ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN: TRÍ THỨC TRUNG QUỐC ĐANG NGHĨ GÌ?

TRẦN HỮU DŨNG*

Như Việt Nam, Trung Quốc hiện phải đương đầu với nhiều thử thách kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. Kinh nghiệm của họ đặc biệt là hữu ích vì, cũng như Việt Nam, họ là một nước “xã hội chủ nghĩa” (trên danh nghĩa) và chỉ thực sự bắt đầu cải cách khoảng ba mươi năm nay (trước Việt Nam độ 10 năm).  Đó là chưa nói đến một lý do quan tâm thiết thực nhất cho chúng ta: Trung Quốc là một quốc gia cận kề, ảnh hưởng lớn lao đến Việt Nam về văn hóa, về chính sách (và nhiều phương diện khác nữa!).  Hiển nhiên, đã có vô số văn kiện, báo cáo của nhà nước Trung Quốc về các kinh nghiệm này, và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả Tây phương về Trung Quốc, song, đối với những người muốn nhìn vấn đề từ nhiều phía thì vẫn còn một điều muốn biết: còn những trí thức Trung Quốc ngoài chính quyền, tương đối độc lập, thì họ nghĩ sao? 

Bài này giới thiệu một số nhận định và phân tích của các học giả Trung Quốc về những vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường… của nước họ.  (Những ý kiến về chính trị, ngoại giao và quốc phòng sẽ được dành cho một bài khác.)  Đây là những công trình được thấy trên các ấn phẩm được phép xuất bản ở Trung Quốc, nhưng không phải là trong các văn kiện chính thức của Đảng và chính phủ nước này. Theo nhiều nhà bình luận thì tác giả của những ý kiến này có thể được xếp (một cách đại thể) thành hai “phe”: một phe là nhóm trí thức thường được gọi là Tân Tả, và phe kia là nhóm thường được mệnh danh “phóng khoáng” (đôi khi cũng được gọi là Tân Hữu).  Song, phải thêm: giữa hai phe này có những người… không thuộc phe nào.  Đó cũng là cấu trúc của bài này.[1]

I.  Phái Tân Tả

Nhớ lại, ngay từ những năm 1990, sau hơn một thập kỷ theo đuổi và có nhiều thành tựu đáng kể, chính sách cải cách theo hướng thị trường của Trung Quốc đã bị nhiều trí thức nước này chỉ trích. Tuy chuyên về nhiều ngành khác nhau (sử học, kinh tế, xã hội, môi trường, vv.. ) và theo nhiều tiếp cận khác nhau, những trí thức này có chung một số quan tâm về đất nước họ.

Một là, họ bất bình về tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng và sự suy đồi đạo đức (theo họ) của Trung Quốc.  Dù không có ý hô hào Trung Quốc trở lại như trước thời kỳ cải cách, họ nhớ lại thời kỳ này với nhiều luyến tiếc. 

Continue reading →

GIÁM SÁT XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN HUY PHƯỢNG – Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp là một loại giám sát có tính đặc thù trong tổng thể cơ chế giám sát đối với quyền lực nhà nước nói chung, phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước Việt Nam. Việc tăng cường vai trò của giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp sẽ góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn yêu cầu bảo vệ công lý cũng như xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của đất nước.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp

Để khắc phục sự lạm quyền trong thực thi quyền lực tư pháp cũng như những vi phạm, sai sót trong công tác tư pháp, Nhà nước ta đã thiết lập, xây dựng các cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm sát… khác nhau đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp. Bên cạnh cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm sát do các cơ quan đảng, nhà nước tiến hành, Nhà nước cũng thiết lập cơ chế giám sát xã hội đối với hoạt động của Nhà nước nói chung, trong đó có hoạt động tư pháp.

Giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp là một loại giám sát đặc thù trong tổng thể cơ chế giám sát thực thi quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội, hiệp hội, liên hiệp hội, tổ chức phi chính phủ và công dân. Ngoài những chủ thể nêu trên, phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội cũng được coi là chủ thể của giám sát xã hội trong việc theo dõi, quan sát, xem xét, đánh giá hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, cũng như việc tổ chức và thực thi quyền lực tư pháp của cán bộ, công chức các cơ quan tư pháp.

