CÔNG VĂN SỐ 1946/BXD-TTr NGÀY 11 THÁNG 9 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG TRẢ LỜI KHIẾU NẠI VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI NHÀ Ở

Kính gửi: Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 598/UBND-NC ngày 17/03/2009 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xin ý kiến giải quyết khiếu nại của ông Trần Kỳ Đô, (đại diện theo uỷ quyền của bà Bùi Thị Hiệp) liên quan đến các căn nhà số 167, 169, 171 và số 173 đường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi. Sau khi xem xét nội dung của Công văn trên cùng các tài liệu liên quan, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Đối với các căn nhà số 169, 171, 173 đường Trương Quang Trọng nguyên thuộc sở hữu của bà Bùi Thị Hiệp, Nhà nước đã có văn bản quản lý và bố trí cho Cửa hàng ăn uống trực thuộc Ty Thương nghiệp tỉnh Nghĩa Bình (cũ) sử dụng từ năm 1988. Năm 1990, Cửa hàng ăn uống giải thể, các căn nhà trên để trống, gia đình bà Hiệp đã tự ý vào ở đến nay mà không ký hợp đồng thuê với Nhà nước. Thực tế từ năm 1990 đến nay, Nhà nước không quản lý đã không thực hiện việc quản lý và bố trí sử dụng đối với các căn nhà nói trên. Do đó, có thể áp dụng quy định tại điểm a, khoản 1, điều 5 của Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để công nhận quyền sở hữu cho gia đình bà Bùi Thị Hiệp đối với các căn nhà này.

Đối với căn nhà số 167 đường Trương Quang Trọng mà Nhà nước đã có văn bản quản lý, bố trí sử dụng, nay đã được bán hoá giá; căn cứ quy định của Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội thì việc gia đình bà Bùi Thị Hiệp đòi lại căn nhà trên là không thể giải quyết được.

Bộ Xây dựng trả lời để Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi biết và giải quyết vụ việc./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

MỘT KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Quản lý doanh nghiệp là công việc vô cùng phức tạp – đó vừa là khoa học lại vừa là nghệ thuật. Do đó, người quản lý doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng.

Thuê quản lý doanh nghiệp – một nhu cầu tất yếu

Theo Luật Doanh nghiệp 2005, “Người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”.

Sẽ không có gì phải bàn khi chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thời là người quản lý doanh nghiệp. Song, thực tiễn hiện nay và trong tương lai gần, với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nước ta, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp lại không phải là người quản lý doanh nghiệp.

Những trường hợp như vậy ít nhất cũng có thể bao gồm:

Thứ nhất, chủ doanh nghiệp cần giành một khoảng thời gian dài từ 1-3 năm để học tập nâng cao năng lực quản lý ở một nơi xa doanh nghiệp, chẳng hạn ở nước ngoài. Khi đó, chủ doanh nghiệp không thể “vừa học, vừa làm”.

Thứ hai, chủ doanh nghiệp không may bị qua đời và người thừa kế để làm chủ mới của doanh nghiệp lại chưa đủ năng lực cả về chuyên môn và quan hệ xã hội để trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp.

Thứ ba, do sự thay đổi của pháp luật, lĩnh vực kinh doanh đang thực hiện của chủ doanh nghiệp “bỗng nhiên” được đưa vào danh mục “kinh doanh có điều kiện” và “điều kiện kinh doanh” lại là chủ doanh nghiệp phải có một chứng chỉ. Trong khi đó, để có thể có được chứng chỉ ấy, chủ doanh nghiệp lại gặp những khó khăn không thể vượt qua, chẳng hạn, đòi hỏi phải thi, sát hạch về ngoại ngữ…

Continue reading →

BẤT CẬP TRONG QUI ĐỊNH VỀ THÔNG BÁO BÁN ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THI HÀNH ÁN KHI ÁP DỤNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

ĐÌNH NAM

Trong hệ thống các quy phạm về thi hành án dân sự, quy định về thông báo làm một nội dung hết sức quan trọng và đều được quy định rõ trong các văn bản pháp luật về thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng đã dành 5 điều để quy định về thông báo là:

Điều 39. Thông báo về thi hành án

Điều 40. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân

Điều 41. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức

Điều 42. Niêm yết công khai

Điều 43. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Còn các thông báo khác liên quan tới thủ tục thi hành án dân sự được quy định ở các văn bản dưới luật, trong đó có thông báo về bán đấu giá tài sản để thi hành án.

