dạng.

Việc tiến hành khai thác, sử dụng quyền tác giả một cách có hiệu quả thông qua các tổ chức quản lý tập thể đang được xã hội và cộng đồng doanh nghiệp hết sức quan tâm. Tuy nhiên, về tổ chức quản lý tập thể và việc hình thành hệ thống quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là vấn đề còn mới mẻ và phức tạp đối với Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh theo quy định của pháp luật.

1. Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ và viêc khai thác, chuyển giao quyền tác giả

Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia. Theo nhà kinh tế học Paul Romer coi sự tích lũy về tri thức chính là lực lượng điều khiển đứng đằng sau tăng trưởng kinh tế, muốn thúc đẩy tăng trưởng, chính sách kinh tế phải khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và triển khai những nhân tố mới. Hệ thống thể chế và pháp luật của mỗi quốc gia phải khuyến khích và tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ trên thực tiễn, trong hoạt động kinh doanh. Tài sản trí tuệ là một phương tiện đầu tư, kinh doanh quan trọng trong nền kinh tế thị trường và là công cụ để phát triển doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, không chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài mà ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang nhận ra giá trị hiện thực của loại tài sản trí tuệ và mong muốn sử dụng những lợi thế của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để phát triển kinh tế – xã hội [1].

Continue reading →

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án.

Điều 2. Xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Nhà nước chỉ bồi thường đối với các trường hợp thiệt hại được quy trong phạm vi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có đủ các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết trong các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép;

b) Thiệt hại xảy ra trong điều kiện vì người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn;

c) Các trường hợp do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết khác theo quy định của pháp luật.

Continue reading →

LÀM LUẬT VÌ THỜI ĐẠI DÂN DOANH

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Để theo kịp với thời thế, Quốc hộ nước ta hàng năm phải ban hành khoảng 30 đạo luật. Trong khi đó, mỗi năm quốc hội chỉ thông qua trên dưới 10 đạo luật. Cũng như thế, riêng năm 2003 Chính phủ còn nợ trên dưới 100 nghị định đáng lẽ cần phải được ban hành dể hướn dẫn thi hành các đạo luật (Tác giả viết bài này vào thời điểm năm 2004). Cứ đà này chúng ta dường như thiếu luật triền miên, và có phải sự thiếu thốn đó làm cho nước ta nghèo và lạc hậu? Muốn pháp luật thực sự có thể góp phần chấn hưng quốc gia, cần phải xem xét lại vai trò của nó và cách thức làm cho pháp luật phuc vụ cho một nền kinh tế phát triển. Bài viết dưới đây bàn về pháp luật và cách làm luật cho phù hợp với thời đại ngày nay.

Pháp luật phục vụ nhà nước hay phục vụ nhân dân?

Đường sắt Việt Nam cõng trên lưng nó những đoàn tàu cũ kỹ, hoan hỉ loan báo đã rút dần thời gian cho tuyến Bắc Nam từ 46 tiếng, xuống còn 40 tiếng , rồi 36 tiếng. Thế có lẽ cũng là kịch đường tàu, bởi làm sao có thể có đường sắt hiện đại trên tuyến đườn ray vừa quá hẹp, lại cũ mòn và chắp vá.

Cũng như vậy muốn thực sự cải cách pháp luật, trước hết phải nỗ lực thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về pháp luật. Không phải là công cụ để nên quan chế cai trị nhân dân, mà ngược lại, pháp luật sinh ra để bảo vệ nhân dânvà khống chế quyền lực nhà nước. Đó là một cuộc lột xác đau đớn với những ai đang giữ quyền, bởi cai trị và ban phát mệnh lệnh cho người khác bao giờ cũng dễ chịu và thoải mái hơn là chịu để người khac cương tỏa, giám sát mình.