Tất cả các hoạt động của các chủ thể giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp đều góp phần quan trọng làm cho các cơ quan tư pháp, cán bộ, công chức của các cơ quan tư pháp hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm

Anabolic steroids and generics Viagra increase in muscle recovery, supporting fast and effective recovery so you can keep pushing yourself through every training session. Optimum results in terms of visual winstrol oral stanozolol 50 appearance as well, with customers raving about their ripped physiques after use of Anabolic steroids and generics Viagra. Anabolic steroids and generics Viagra is designed with both men and women in mind – supporting and providing the best results no matter what overall tone and result you are looking for.

vi, giới hạn quyền lực được giao; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và bảo đảm cho các hoạt động tư pháp thực hiện đúng pháp luật một cách khách quan, khoa học, hiệu quả, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý; giữ vững bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Continue reading →

LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỐI PHIẾU, SÉC VÀ KỲ PHIẾU 1982

Ủy ban Luật Thương Mại Quốc Tế của Liên Hợp Quốc kỳ họp thứ 15, New York, ngày 26 tháng 7 đến 6 tháng 8, 1982

Chương I

PHẠM VI ỨNG DỤNG VÀ HÌNH THỨC PHƯƠNG TIỆN

Ðiều 1:

1. Quy ước này áp dụng cho hối phiếu quốc tế và kỳ phiếu quốc tế.

2. Hối phiếu quốc tế là một phương tiện:

a. Chứa đựng trong nội dung của nó những từ”Hối Phiếu Quốc Tế”;

b. Chứa đựng một lệnh vô điều kiện trong đó người ký phát chỉ thị cho người trả tiền phải trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này;

c. Phải thanh toán khi yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định;

d. Ðược đề ngày tháng năm;

e. Chỉ cho thấy rằng ít nhất hai của những địa điểm sau đây ở trong những nước khác nhau: 

i.   Ðịa điểm hối phiếu được phát hành;

ii.   Địa điểm ghi bên cạnh chữ ký của người phát;

iii.  Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người trả tiền;

iv.  Ðịa điểm ghi bên cạnh tên của người hưởng lợi; Continue reading →

CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT CƠ BẢN: GIẢI PHÁP PHÙ HỢP VỚI THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

TS. NGUYỄN NGỌC BẢO – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính – tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước thay đổi theo hướng tự do hoá. Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, thị trường tài chính – tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đa mục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế.

Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

– Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.

– Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% – 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc "bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.

Continue reading →

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN – ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG – Đại học Luật Hà Nội

Quyền tiếp cận thông tin chính là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện các quyền con người và quyền công dân. Trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, quyền tiếp cận thông tin đã và đang trở nên một quyền cơ bản và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người và công dân. Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin đối với Việt Nam hiện nay là cần thiết và cấp bách.

1. Nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin (right to access to information) là quyền của mọi công dân được tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không vì bản thân họ mà với tư cách là người bảo vệ lợi ích của công chúng. Thông tin được coi là tài sản quốc gia và cũng như mọi tài sản khác, không thể để cho một cá nhân hay tổ chức nào độc quyền chiếm đoạt nếu đó không phải là các thông tin liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân. Quyền tiếp cận thông tin được coi là một trong những quyền cơ bản của con người và công dân. Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào mà không có biên giới”. Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã quy định: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp vào. Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Nhận thức được tầm quan trọng của Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị, Việt Nam đã tham gia Công ước này năm 1982.

Continue reading →

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN

TS. NGUYỄN HỮU LONG – BDSC Corporation

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước nhà, đã có rất nhiều doanh nghiệp ra đời và phát triển không ngừng. Số lượng các công ty tăng lên, quy mô các công ty ngày càng lớn, và đã bắt đầu xuất hiện các tập đoàn tư nhân.

Các tập đoàn “tự phong” này được hình thành thông qua việc thành lập một số công ty con, chủ yếu có quan hệ về vốn sở hữu với công ty mẹ hoặc với nhóm chủ sở hữu lớn của công ty mẹ. Do Luật Doanh nghiệp quy định tập đoàn không có tư cách pháp nhân, không được đăng ký kinh doanh, nên nhiều công ty đưa luôn cụm từ “tập đoàn” vào trong tên đăng ký chính thức của công ty mẹ như một cách để khẳng định tầm cỡ và vị thế hùng mạnh của mình. Ngày càng nhiều công ty có tên “Công ty cổ phần tập đoàn…” ra đời cùng với sự ra đời của các nhóm công ty có mối liên kết với nhau theo nhiều hình thức, nhưng đa số vẫn là hình thức đầu tư, góp vốn từ công ty mẹ hoặc các chủ sở hữu lớn của công ty mẹ.