Trước đây, Thông báo bán đấu giá tài sản trước đây không được quy định tại Pháp lệnh thi hành án mà được quy định tại Điều 12 Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản  như sau:

Điều 12. Niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản

1. Người bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại nơi bán đấu giá, nơi trưng bày tài sản, nơi đặt trụ sở của người bán đấu giá tài sản, nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản trước ngày mở cuộc bán đấu giá tài sản.

Trong trường hợp người có tài sản bán đấu giá có yêu cầu thì thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể rút ngắn theo thoả thuận của các bên.

Continue reading →

CÔNG CHỨC CÓ CẦN BẰNG TIẾN SĨ, THẠC SĨ?

TS. PHAN TRUNG HIỀN

Để “bù lại” cho thực trạng năng lực công vụ còn yếm kém, nhiều nơi đã đặt chỉ tiêu về bằng cấp đối với đội ngũ cán bộ, công chức; số phần trăm phải đạt được trình độ tiến sĩ, thạc sĩ trong thời hạn nhất định. Điều này, thoạt nghe có vẻ hợp lý, song tiềm ẩn nhiều vấn đề phải bàn, đặc biệt trong khung cảnh chung của trình độ văn hóa đất nước và sự đồng bộ của nền hành chính hiện nay.

 Bằng cấp không thể là phương tiện

Các chỉ tiêu về tiến sĩ, thạc sĩ và đòi hỏi về trình độ sau đại học thường (và chủ yếu nên) đặt ra với đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu. Là lực lượng tiếp thu và truyền giảng kiến thức, đội ngũ này cần cập nhật, nghiên cứu, bổ sung những thông tin khoa học mới nhất.

Trong khi đó, là lực lượng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào chuyên môn hẹp của một cơ quan trong bộ máy và thể chế hành chính chung, cán bộ công chức quản lý chủ yếu cần nắm vững và thừa hành những kiến thức đã ổn định, được nhà nước ghi nhận. Sự sáng tạo trong quản lý, trong một chừng mực nhất định, cũng làm cho các quy định này được hiệu quả hơn trong tình hình cụ thể địa bàn, chứ hoàn toàn không được phép “vượt khung”.

 

Chính vì tính đặc thù này, đội ngũ cán bộ, công chức, trong đa số các vị trí và ngành nghề, ít khi cần đến những bằng cấp thạc sĩ, càng hiếm khi cần đến bằng tiến sĩ. Ngoại trừ các cán bộ công tác trong ngành giáo dục và một số vị trí quản lý quan trọng trong bộ máy nhà nước, các cán bộ quản lý không cần đến trình độ tiến sĩ – trình độ không còn học, mà chỉ cần có khả năng tự nghiên cứu và trở thành chuyên gia khoa học trong chuyên môn hẹp. Continue reading →

VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG NỀN CHÍNH TRỊ MỸ VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

TRẦN BÁCH HIẾU – Bộ môn Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
 
Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này.  Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật  tại quốc gia này.Hoạt động vận động hành lang (lobby) đã và đang trở thành một thứ văn hóa – chính trị ở Mỹ. Khi “lobby” đã trở thành một phần không thể thiếu của nền chính trị Mỹ thì tất cả những ai muốn gây ảnh hưởng đối với dư luận hay đến việc hoạch định chính sách của Mỹ đều phải tuân thủ quy luật này. Hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ và trong đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và hiệu quả nhất khi được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật  tại quốc gia này. Continue reading →