Nhà nước, thị trường đều là những dạng thức thể hiện quyền lực. Có lẽ đã đến lúc không thể né tránh nghiên cứu về các loại quyền lực và các quy luật của chúng trong xã hội Việt Nam xưa cũng như nay. Giới trí thức Việt nam có lẽ phải đối mặt với một thứ khoa học cắt nghĩa về quyền lực, nhất là quyền lực nhà nước trong xã hội Việt Nam đương đại. Pháp luật từ lâu chỉ là công cụ triể khaiquyền lực nhà nước ; trong hai chữ Hán Việt đó đã không còn vang lên mạnh mẽ khát vọnh về lẽ trung chính, sự thật và công lý ở đời. Luật của nước ta là luật của giai cấp thống trị, từ lâu nay người Việt Nam xem tuân thủ pháp luật như là nghĩa vụ mà nhà nước áp đặt, chứ không tự nguyện cung kính tôn thờ nó như là quy luật của cuộc đời, của lẽ phải, của những gì được xem là cao quý và đáng tôn thờ nhất.

Continue reading →

Một số vấn đề pháp lý cơ bản CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN

NGUYỄN DUY CHIẾN

Ngày 20/11/2007 bản Hiến chương của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) gồm 13 chương với 55 điều khoản và 4 phụ lục đã được các nguyên thủ và người đứng đầu Chính phủ của 10 quốc gia thành viên long trọng thông qua và ký tại Sinh -ga-po nhân dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13.

Việc ký kết Hiến chương ASEAN đánh dấu một mốc lịch sử và có một ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam á. Cho đến nay, bản Hiến chương ASEAN đã được 10 quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2009. Nhân sự kiện này, bài viết giới thiệu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến chương ASEAN.

1. Quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

1.1. Quy chế pháp lý của ASEAN

Hiến chương ASEAN lần đầu tiên khẳng định rõ ràng quy chế pháp lý quốc tế của tổ chức ASEAN. Như chúng ta biết, ASEAN ra đời từ năm 1967 qua việc thông qua Tuyên bố Băng cốc – một văn kiện mang tính chính trị, chứ không phải văn kiện pháp lý. Sau 40 năm phát triển, hiện nay, ASEAN trên thực tế là một tổ chức khu vực quan trọng, nhưng về mặt pháp lý, ASEAN vẫn là một hiệp hội. Cùng với việc ký kết Hiến chương, quy chế pháp lý của ASEAN đã được thay đổi một cách căn bản. Điều 3 của Hiến chương quy định “ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có quy chế pháp lý”. Trong quá trình thương lượng, các nước ASEAN đều nhất trí duy trì tính chất liên chính phủ của ASEAN, ASEAN không phải là một tổ chức siêu quốc gia và cũng chưa phải lúc gọi nó là Liên minh.

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên. Câu hỏi đặt ra là: trong tương lai ASEAN có mở rộng ra nữa không? Và, tiêu chí để các quốc gia khác trở thành thành viên mới sẽ thế nào? Điều 6 của Hiến chương ASEAN nêu rõ 4 tiêu chí cụ thể như sau: Một là, quốc gia đó phải ở trong khu vực địa lý Đông Nam á được công nhận (tiêu chí này loại trừ việc ASEAN trở thành một tổ chức liên khu vực); Hai là, quốc gia đó phải được tất cả các thành viên của ASEAN công nhận; Ba là, quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của Hiến chương; Bốn là, quốc gia đó có khả năng và thiện chí thực hiện các nghĩa vụ thành viên của tổ chức. Hai tiêu chí sau tương tự như quy định của Hiến chương Liên hiệp quốc (1) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác, còn hai tiêu chí đầu mang tính đặc thù của ASEAN. Quyết định cuối cùng về việc kết nạp phải do Hội nghị cấp cao thông qua bằng đồng thuận.