Tên gọi tập đoàn thì đã quá quen thuộc, thậm chí còn bị lạm dụng, nhưng một mô hình tập đoàn hoàn chỉnh, phù hợp cho một nhóm công ty có mối quan hệ liên kết, gắn bó lâu dài về lợi ích với nhau thì dường như vẫn còn khá xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam. Khi nói đến mô hình tập đoàn, nhiều người nghĩ ngay đến cấu trúc tổ chức tổng thể của tập đoàn, mà cụ thể là cách thức bố trí các công ty thành viên trên sơ đồ tổ chức của tập đoàn. Xa hơn chút nữa, trên sơ đồ tổ chức có thể kèm theo các mũi tên thể hiện chiều đầu tư vốn từ công ty này sang công ty khác. Cách hiểu đơn giản này tạo nên một thực trạng không tốt là nhiều công ty lớn muốn nhanh chóng có được danh hiệu tập đoàn bằng cách bung ra thành lập một số công ty con mà không có sự chuẩn bị kỹ càng trong việc lựa chọn mô hình phù hợp để đem lại sức mạnh cộng hưởng tốt nhất cho nhóm công ty trong tập đoàn. Bài viết này chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải thiết kế những mô hình phù hợp cho các tập đoàn đã, đang và sẽ hình thành tại Việt Nam theo thông lệ quản trị thế giới.

Continue reading →

NHÀ NƯỚC CẦM LÁI, KHÔNG NÊN CẦM CHÈO

TS. PHẠM DUY NGHĨA * – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Không chỉ là luật gốc, là định hướng chính trị, Hiến pháp trước tiên phải là luật áp dụng trực tiếp, có hiệu lực thi hành và là cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ các quyền công dân và quyền con người của mình. Người dân khi cần có thể nại vào Hiến pháp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Thẩm phán khi cần có thể viện dẫn các điều khoản của Hiến pháp để bảo vệ công lý.

Hiến pháp của nhiều nước không có quy định về chế độ kinh tế. Không quy định như vậy chính lại là tốt, bởi lẽ mọi mô hình kinh tế đều có ưu và nhược điểm riêng của nó, và một nền kinh tế năng động tự nó tìm ra mô hình tốt nhất tùy vào từng thời điểm. Hiến pháp Việt Nam có lẽ cũng cần tạo cho những nhà hoạch định chính sách cơ hội để có thể linh hoạt và uyển chuyển tìm ra hướng đi cho nền kinh tế quốc dân. Sự đan xen giữa công hữu, tư hữu, giữa điều tiết bằng kế hoạch và điều tiết bằng thị trường, giữa khuyến khích lợi nhuận và các chính sách an sinh xã hội đã trở nên phổ biến.

Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một minh chứng cho cách làm này. Bản Hiến pháp đã không mô phỏng chương Chế độ kinh tế của Hiến pháp Liên Xô đương thời, không xác định một mô hình kinh tế cứng nhắc, mà tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển, trong đó mọi công dân đều có quyền “tham gia kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, sự định hướng tốt nhất của nhà nước không phải là nhà nước tự chiếm giữ đa phần sở hữu và tham gia trực tiếp kinh doanh. Nhà nước nên cầm lái, chứ không nên cầm chèo.

Nếu các nhà lập hiến Việt Nam muốn giữ chương II Hiến pháp 1992, thì phải tìm ra nguyên tắc và đặc trưng riêng của “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Điều này không đơn giản. Nếu theo quan điểm giữ nguyên, thì có thể chấp nhận rằng các điều khoản hiện hành không cần sửa đổi gì căn bản mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của thời đại ngày nay. Song để khuyến khích khu vực dân doanh phát triển, cần xem xét và làm rõ ba vấn đề sau.

Continue reading →

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH THỌ

Thị trường trái phiếu Hàn Quốc là thị trường lớn thứ hai ở châu Á sau Nhật . Tính tới cuối năm 2007, tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành lên tới 1.313,81 tỷ USD. Trước năm 1997, thị trường trái phiếu Hàn Quốc phát triển còn nhiều bất cập. Các cuộc cải tổ sau khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đưa thị trường trái phiếu Hàn Quốc lên một bước phát triển mới. Các cải cách của Hàn Quốc là bài học quí báu cho các nước đang phát triển trong khu vực cũng như các nước có điều kiện phát triển tương đồng học tập để cải cách hệ thống thị trường của mình.