TỪ MỘT VỤ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI NGHĨ THÊM VỀ QUYỀN TÀI SẢN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số hàng vạn tranh chấp về nhà đất ở Việt Nam. Năm 1995 ông Bùi Văn Thanh mua nhà đất của bà Nguyễn Thị Nương tại ấp 7, xã Thanh Hòa, Lộc Ninh, Bình Phước; việc mua bán được làm bằng giấy viết tay. Năm 1996, bà Nương được UBND huyện Lộc Linh cấp sổ đỏ cho lô đất kể trên. Dựa trên sổ đỏ đó, bà này khởi kiện, đòi ông Thanh phải trả lại nhà đất, với lí do việc mua bán đất là vô hiệu. Qua các cấp xét xử, TAND huyện Lộc Ninh (Bản án sơ thẩm số 40/DSST ngày 31/12/2002), TAND tỉnh Bình Phước (Bản án phúc thẩm số 38/DSPT ngày 15/04/2003) đều xác nhận việc mua bán nhà đất là có thực, song tuyên bố hợp đồng này vô hiệu, vì vào năm 1995 người bán chưa được cấp sổ đỏ nên chưa có quyền bán đất, sau khi bán hai bên lại không làm thủ tục đăng kí chuyển nhượng sổ đỏ. Tuyên hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu, tòa buộc ông Thanh phải trả lại đất cho bà Nương; ngược lại, bà Nương có nghĩa vụ trả lại cho ông Thanh số tiền bán nhà đất đã nhận.

Vụ tranh chấp kể trên không phải cá biệt, mà ngược lại, là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam. Từ vụ tranh chấp kể trên có nhiều vấn đề pháp lí cơ bản dưới đây cần được thảo luận: (i) nhà đất đang chờ sổ đỏ có thể mua bán được hay không, (ii) hợp đồng mua bán nhà đất viết tay có hiệu lực hay không, (iii) tòa án cần can thiệp như thế nào đối với những trường hợp tương tự.

 Mua bán nhà đất đang chờ sổ đỏ

 Pháp luật phải ghi nhận và bảo hộ quyền tài sản tư của người dân (gọi đó là quyền sử dụng đất hay quyền thuê đất), kể cả khi đất đó chưa được cấp sổ đỏ. Điều này dễ hiểu như một người vừa mua một chiếc xe máy từ cửa hàng mà chưa kịp đăng kí; xe chờ đăng kí cũng giống như nhà đất chờ cấp sổ đỏ. Nếu người ta có thể mua bán, tặng cho xe chưa đăng kí, thì nhà đất chờ cấp sổ đỏ cũng là một thứ tài sản không thể bị cấm lưu hành.

Thực ra sổ đỏ với đất, sổ hồng với nhà đều là sự ghi chép của nhà nước phục vụ minh bạch hóa quyền tài sản, chứ các ủy ban nhân dân không có cái quyền ban phát sở hữu, cũng như cái giấy khai sinh chỉ ghi nhận, chứ cái giấy đó không đẻ ra con người. Quyền tài sản, từ thủa hồng hoang cho tới nay, đều hình thành qua vài con đường, hoặc do cưỡng đoạt, hoặc do khẩn khai, tôn tạo, hoặc do thừa kế hay mua sắm mà có. Điều ấy cũng đúng với nhà đất, quyền tài sản đối với nhà đất đã được xác lập bởi nhiều phương cách khác nhau. Chước bạ thời xưa hay sổ đỏ thời nay chỉ là sự ghi chép, chứ không thể sinh ra quyền tài sản. Nếu xem xét như vậy, thì nhà đất chờ sổ đỏ tất phải là quyền tài sản của người dân và tất yếu phải được lưu hành. Continue reading →

GIẤC MƠ NỬA TRIỆU DOANH NGHIỆP VÀ MỘT ĐẠO LUẬT CHUNG: LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 TỪ MỘT GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI LUẬT CÔNG TY 2005 CỦA CHND TRUNG HOA

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Cùng với Luật đầu tư, một đạo luật chung cho doanh nghiệp không phân biệt quốc hữu, tư hữu hay tư bản nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Liệu Luật doanh nghiệp (LDN 2005) có mang tới cho nhà đầu tư khuôn mẫu công ty hiện đại đủ sức ganh đua trong những không gian lạ với đường chân trời ngày càng lùi xa. Bước đầu so sánh với Luật công ty được ban hành cùng năm của nước láng giềng Phương Bắc, bài viết dưới đây bàn về vài diễn tiến đáng ghi nhận trong LDN 2005 cũng như đôi điều cần lưu ý khi thực thi đạo luật này.