Continue reading →

THÔNG TƯ 60/2009/TT-BNNPTNT NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 12/2006/NĐ-CP NGÀY 23/01/2006 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ CÁC ĐẠI LÝ, MUA, BÁN, GIA CÔNG VÀ QUÁ CẢNH HÀNG HOÁ VỚI NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

Căn cứ Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Căn cứ Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý, mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài;
Căn cứ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
Căn cứ Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm;

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nông nghiệp như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này qui định trình tự, thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản gồm:

a. Xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên trong nước; củi, than làm từ gỗ hoặc củi có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước;

b. Xuất khẩu, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm;

c. Xuất khẩu, nhập khẩu giống cây trồng;

d. Xuất khẩu, nhập khẩu giống vật nuôi;

Continue reading →

CHỨC DANH CHÁNH ÁN, PHÓ CHÁNH ÁN LÀ “HÀNH CHÍNH” HAY TỐ TỤNG

PHÁP LUẬT VIỆT NAM – Báo Pháp luật Việt Nam ngày 18/5/2007 có bài viết nêu vấn đề và đưa ra nhiều câu hỏi với mục đích làm rõ quan niệm đối với chức danh Chánh án và Phó Chánh án hiện nay – là chức danh “hành chính” hay “tố tụng”? Với những người nghiên cứu, quan niệm về các chức danh này nói riêng và sự phân định “hành chính”, “tư pháp” nói chung là một trong những vấn đề rất được quan tâm khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật. Trong khoa học pháp lý, vấn đề phân định các khái niệm đã và đang làm cho những người nghiên cứu bị lúng túng. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải tìm ra cách thức tiếp cận và giải quyết vấn đề đúng đắn. Bài viết dưới đây xin được góp thêm ý kiến trong việc nhận thức về những vấn đề này.

Trước hết, để có nhận định chính xác khi phân biệt các khái niệm nêu trên, cần phải tiếp cận từ khái niệm quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chỉ là công tác chỉ đạo, điều hành mà thẩm quyền thuộc về nhánh quyền hành pháp. Tuy nhiên, để quản trị quốc gia, quản lý nhà nước không chỉ thuộc thẩm quyền của nhánh hành pháp mà bao gồm tất cả các hoạt động từ việc xây dựng thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm… Như vậy, hoạt động xét xử của Tòa án (theo nghĩa rộng) cũng là hoạt động quản trị. Việc phân chia thành hoạt động “tố tụng” hay “hành chính” (theo nghĩa hẹp) chỉ có tính chất phân loại để dễ nhận thức, phục vụ cho việc xây dựng thể chế.

Tiếp cận từ khái niệm “hành chính”. Bản thân cụm từ “hành chính” đã có nghĩa là quản lý, chỉ đạo, điều hành và thể hiện quyền lực được trao. Mỗi một tổ chức, cơ quan, đơn vị, dù bất kỳ trong lĩnh vực thuộc khu vực công (lập pháp, hành pháp hay tư pháp) hay tổ chức thuộc khu vực tư cũng phải có chủ thể có thẩm quyền quản lý. Đó là một chức danh “hành chính”. Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước, sự hiện diện một chức danh quản lý và tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này là không thiếu được. Vì vậy, các chức danh Chánh án, Phó Chánh án trước hết phải được hiểu là chức danh “hành chính”.

Continue reading →

XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM

TS. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG – Viện Nghiên cứu xã hội

Cho đến nay, chưa có một văn bản nào của Đảng và Nhà nước đưa ra khái niệm xã hội dân sự, song trên thực tế theo các quan niệm phổ biến quốc tế, xã hội dân sự thực chất không phải là một thực tế xã hội xa lạ đối với Việt Nam. Ngay từ xa xưa tính cộng đồng, làng xã, tình làng nghĩa xóm, yêu thương đùm bọc lẫn nhau đã mang đặc trưng rõ nét của truyền thống giá trị văn hóa, niềm tin, tính cộng đồng, chia sẻ trách nhiệm vì các công việc chung. Đó là những giá trị cơ bản của xã hội dân sự đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta.

Lịch sử cận đại của Việt Nam đầu thế kỷ 20, mang nhiều dấu ấn của các phong trào quần chúng, và các tổ chức xã hội dân sự tham gia giải phóng dân tộc. Chẳng hạn cuối tháng 4 năm 1904, Hội Duy Tân được thành lập với mục đích “Cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả”. Nhiệm vụ trước mắt của Hội được đề ra trong ngày thành lập là phát triển thế lực của Hội về người và về tài chính; chuẩn bị bạo động và phương án hỗ trợ sinh viên xuất dương sang Nhật học tập và cầu vận. Cùng thời kỳ này, các Hội khuyến học cũng ra đời nhằm giúp hội viên học hỏi, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện. Phong trào này là cơ sở để đưa tư tuy cải cách văn hóa giáo dục và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc cho Việt Nam.