1. Quá trình phát triển thị trường trái phiếu Hàn Quốc trước khủng hoảng

Khác với các nền kinh tế có hệ thống tài chính dựa vào thị trường như Mỹ và Anh, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, hoạt động huy động vốn ở Hàn Quốc chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng để chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Chính phủ can thiệp mạnh mẽ vào hệ thống tài chính để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ sở áp dụng lãi suất trần và phân phối tín dụng thông qua các khoản cho vay chính sách. Trong giai đoạn này, cho vay chính sách là công cụ quan trọng để tập trung vốn cho một số khu vực kinh tế, ngành kinh tế, và thậm chí doanh nghiệp cụ thể theo định hướng của chính phủ.

Kết quả của quá trình can thiệp trực tiếp của chính phủ vào hệ thống tài chính Hàn Quốc là ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và là công cụ hữu hiệu của chính phủ để thực hiện chính sách công nghiệp. Thị trường vốn chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vào những năm 1970 và 1980, hệ thống ngân hàng đã không còn đủ sức cung cấp vốn cho một nền kinh tế phức hợp ngày càng phát triển ở Hàn Quốc. Với mục tiêu phát triển thị trường vốn để khắc phục những hạn chế của hệ thống ngân hàng, trong những năm 1970 và 1980, chính phủ đã thực hiện hàng loạt các chính sách để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trong đó đặc biệt phải kể đến hệ thống bảo lãnh trái phiếu doanh nghiệp.

Continue reading →

TRANH CHẤP TÀI SẢN VÀ GIAO DỊCH: ĐẤT THUÊ ĐÃ LÂU PHẢI TRẢ LẠI

HOÀNG LAM

Gần 35 năm ở ổn định trên đất, giờ bị đơn bị cấp sơ thẩm buộc trả hơn 700 triệu đồng tiền đất cho nguyên đơn.

Cuối năm 1973, bà H. ký giấy bán một căn nhà tại huyện Hóc Môn (nay thuộc quận 12, TP.HCM) cho cha của bà N. Trong giấy, các bên thỏa thuận giá bán căn nhà là 80 ngàn đồng. Về tiền đất thì mỗi năm cha của bà N. phải trả cho chủ đất 500 đồng. Sau khi cha mẹ qua đời, bà N. tiếp tục sử dụng nhà, đất.

Lúc đòi hoa lợi…

Bán nhà được hơn 20 năm, bà H. tranh chấp với bà N. về hoa lợi trên đất. Theo Luật Đất đai năm 1993 (có hiệu lực vào thời điểm giải quyết tranh chấp), loại việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND. Thế nhưng vào năm 1996, UBND huyện Hóc Môn lại ban hành quyết định giải quyết tranh chấp theo hướng công nhận hiện trạng sử dụng đất cho bên mua nhà.

Sau khi quận 12 được thành lập, chị ruột của bà H. lại nộp đơn yêu cầu UBND quận 12 giải quyết tranh chấp đòi bồi hoàn hoa lợi trên đất. Lại lần nữa, UBND quận 12 làm sai thẩm quyền giải quyết khi ban hành quyết định bác đơn của chị bà H. vào năm 2002. Chị bà H. đã khởi kiện UBND quận 12 ra tòa.

Tháng 9-2004, TAND quận 12 mở phiên xử sơ thẩm vụ án hành chính và bác đơn khởi kiện của chị bà H. Đến phiên xử phúc thẩm hồi tháng 3-2005, TAND TP.HCM tuyên hủy quyết định giải quyết tranh chấp của UBND quận 12. Cấp phúc thẩm khẳng định tranh chấp đòi hoa lợi trên đất là loại việc dân sự nên UBND các cấp không được thụ lý, giải quyết.

… Lúc đòi đất

Continue reading →

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: ĐUỔI VIỆC SAI PHẢI TRẢ GẦN 300 TRIỆU ĐỒNG

HOÀNG YẾN

Bên nói mình bị đuổi việc bất ngờ, bên lại bảo đã có sự thỏa thuận với người lao động…

TAND quận 3, TP.HCM vừa xử sơ thẩm vụ bà T. kiện Công ty cổ phần Tuyển dụng N. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vụ án diễn ra khá phức tạp khi cả hai bên không thể có tiếng nói chung trong quá trình hòa giải.