Thai nghén và những cuộc vận động chuyên nghiệp

Cùng với làng nghề, phường hội, bàng, cuộc và gia đình nhà buôn truyền thống, theo chân kẻ thực dân, hội người, hội vốn, hội đồng lợi, hội nặc danh, ngân hàng cổ phần… đã bén rễ và nảy mầm trong văn hóa kinh doanh Việt Nam. Pháp luật công ty, vì lẽ ấy, đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỉ nay ở nước ta. Chỉ có điều cái mầm yếu ớt ấy sớm héo hon trước sự chèn ép của mại bản và những cơn biến động chính trị. Nam tiến, tìm lại những nhánh rễ rơi vãi ngày xưa, Luật công ty 1990 đã mở màn tái khám phá ra công ty TNHH và CTCP. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy được thay đổi bởi Luật doanh nghiệp 1999 với những tư duy táo bạo; giành lấy quyền tự do cho doanh nhân và từng bước hạn chế công lực, xóa bỏ giấy phép, xóa bỏ vốn pháp định, minh định thủ tục đăng kí kinh doanh. Những người soạn LDN 2005 có thâm ý làm lan rộng thần thái cải cách ấy sang cho khu vực doanh nghiệp quốc hữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi có hiệu lực, LDN 2005 sẽ thay thể Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, trừ những điều khoản bảo lưu cho quá trình chuyển đổi của DNNN sang mô hình công ty trong một thời hạn chậm nhất là 04 năm [1].

Để làm được việc ấy, những người soạn thảo đã tiến hành vận động đầy cẩn trọng. Bắt đầu bằng một văn bản của Chính phủ xác định tư tưởng chỉ đạo và những nội dung cơ bản cần có, dự thảo LDN 2005 đã được hậu thuẫn bởi không dưới 25 công trình nghiên cứu quy mô quốc tế, hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia với sự đưa tin và tạo dư luận của báo giới [2]. Tìm kiếm lí lẽ, kể cả bởi những phương cách mới như đánh giá tác động quy phạm (RIA), những người soạn LDN 2005 đã tìm thấy sự đồng điệu với trào lưu phi quy chế hóa toàn cầu. Quả là ở đâu quy chế pháp lí càng phức tạp thì dân nước đó càng nghèo [3].

Continue reading →

CHUYỆN SỔ ĐỎ, SỔ HỒNG

NGUYÊN LÂM

Chuyện “sổ đỏ”, “sổ hồng” rộ lên gần đây nghe như cổ tích thời nay, khi người dân mua nhà mà lại chỉ được công nhận phần đất; hoặc đang có cả nhà, cả đất hợp pháp, nay bỗng nhiên như có phép lạ, các “thầy phù thuỷ đời mới” chỉ bằng mấy chữ thần chú đã thổi bay mất ngôi nhà của họ. Nguyên do là trước kia, theo Nghị định 60, đất có nhà được cấp “sổ hồng”- gọi là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; đất không có nhà được cấp “sổ đỏ”- gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi có Nghị định 181, các giấy trên được thay bằng mẫu mới là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn tài sản trên đất như nhà chỉ được… “ghi nhận”. Hàng loạt rắc rối đã nảy sinh trên thực tế mà chúng ta đã biết.

Tại sao như vậy?

Trước đây việc cấp sổ hồng thuộc chức năng của Sở Nhà đất. Nay Sở Tài nguyên – môi trường chỉ quản lý đất. Còn Sở Xây dựng xưa nay lại chỉ quản lý xây dựng, không quản lý nhà. Bộ máy tổ chức như vậy tất yếu dẫn đến tách quản lý đất với quản lý nhà. Thế nhưng bao giờ đất và nhà cũng gắn bó với nhau. Đối tượng quản lý chỉ có một nhưng lại có tới hai cơ quan nhà nước quản lý. Phức tạp, nhiêu khê phát sinh từ đó.

Trớ trêu là không có cơ quan nào quản lý nhà. Để bổ khuyết, Sở Xây dựng hay Sở Tài nguyên – môi trường có thể được giao chức năng này. Nhưng chuyện sổ hồng, sổ đỏ cho thấy, như trong nhiều trường hợp khác, một lần nữa, sự phối hợp giữa các bộ, ngành còn chưa khớp, khiến người dân không yên tâm và doanh nghiệp lúng túng trong hoạt động đầu tư kinh doanh nhà ở. Nó cũng làm người dân phải đặt câu hỏi, liệu có chuyện lợi ích gì ở đây không, kiểu như anh được quản phần này, thì tôi cũng phải có phần kia, còn dân thì mackeno?