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam cũng là sự kế thừa các phong trào xã hội dân sự. Trong phong trào cải cách và giải phóng dân tộc, Cụ Hồ Chí Minh trong Yêu sách gửi hội nghị Hòa bình Versailles ngày 19/06/1919, Người đã chỉ rõ những giá trị bình đẳng bác ái, không phân biệt người bản xứ và người chính quốc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, xây dựng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đó là những giá trị nền tảng của xã hội dân sự.

Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý và giá trị của xã hội dân sự trong công cuộc giải phóng đất nước. Thời kỳ 1936 – 1939, Đảng rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quần chúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ, hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt sao tập hợp được đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng. Đảng quyết định lấy tên Thanh niên phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay cho Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ. Các tổ chức hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thường hằng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phường đi săn, hội hát kịch…

Continue reading →

THỰC TRẠNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

THS. DƯƠNG THỊ BÌNH – Bộ Tư pháp

Công khai thông tin làm gia tăng mạnh mẽ niềm tin của người dân vào Chính phủ, còn che giấu sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt tạo ra sự ổn định chính trị, nên công khai thông tin cần phải được coi là một ưu tiên của Chính phủ. Nhà nước Việt Nam, trong thời gian tới sẽ ban hành Luật Tiếp cận thông tin, nhằm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân và thi hành tốt Luật này sẽ làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, phát huy trí tuệ, tính tích cực của nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và tăng cường dân chủ, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, vốn là điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững.

1. Quyền tiếp cận thông tin trong hệ thống pháp luật nước ta

Ở nước ta, để đảm bảo quyền được thông tin, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua Đại hội VII năm 1991. Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sau đó ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật”. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và quyền con người nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng có mối quan hệ tác động qua lại rất mật thiết. Quyền được thông tin có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong thời gian qua, quyền tiếp cận thông tin cũng được sự quan tâm thích đáng của Đảng và đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Continue reading →

MUA BÁN NỢ VÀ TÀI SẢN TỒN ĐỌNG CỦA DOANH NGHIỆP: LẠI VƯỚNG . . . CƠ CHẾ

PHAN NAM Thực hiện

Hoạt động mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN đã giúp nhiều DN phục hồi, hoạt động sản xuất, kinh doanh và tránh được thiệt hại tài chính do DN vay vốn mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên do đây là lĩnh vực còn rất mới nên các quy định hiện hành chưa tạo động lực để các DN phát huy.

Chính vì vậy theo dự kiến cuối tháng 7/2009, Bộ Tài chính sẽ ban hành Quy chế mới về điều lệ hoạt động của công ty mua bán nợ. Trao đổi với DĐDN ông Phạm Thanh Quang – TGĐ Cty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN (DATC) cho rằng rào cản lớn nhất chính là hành lang pháp lý.

– Từ thực tế của DATC trong thời gian vừa qua, theo ông đâu là khó khăn vướng mắc lớn nhất đối với hoạt động của Cty mua bán nợ ?

Khó khăn lớn nhất đối với hoạt động của TCty hiện nay vẫn là vướng ở cơ chế. Do chưa có chế tài cụ thể cho lĩnh vực này nên tạo ra những cách hiểu và những ý kiến khác nhau.

Thứ nhất là về cơ chế xoá nợ. Hiện nay Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn cụ thể về xoá nợ như thế nào đối với các khoản nợ tiếp nhận không còn khả năng thu hồi. Muốn tái cấu trúc DN thì phải xử lý tồn tại cũ, làm lành mạnh hoá tài chính nhưng hiện nay để làm được điều này phải xin ý kiến của Bộ Tài chính, chứ Cty mua bán nợ không tự quyết được, dẫn đến việc kéo dài thời gian.