Bất ngờ đuổi việc?

Theo bà T., tháng 8-2007, bà được Công ty N. mời về làm trưởng phòng Dịch vụ khách hàng với mức lương 12 triệu đồng/tháng. Một tháng sau, bà được ký hợp đồng thử việc với mức lương này và đầy đủ phúc lợi. Tháng 11-2007, công ty ký hợp đồng lao động có thời hạn với bà. Một năm sau, công ty nâng lương cho bà lên 18 triệu đồng/tháng và ký hợp đồng không thời hạn.

Tuy nhiên, bất ngờ ngày 5-1-2009, công ty thông báo sẽ chính thức chấm dứt hợp đồng lao động với bà kể từ ngày 19-2 với lý do cần cắt giảm chi phí hoạt động. Dù thế, công ty lại yêu cầu bà ngay hôm sau giao trả thẻ ra vào cùng các vật dụng khác và không vào làm việc nữa. Ngay chiều ngày 5-1, bà đã giao trả thẻ ra vào cho công ty và bị cấm cửa luôn. Từ đó, bà đã nhiều lần trao đổi với tổng giám đốc công ty qua thư điện tử để giải quyết việc bồi thường nhưng không có kết quả.

Theo bà T., lý do mà công ty đưa ra để đuổi việc bà là hoàn toàn trái pháp luật. Đồng thời, công ty vi phạm thời hạn báo trước 45 ngày khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài ra, công ty thiếu thiện chí giải quyết quyền lợi cho bà, làm bà bị thất nghiệp gần chín tháng, hoàn cảnh kinh tế gia đình rơi vào bế tắc…

Bà T. đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động nhưng yêu cầu công ty phải đóng cho bà các loại tiền bảo hiểm; bồi thường lương, phụ cấp trong những ngày không được làm việc; tiền nghỉ phép, tiền thưởng thành tích quý IV năm 2008 và năm 2009. Công ty còn phải trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian một năm làm việc, khoản tiền vi phạm thời hạn báo trước 45 ngày làm việc và tiền thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng… Tổng cộng, bà yêu cầu công ty bồi thường gần 400 triệu đồng.

Continue reading →

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC “KHÁT” GIẢNG VIÊN

MINH HIẾU

Chưa bao giờ các trường ĐH phải đối phó với bài toán thiếu giảng viên trầm trọng như hiện nay, đặc biệt là các trường dân lập, tư thục. Theo Bộ GD-ĐT, số giảng viên ĐH hiện nay chỉ đáp ứng 60% nhu cầu thực tế.

Khó thu hút giảng viên có học hàm, học vị

Hiện nay, việc bổ sung giảng viên tại các trường ĐH thông thường bằng cách giữ thủ khoa ở lại giảng dạy. Tuy nhiên, trước nhiều cơ hội việc làm, không ít thủ khoa không mặn mà với việc ở lại trường. Lực lượng thứ hai là các cá nhân đã làm việc bên ngoài và có kinh nghiệm. Tuy nhiên, đội ngũ này thường đòi hỏi lương cao, cơ chế tốt, nên không phải trường ĐH nào cũng đáp ứng được.

Không còn cách nào khác, các trường ĐH buộc phải thông báo tuyển giảng viên. Nhiều trường tuyển cả tiến sỹ đã về hưu, khi đăng tuyển không giới hạn số lượng và thời gian xét tuyển. Tuy nhiên, việc chọn được những giảng viên ưng ý không đơn giản. Hiện nay, những trường ĐH mới, nhất là ở tỉnh và các trường ĐHDL, khó thu hút giảng viên có học hàm, học vị. Đa số trường tư thục mới thành lập dùng chính giảng viên từ các trường công lập…

Các chuyên gia giáo dục cho rằng, nguyên nhân của tình trạng thiếu giảng viên ĐH là do trong một thời gian dài, chúng ta không có chiến lược phát triển đội ngũ này. Hiện nay, tỷ lệ giảng viên trên sinh viên của ta mới là 1/28, trong khi ở các nước là 1/15 hoặc 1/20. Đối với các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, do quy mô đào tạo tăng nhanh, đội ngũ giảng viên không được bổ sung kịp thời nên tỷ lệ này lên tới 30 SV/GV.