Tuy nhiên, đó chỉ mới là nguyên nhân ở phần nổi, dễ thấy. Đàng sau những rắc rối ấy là nguyên nhân khác, nằm chìm ở những quan niệm pháp lý chỉ có ở nước ta về quyền tài sản, quyền sở hữu. Sau đây xin được kiến giải cụ thể hơn.

Continue reading →

NGHỆ THUẬT THƯƠNG THUYẾT: TÂM LÝ CHIẾN

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG *

Một trong những vũ khí có thể làm cho một cuộc thương thuyết đang nghiêng ngửa phải thay đổi cục diện là yếu tố tâm lý. Chẳng hạn, nếu chủ đầu tư dự án “mê tít” các sản phẩm của bạn, công ty đối thủ bắt đầu chán nản trong cuộc thương thuyết, hay chủ dự án tỏ ra e ngại một điều gì đó nơi phương án của các công ty đối thủ, thì bạn đã đi gần tới mục đích thắng thế và cầm chắc trong tay một yếu tố để lạc quan!

Cũng như trong các ván cờ tướng, cờ vua, địch thủ mà bị chạm vào tâm lý rồi thì khó mà quẫy ngược lại được.

Ngay trong những trò chơi hoặc các bộ môn thể thao, như quần vợt, bóng đá, nhất là điền kinh hoặc golf, tâm lý đóng một vai trò then chốt. Các huấn luyện viên, trước khi cho cầu thủ ra sân, chỉ mong sao tiêm vào đầu của cầu thủ ý nghĩ là họ sẽ thắng! Trong môn nhảy cao hoặc nhảy sào, vận động viên phải suy nghĩ tích cực, tin chắc mình sẽ vượt qua mức xà nào đó, bằng không thì nhảy sẽ vô ích!

Không chỉ có con người mới phải suy nghĩ tích cực. Những cuộc đá gà là gì nếu không phải một trò chơi tâm lý: có những con gà đá to xác vừa nhảy vào chiến trường đã chạy như… vịt. Chung quy chỉ vì vừa thấy con gà địch thủ đã sợ. Con gà toát mồ hôi sợ hãi là một con gà sắp thua! Lớn, nhỏ hẳn không phải là yếu tố quyết định. Cái ý chí khao khát triệt hạ đối thủ mới là yếu tố quyết định.

Trở về cuộc đàm phán, thế nào là đánh vào tâm lý? Nên dùng chiến thuật nào, kỹ thuật nào?

Thứ nhất là gây lòng tin với khách hàng về công ty và sản phẩm của mình.

Năm 1988, tôi phải đi Ai Cập để thương thuyết một dự án nhà máy điện. Hồi đó Alstom là một công ty đang ở thế “thiếu cơm áo” nên nhất thiết phải lấy cho bằng được hợp đồng. Địch thủ toàn là “đấu thủ quốc tế hạng nặng” như General Electric, Brown Boveri, Siemens, Mitsubishi… Cũng may hình ảnh của Alstom về công nghệ điện lực còn rất cao. Tôi lợi dụng luôn hình ảnh tốt đẹp đó để “đóng đinh vào cột”.

Continue reading →

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Những năm gần đây, chứng chỉ hành nghề – một trong những “giấy phép con” liên tục xuất hiện trong nền kinh tế nước ta. Ít nhất có thể kể ra: chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát; chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán; chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh; chứng chỉ hành nghề dược phẩm; chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán; chứng chỉ hành nghề luật sư; chứng chỉ hành nghề kinh doanh bất động sản, thẻ thẩm định viên về giá…

Chứng chỉ hành nghề là gì?

Khi một chứng chỉ hành nghề được đưa vào văn bản quy phạm pháp luật là hàng loạt lớp bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn để cấp chứng chỉ hành nghề được tổ chức và không ít doanh nghiệp sẽ không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu chưa có các chứng chỉ hành nghề theo quy định.Vậy chứng chỉ hành nghề là gì? Nó có vai trò quan trọng như thế nào đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?

Ở các nước phát triển, chứng chỉ hành nghề cũng được cấp cho khá nhiều nghề được coi là “nhạy cảm” như ở nước ta. Song, quan niệm về chứng chỉ hành nghề ở đó lại không như ở nước ta.

Trước hết, chứng chỉ hành nghề không phải là một “giấy chứng nhận” về trình độ chuyên môn của người hành nghề. Bởi lẽ, chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp cho những người đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạo quốc gia (trường trung cấp, cao đẳng, dạy nghề, đại học, sau đại học) và cả những người đã hành nghề lâu năm, không có vi phạm pháp luật.