Thứ hai là do chưa có hướng dẫn cụ thể nên có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định đối tượng DN khách nợ như thế nào? Chỉ mua DN nhà nước, hay áp dụng cho mọi thành phần kinh tế ? Xu hướng hiện vẫn nghiêng về phía DN nhà nước. Trên thực tế hiện nay pháp luật đã quy định mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng. Và nếu như giải quyết được khó khăn cho DN dù là tư nhân hay nhà nước thì đều góp phần tích cực làm lành mạnh hoá nền kinh tế. Sở dĩ có tâm lý trên là theo quy định hiện hành việc mua bán dựa trên thoả thuận nên sợ phát sinh tiêu cực.

Continue reading →

Tìm hiểu chính sách thị trường lao động, việc làm của một số đảng dân chủ xã hội hiện nay – NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CÓ Ý NGHĨA THỰC TIỄN VỚI VIỆT NAM

PGS.TS. CAO DUY HẠ

Các Đảng dân chủ xã hội cầm quyền ở nhiều nước hiện nay đang thực hiện cải cách chính sách thị trường lao động. việc làm theo những xu hướng chính sau đây:

I. Chính sách thị trường lao động, việc làm của một số đảng dân chủ xã hội hiện nay
1. Xu hướng chung:

Một là, giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, việc làm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay và sự tác động từ nhiều phía vào nền kinh tế của từng quốc gia, đặc biệt là sự tác động của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, buộc các Đảng dân chủ xã hội và chính phủ của họ phải thực thi các chính sách quản lý giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, nâng cao tính năng động tự thân vận động của thị trường lao động, việc làm, chỉ có như vậy mới bảo đảm cho nền kinh tế thị trường đạt hiệu quả cao không bị rơi vào tình trạng ngõ cụt.

Hai là, khống chế tiền lương thấp và trợ cấp thất nghiệp, đây là những chính sách tỏ ra có hiệu quả trong việc lôi kéo đông đảo người lao động tham gia thị trường lao động, tăng số người có việc làm, giảm số người thất nghiệp, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân; khắc phục tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thậm chí âm.

Ba là, thực hiện một thiết chế quan hệ xã hội mới về thị trường lao động, việc làm đó là : Nhà nước, giới chủ và người lao động là 3 chủ thể nằm trong chính sách điều tiết thị trường lao động, việc làm. Thiết chế này mang tính xã hội mềm dẻo hơn và người lao động cũng có vai trò quan trọng nhất định, buộc Nhà nước mỗi khi đề ra chính sách thị trường lao động, việc làm phải cân nhắc kỹ càng hơn, bảo đảm hài hoà các lợi ích Nhà nước, giới chủ và người lao động.

Continue reading →

TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM CỦA MỘT SỐ ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI HIỆN NAY – NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CÓ Ý NGHĨA THỰC TIỄN VỚI VIỆT NAM

PGS.TS. CAO DUY HẠ

Các Đảng dân chủ xã hội cầm quyền ở nhiều nước hiện nay đang thực hiện cải cách chính sách thị trường lao động. việc làm theo những xu hướng chính sau đây

I. Chính sách thị trường lao động, việc làm của một số đảng dân chủ xã hội hiện nay
1. Xu hướng chung:

Một là, giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, việc làm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay và sự tác động từ nhiều phía vào nền kinh tế của từng quốc gia, đặc biệt là sự tác động của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, buộc các Đảng dân chủ xã hội và chính phủ của họ phải thực thi các chính sách quản lý giảm thiểu sự điều tiết từ phía Nhà nước, nâng cao tính năng động tự thân vận động của thị trường lao động, việc làm, chỉ có như vậy mới bảo đảm cho nền kinh tế thị trường đạt hiệu quả cao không bị rơi vào tình trạng ngõ cụt.

Hai là, khống chế tiền lương thấp và trợ cấp thất nghiệp, đây là những chính sách tỏ ra có hiệu quả trong việc lôi kéo đông đảo người lao động tham gia thị trường lao động, tăng số người có việc làm, giảm số người thất nghiệp, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân; khắc phục tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thậm chí âm.