Continue reading →

ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU, TÀI SẢN VÔ HÌNH – KHOA HỌC HAY NGHỆ THUẬT?

NGUYỄN TRUNG THẮNG  – Chủ tịch Masso Group, Viện trưởng Viện Marketing và quản trị Việt Nam

Trong thời gian qua, ở Việt Nam có nhiều tranh luận về giá trị của thương hiệu, tài sản vô hình. Vấn đề trên trở nên đặc biệt quan trọng khi công ty tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn trong danh sách VNR500 tiến hành cổ phần hóa hay khi một công ty trách nhiệm hữu hạn muốn thu hút sự tham gia của thành viên mới. Lúc này, một câu hỏi lớn được đặt ra là doanh nghiệp có giá trị bao nhiêu? Đồng thời, việc định giá thương hiệu, tài sản vô hình còn quan trọng bởi nó cho phép đánh giá hiệu quả của marketing gia tăng giá trị tài sản vô hình.

Giá trị thương hiệu và tài sản vô hình

Trước khi thống nhất thương hiệu là tài sản vô hình, vậy cần phải hiểu tài sản là gì? Tài sản được định nghĩa là những gì có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài sản thương hiệu là những lợi ích mà công ty có được khi sở hữu thương hiệu này bao gồm: khả năng thu hút khách hàng mới, duy trì khách hàng trung thành, đưa chính sách giá cao, mở rộng thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, tạo rào cản với đối thủ cạnh tranh.

Tất cả những lợi ích này có được là nhờ thương hiệu đã gây dựng được niềm tin nơi người tiêu dùng nhờ những nỗ lực trong quá khứ và do đó tạo ra khả năng sinh lợi trong tương lai. Giá trị của một doanh nghiệp bao gồm hai phần, phần giá trị hữu hình và phần giá trị vô hình. Đối với nhiều doanh nghiệp, xây dựngthương hiệu ngày nay đồng nghĩa với việc tạo dựng và quản lý tài sản thương hiệu.

Danh sách những thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2008 được tạp chí Bussiness Week công bố cho thấy có sự gia tăng giá trị đáng kể của những thương hiệu công nghệ như Google (tăng 43% so với năm 2007), Apple (24%), Amazon (19%) và những thương hiệu hàng hiệu như Zara (15%), Audi (11%) và Gucci (7%).

Continue reading →

TỶ GIÁ – NGUỒN GỐC RỦI RO TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP

THS. ĐINH THỊ THU HỒNG

Tỷ giá là một trong nguồn gốc rủi ro chính khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới rơi vào lao đao, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rất nhiều công cụ phòng chống rủi ro ngoại hối. Trong quá khứ, tác động của việc tỷ giá biến động nhiều hơn kể từ sau sự sụp đổ của chế độ tỷ giá Bretton Woods vào đầu thập niên 1970 đã kéo nhiều công ty lớn trên thế giới, đặc biệt là nhiều công ty tên tuổi của Mỹ và Nhật vào những “rắc rối” về tỷ giá trong các thập niên 1980 và 1990. Thời kỳ đó, những tên tuổi như Laker Airlines, Caterpillar, Toyota, Honda, v.v. đều than phiền trên mặt báo rằng những biến động bất lợi của tỷ giá đã tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, và khiến cho doanh thu lẫn lợi nhuận giảm thấp.

Trong thời gian gần đây, tỷ giá USD/VND có những biến động bất thường, mới đầu năm 2008 còn tình trạng đồng đô la ế ẩm không ngân hàng thương mại nào mua thì giờ đây (vào giữa tháng 5/2008) giá trị đồng tiền này đã tăng vọt lên hơn 13% không đầy 3 tháng. Những biến động này đã tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp. Bài viết tập trung làm rõ về mặt lý thuyết và thực tiễn những tác động rủi ro tỷ giá đến các doanh nghiệp và đề xuất một số biện pháp nhằm giảm những rủi ro này.

1. Tác động của tỷ giá đến các doanh nghiệp

Về lý thuyết, biến động tỷ giá có thể tác động đến doanh nghiệp theo nhiều cách và được đo lường bằng độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá.

Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá có thể xảy ra cho bất kỳ doanh nghiệp nào – thậm chí xảy ra với cả những doanh nghiệp mà tất cả các hoạt động kinh doanh của họ không liên quan gì đến bất cứ một loại ngoại tệ nào. Vậy nguồn gốc của rủi ro tỷ giá xuất phát từ đâu?

Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá bắt nguồn từ các giao dịch thương mại. Đây là loại nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá phổ biến nhất mà các doanh nghiệp gặp phải do hoặc phải trả tiền cho người cung cấp hoặc bán hàng và thu về một đồng tiền khác với đồng tiền nước mình, thông qua các giao dịch như:

Continue reading →

TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI MUA VÀ SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM, CẦN BIẾT (Trích một số nội dung của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/12/2008)

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP

CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Tình hình chung:

Nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng được coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn và mặc để giúp con người có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Đối với người nước ngoài có nhu cầu vào đầu tư làm ăn, học tập và sinh sống tại Việt Nam thì vấn đề nhà ở cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của họ khi vào Việt Nam.

Hiện nay, số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc và sinh sống ngày càng nhiều thông qua nhiều con đường khác nhau. Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, với chính sách đa phương hoá, Nhà nước Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới thì nước ta đã là điểm đến của nhiều người nước ngoài, không chỉ là việc các nước mở Đại sứ quán, Lãnh sự quán để tăng cường hợp tác với Việt Nam, thúc đẩy đầu tư vào Việt Nam mà còn hợp tác trong nhiều lĩnh vực như y tế, giao dục, văn hoá, khoa học – kỹ thuật…Xu hướng này đã tạo thành bức tranh đa dạng, phong phú về tình hình người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Theo thống kê từ năm 2004 đến hết năm 2007 đã có khoảng hơn 80.000 người vào Việt Nam làm ăn, học tập và sinh sống, trong đó có khoảng gần 25.000 người vào Việt Nam làm ăn theo con đường hợp tác đầu tư, khoảng 1.600 người vào Việt Nam làm việc cho các Cơ quan đại diện nước ngoài, các Tổ chức quốc tế và hơn 54.000 người nước ngoài vào Việt Nam sinh sống và làm việc trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể thao, kinh tế. Tính đến hết năm 2007 đã có hơn 60 Đại sứ quán và hơn 30 Tổng Lãnh sự quán có trụ sở tại Việt Nam, trong số khoảng 1.600 người nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực ngoại giao tại Việt Nam thì có khoảng gần 1.400 người làm việc cho các Đại sứ quán và hơn 200 người đang làm việc trong các Lãnh sự quán. Ngoài số lượng nêu trên thì còn có khoảng hơn 30 người nước ngoài đang làm việc cho 16 Tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam (bao gồm Tổ chức của Liên Hiệp quốc như UNICEF, UNPA, UNDP…, các Tổ chức quốc tế khác như Ngân hàng thế giới WB, Ngân hàng Châu á ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF…).

Continue reading →

KHÁI NIỆM CƠ BẢN về giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả của hàng hóa

DINHGIA – Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

– Giá trị của hàng hoá là giá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiết là thời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading →

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG, GIÁ TRỊ TRAO ĐỔI VÀ GIÁ CẢ CỦA HÀNG HÓA

DINHGIA – Bốn khái niệm (giá trị, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi và giá cả) đã có một quá trình lịch sử lâu dài trong kinh tế học và triết học, nghĩa của các khái niệm này cũng được phát triển mở rộng ra. Bất kỳ hàng hoá nào đều có giá trị và giá trị sử dụng. Nếu hàng hóa này được trao đổi ở thị trường thì nó được thêm vào giá trị trao đổi và thường được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá hay giá cả của hàng hóa đó.

1. Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá.

– Giá trị của hàng hoá là giá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động XH cần thiết.

– Thời gian lao động XH cần thiết là thời gian lao động XH trung bình để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi.

– Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá:

+ Thứ nhất, đó là năng suất lao động.

+ Thứ hai, đó là cường độ lao động.

+ Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động.

2. Giá trị sử dụng của một vật phẩm là tính chất có ích, công dụng của vật thể đó có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó cho việc sản xuất hoặc cho sự tiêu dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên và những thuộc tính mà con người hoạt động tạo ra cho nó.

Continue reading →

NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG NGHỊ QUYẾT 1037/2006/NQ-UBTVQH11 NGÀY 27-07-2006 CỦA UBTVQH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.