Do đó, bằng tốt nghiệp của các cơ sở đào tạo (trừ trường hợp bằng giả và bằng thật nhưng học giả) và quá trình công tác mới là chứng chỉ xác nhận trình độ chuyên môn của người hành nghề. Chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong những công cụ để quản lý, giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.

Continue reading →

QUI TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ: VẤN ĐỀ ĐANG NỔI LÊN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

THS. NGUYỄN CHIẾN THẮNG – Viện Kinh tế Việt Nam

1. Mở đầu

Nếu như quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa đã có ý nghĩa quan trọng từ lâu trong các hiệp định thương mại quốc tế, thì quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ mới chỉ thu hút sự chú ý trong thời gian gần đây, khi vai trò của thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng và thế giới đang chứng kiến sự ra đời đến chóng mặt các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực, đặc biệt là khu vực châu á – Thái Bình Dương, như một lối thoát đối với một số nước trong khu vực trước những bước tiến chậm chạp của quá trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ đàm phán đa phương WTO. Vấn đề các nước quan tâm là quy tắc xuất xứ cần phải được thiết kế như thế nào để đưa vào các hiệp định thương mại tự do, nhằm hạn chế việc các bên thứ ba hưởng những ưu đãi thương mại trong dịch vụ mà đáng ra chỉ được trao cho các bên ký kết hiệp định.

Đối với trường hợp Việt Nam, hiện nay chúng ta đang tham gia vào Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN và cũng đang xúc tiến tìm kiếm các thỏa thuận thương mại tự do song phương với các đối tác quan trọng như Nhật Bản hay một số đối tác thương mại khác. Trước xu thế thương mại dịch vụ ngày càng gia tăng, việc áp dụng quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ trong Hiệp định Khung về thương mại dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services, gọi tắt là AFAS) hay các hiệp định thương mại tự do song phương khác mà Việt Nam đang tìm kiếm là một điều hoàn toàn có thể. Do vậy, việc tìm hiểu rõ nội dung của khái niệm này cùng với tác động của nó đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là hết sức cần thiết.

Với mục đích trên, nghiên cứu này được chia làm 2 phần. Phần đầu trình bày khái niệm quy tắc xuất xứ đối với dịch vụ, tầm quan trọng của quy tắc này trong thương mại quốc tế, và các tiêu chí áp dụng trong thực tế. Trong phần thứ hai, tác giả mô phỏng tác động của các tiêu chí trên (nếu được áp dụng trong Hiệp định AFAS) đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (ĐTNN) từ các nước ngoài khối ASEAN trong ngành vận tải biển của Việt Nam – là một ngành dịch vụ có mức độ hội nhập sâu với nền kinh tế trong khu vực cũng như thế giới.

Continue reading →

TẬP TRUNG ĐẦU ÓC: ĐIỀU KIỆN THÀNH CÔNG

TS. NGUYỄN CHÍ THUẬT

Chúng ta đang sống trong thời đại đầu óc bị phân tán thường xuyên do rất nhiều thứ xung quanh. Phân tán tư tưởng ngăn cản chúng ta trong học tập, làm giảm khả năng phát triển bản thân, nhưng trước hết những lời khẳng định của giáo sư Mihaly Csikszentmihalyi, nguyên trưởng khoa tâm lý học, Đại học Chicago (Mỹ), mất năng lực kiểm soát năng lượng tâm lý cản trở ta cảm nhận sự sung sướng đích thực, cảm nhận hạnh phúc đích thực. Vì vậy, năng lực tập trung đầu óc ngày nay có ý nghĩa lớn lao hơn bao giờ hết.