Ba là, thực hiện một thiết chế quan hệ xã hội mới về thị trường lao động, việc làm đó là : Nhà nước, giới chủ và người lao động là 3 chủ thể nằm trong chính sách điều tiết thị trường lao động, việc làm. Thiết chế này mang tính xã hội mềm dẻo hơn và người lao động cũng có vai trò quan trọng nhất định, buộc Nhà nước mỗi khi đề ra chính sách thị trường lao động, việc làm phải cân nhắc kỹ càng hơn, bảo đảm hài hoà các lợi ích Nhà nước, giới chủ và người lao động.

Continue reading →

QUA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU, NGHĨ VỀ VAI TRÒ QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC

PGS. TS. ĐINH TRỌNG THỊNH – Học viện Tài chính

Trước những diễn biến khôn lường của cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu, các nhà nước trên thế giới đã có thêm nhiều biện pháp mới để đối phó. Hiện trạng này đã cung cấp thêm nhiều cách nhìn về vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế thị trường. Một điều chắc chắn là, sau cuộc khủng hoảng này, vai trò của nhà nước với quản lý và điều hành nền kinh tế sẽ có nhiều thay đổi ở các quốc gia trên thế giới…

Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chuyển sang nền kinh tế thị trường. Các nhà kinh tế học theo trường phái tân tự do và thậm chí cả các nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển đều cho rằng, nền kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế duy nhất đúng, và những nền kinh tế tư bản phát triển với sự can thiệp tối thiểu của nhà nước như Mỹ, Anh… là hình mẫu phát triển của các quốc gia trên thế giới. Các nhà kinh tế của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực đã khuyến khích các quốc gia – nhất là các quốc gia ở Đông Âu và các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường – thực hiện quá trình tư hữu hoá, cổ phần hoá, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Đặc biệt, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế bị lu mờ. Hơn thế, nhiều nhà kinh tế cho rằng, sự can thiệp của nhà nước sẽ bóp méo tín hiệu thị trường, cản trở các hoạt động, tạo ra sự phân bổ nguồn lực bất hợp lý, thậm chí làm thui chột động lực phát triển của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát ở Mỹ từ cuối năm 2007, đầu năm 2008 và nhanh chóng trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào cuối năm 2008 đang buộc các nhà kinh tế xem xét lại vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế thị trường hiện đại.

Continue reading →

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: NỖI KHỔ MUA NHÀ ĐẤU GIÁ

CHI MAI

Làm đúng pháp luật nhưng gặp đủ kiểu bất trắc, đó là tình trạng của những người mua nhà đấu giá từ cơ quan thi hành án.

Bất trắc đầu tiên là chậm được giao nhà, thời gian chờ đợi vài năm là chuyện thường! Ông Lâm Quý Trọng (ngụ P.18, Q.4, TP.HCM) nói đã gửi không biết bao nhiêu thư khiếu nại tới các cơ quan chức năng vì việc mua trúng đấu giá căn nhà 89B Cách Mạng Tháng Tám, Q.1 nhưng chưa được nhận nhà.

Hai tháng thành hai năm

Theo hồ sơ của cơ quan thi hành án, căn nhà 89B Cách Mạng Tháng Tám thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Hoàng và bà Phạm Thị Xi, được thế chấp ngân hàng để vay 1,5 tỉ đồng. Quá hạn trả nợ, phía ngân hàng đã khởi kiện và hai bên thống nhất “chốt” khoản nợ (cả gốc và lãi vay) hơn 2 tỉ đồng. Tuy nhiên, việc thi hành án liên tục bị phía đương sự khiếu nại nên kéo dài hơn 10 năm. Tháng 10-2007, Thi hành án TP.HCM ký ủy quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản để bán nhà và ông Trọng đã trúng đấu giá căn nhà trên.