THU CHINH

Ngày 27/7/2006, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1037/2006/ NQ-UBTVQH11 quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 01/07/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia giao dịch có yếu tố nước ngoài mà phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm, bởi vì trước đây họ là những chủ thể chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết do Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24-08-1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình..

Những quy định của Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11  là cơ sở pháp lý nhằm giải quyết các vướng mắc trong giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài còn tồn đọng cho đến nay.

Nghiên cứu Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH! thì thấy các giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 có yếu tố nước ngoài được NQ điều chỉnh có 2  nội dung giao dịch thực tế phát sinh tranh chấp nhiều nhất là mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở và mua bán nhà ở.

Đối với nội dung mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở, Nghị quyết 1037 quy định về thời hạn, cách thức, hình thức thay đổi, chấm dứt giao dịch các trường hợp cụ thể như sau:

Với trường hợp bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; bên mượn, bên ở nhờ nhà ở thường trú tại Việt Nam .

Trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở, trừ trường hợp có thoả thuận khác nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ nhà ở biết trước ít nhất sáu tháng.

Continue reading →

TÌM HIỂU ĐIỀU 418 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – TANDTPHCM

Chương XXXVI Bộ Luật tố tụng dân sự quy định về tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự – Điều 418. Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận

“1.Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu giấy tờ tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

2.Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài phải được gửi cho Tòa án Việt Nam kèm theo bản dịch ra tiếng Việt đã được công chứng chứng thực hợp pháp.”

Điều luật đã quy định rõ: “Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận..”, như vậy chỉ có các loại giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận muốn được Tòa án Việt nam công nhận thì các loại giấy tờ tài liệu đó phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Các loại giấy tờ, tài liệu do cá nhân (là người nước ngoài hoặc người ViệtNam ở nước ngoài lập) thì không cần hợp pháp hóa lãnh sự.

Ví dụ:

1. Một người mang quốc tịch Cannada kết hôn với một người Việt Namtheo quy định của pháp luật Việt Nam. Chung sống được một thời gian thì người mang quốc tịch Cannada có đơn khởi kiện ra Tòa án Việt Nam để xin ly hôn với người mang quốc tịch Việt nam (đơn khởi kiện được thực hiện bằng tiếng ViệtNam). Đơn khởi kiện do chính người có quốc tịch nước ngoài mang đến Tòa án để nộp, Tòa án đã kiểm tra đối chiếu giấy tờ tùy thân như passport và visa nhập cảnh của họ để xác định đúng là người đứng đơn khởi kiện thì Tòa án nhận đơn, đơn của họ không cần phải hợp pháp hóa lãnh sự vì trong đơn không có cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hay xác nhận gì.

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 3298/BTP-BTTP NGÀY 16 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CÔNG CHỨNG ỦY QUYỀN

Kính gửi: Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại Giao

Trả lời Công văn số 1048/CV-LS-PLLS ngày 27/4/2009; Công văn số 2411/CV-LS-PLLS ngày 8/9/2009 của Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại Giao về việc công chứng ủy quyền của cơ quan đại diện Việt Nam nước ngoài, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về quy định liên quan đến công chứng ủy quyền quy định tại Điều 48 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP quy định: “Việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được uỷ quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng”, trong khi đó Luật công chứng ban hành năm 2006 không có quy định nào liên quan đến nội dung này. Điều 67 Luật công chứng về hiệu lực thi hành không quy định Nghị định số 75/2000/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hết hiệu lực thi hành.Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, thì những quy định của văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trước mắt, trong khi chưa có hướng dẫn chính thức, trong trường hợp này, do Luật công chứng không quy định các trường hợp ủy quyền nói trên phải được lập thành hợp đồng, nên theo chúng tôi, đương sự có quyền lựa chọn hình thức hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho các bên tham gia giao dịch, cơ quan chức năng nên hướng dẫn các bên lập hợp đồng ủy quyền để bảo đảm chặt chẽ, tránh rủi ro pháp lý về sau. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiến hành nghiên cứu và rà soát các quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP và sẽ có hướng dẫn thống nhất về vấn đề này.

2. Đối với việc công chứng hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Việc công chứng hợp đồng, giao dịch nói chung và công chứng hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền của cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Điều 65 Luật công chứng.

Continue reading →