Ông Trọng bức xúc: “Trong hợp đồng, trung tâm đấu giá và cơ quan thi hành án cam kết sẽ giao nhà cho tôi trong vòng 30 ngày, nếu có phải tổ chức cưỡng chế nhà thì cũng không quá 60 ngày. Thế mà suốt từ đó đến nay đã hai năm, tôi vất vả lên xuống không biết bao nhiêu lần mà cũng chỉ nhận được lời hẹn của thi hành án, không biết đến ngày nào mới nhận được nhà”. Để có đủ tiền hơn 7 tỉ đồng mua căn nhà này, ông Trọng cho biết đã phải vay nóng một khoản tiền lớn với lãi suất cao: “Mỗi tháng tôi tốn hàng chục triệu đồng cho khoản vay nóng này. Hiện nay gia đình tôi đã lâm vào tình trạng lãi mẹ đẻ lãi con, nợ nần chồng chất rất căng thẳng”.

Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo Thi hành án dân sự TP.HCM cho biết đang chuẩn bị lên kế hoạch cưỡng chế giao nhà. Được biết, cuối năm 2008 thi hành án từng lên kế hoạch cưỡng chế một lần nhưng lại không thực hiện.

Continue reading →

SỬ DỤNG CÔNG CỤ LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ TRONG GIAI ĐOẠN SUY GIẢM KINH TẾ

PGS.TS. NGUYỄN THỊ MÙI – Giám đốc Trường Đào tạo & PTNNL VietinBank

Tình hình kinh tế, tài chính ở Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2009 đã có dấu hiệu khởi sắc: GDP đã tăng trên 4%/năm, nhập siêu được cải thiện, lạm phát ở mức 3,2%/năm so với năm 2008(1), nhiều doanh nghiệp (DN) đã và đang trong quá trình phục hồi phát triển mạnh; chỉ số chứng khoán tăng nhanh(2). Song  xem xét một cách toàn diện thì kinh tế – tài chính vẫn còn dấu hiệu bất ổn, thị trường xuất khẩu truyền thống bị co hẹp, kim ngạch xuất khẩu hầu như không tăng, nhưng kim ngạch nhập khẩu lại tăng đều từ ngưỡng 5,4 tỷ USD tháng 5 nay đã lên tới 6,2 tỷ USD tháng 8, xuất khẩu khó đạt mục tiêu đặt ra(3).

Tín dụng có dấu hiệu tăng trưởng nóng, tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn kịch trần, sức ép lạm phát không nhỏ. Tháng 7&8 nhiều giải pháp từ phía Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các Bộ, Ngành tiếp tục được triển khai. NHNN có một số động thái kiểm soát tín dụng tiêu dùng, chứng khoán, cũng như giảm tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn đối với từng tổ chức tín dụng(4), để một mặt giúp các tổ chức tín dụng đảm bảo an toàn thanh khoản, mặt khác phát đi tín hiệu kiềm chế tốc độ tăng trưởng nóng của nền kinh tế. Giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế, sử dụng công cụ lãi suất và tỷ giá theo hướng nào để chủ động kiểm soát lạm phát, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế ổn định vào năm 2010 và các năm tiếp theo là vấn đề cần phải trao đổi. Bài viết này xin bàn đến một khía cạnh nhỏ, đó là sử dụng công cụ lãi suất & tỷ giá hối đoái trong giai đoạn hậu suy giảm kinh tế.

Thứ nhất, công cụ lãi suất

Với những diễn biến hiện tại trên thị trường tín dụng: sức ép về vốn gia tăng, hầu hết các ngân hàng thương mại (NHTM) đã đẩy lãi suất huy động VND đến trên 9%/ năm  đối với kỳ hạn dài, lãi suất ở hầu hết các kỳ hạn ngắn hạn cũng được điều chỉnh, trong khi lãi suất đầu ra cho sản xuất kinh doanh vẫn đang được khống chế ở mức tối đa 10,5%/ năm. Một câu hỏi đặt ra là: Có nên tiếp tục khống chế trần lãi suất cho vay đối với các NHTM? Lúc này đã nên thực hiện được cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận đối với mọi đối tượng vay vốn chưa? Với chênh lệch đầu vào và đầu ra như vậy, mức độ rủi ro đối với các NHTM sẽ được xử lý thế nào? Về vấn đề này còn có ý kiến khác nhau.

Continue reading →