Có thể định nghĩa đơn giản về sự tập trung đầu óc như sau: tập trung đầu óc là năng lực tập trung sự chú ý vào chính công việc đang làm. Đó có thể là đọc sách, nghe nhạc, rửa bát, chuyện trò hay giải quyết vấn đề chuyên môn, nghề nghiệp. Có một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay phần lớn chúng ta không biết tập trung đầu óc. Thậm chí khả năng tập trung sự chú ý vào những việc bình thường nhất cũng được coi là một cố gắng lớn lao. Cho nên lấy lại sự tập trung chú ý khi có cái gì làm chúng ta phân tán tư tưởng và lập tức trở lại tập trung như trước đó cũng được coi là một năng lực. Sự tập trung đầu óc là thành phần quan trọng cấu thành trí tuệ của chúng ta, bởi nếu không có nó thì sự phát triển bản thân mỗi con người rất khó có thể được thực hiện. Sự tập trung chú ý có thể diễn ra trong khoảng vài giay đến vài chục giây đồng hồ, nhưng sau thời gian nghỉ, nó chỉ có thể được trở lại nhờ ý chí mạnh mẽ của mỗi người.

Về tầm quan trọng đặc biệt của khả năng tập trung đầu óc, cả các giáo sư tâm lý học cũng như các bậc thầy về yoga và triết học Phật giáo đã đề cập nhiều. Giáo sự đại học Chicago Mihaly Csikszentmihalyi mà chúng ta vừa nhắc tên trên kia đã bỏ ra trên dưới 20 năm để nghiên cứu điều “suốt đời ám ảnh” ông – như một số người khẳng định – là những tác nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc con người. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng cái làm cho mỗi trải nghiệm trở nên thoải mái, dễ chịu là trạng thái tập trung đầu óc thật sâu, đến mức bản thân con người hoàn toàn chìm đắm trong công việc đang làm. Trạng thái này cũng có tên gọi là “chìm đắm” – bởi một người, khi ở trong trạng thái này sẽ làm việc hết sức mình, bản thân anh ta chính là cái anh đang làm, anh ta mất hết cảm giác về tự thức. Chúng ta hãy hình dung một nhà phẫu thuật tim mạch trong một ca mổ phức tạp hay một vận động viên leo núi đang trên đường chinh phục một ngọn núi cao – sự tập trng đầu óc cao độ là điều kiện dẫn tới thành công trong những công việc họ đang thực hiện. Khi mọi hoạt động kết thúc, đó cũng là lúc ý thức trở lại trong đầu óc họ. Sau những lần như thế, con người ta trở nên mạnh mẽ hơn, giàu có hơn về những trải nghiệm và những năng lực mới.

Continue reading →

TRANH CHẤP GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: VỤ “TRANH CHẤP TIỀN ĐẶT CỌC” Ở VĨNH PHÚC – TÒA SƠ THẨM XÉT XỬ CHƯA THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ?

NGUYỄN VŨ

Trung tuần tháng 7 và những ngày đầu tháng 8.2009, Báo ĐS&PL liên tiếp nhận được đơn đề nghị của gia đình ông Nguyễn Duy Á và bà Đặng Thị Xuân ở số nhà 28, phố Nguyễn Trãi, phường Liên Bảo, TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trình bày về vụ "Tranh chấp tiền đặt cọc" với Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc.

Trong đơn, ông Á trình bày như sau: Gia đình ông ký hợp đồng cho Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc thuê nhà căn nhà số 28 đường Nguyễn Trãi, phường Liên Bảo, TP. Vĩnh Yên, có diện tích là 700 m2 sàn để CPK dùng làm văn phòng, cho nhân viên, khách của công ty ở. Hợp đồng thuê nhà được 2 bên ký tại Phòng Công chứng Nhà nước số 02 tỉnh Vĩnh Phúc. Đại diện Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc ký hợp đồng thuê nhà là Tổng giám đốc Trần Lượng. Thời hạn thuê là 3 năm, tính từ ngày 1.3.2007 đến 1.3.2010. Giá thuê là 900 USD/tháng, được quy đổi ra tiền Việt Nam; giá thuê này không bao gồm thuế liên quan đến việc cho thuê nhà. Giá thuê không thay đổi trong suốt thời gian hợp đồng còn hiệu lực, không bao gồm các chi phí như sử dụng điện, nước, điện thoại. Hết thời gian thuê theo hợp đồng, hai bên có thể thoả thuận để tiếp tục thuê. Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc đặt cọc cho gia đình ông Á là 5.400 USD, tương đương với 86.670.000 đồng. Tiền đặt cọc này sẽ được gia đình ông Á hoàn trả lại công ty khi hợp đồng hết hạn hoặc chấm dứt hợp đồng. Trong hợp đồng thuê nhà, gia đình ông Á và Công ty cổ phần CPK Vĩnh Phúc cam kết điều khoản chấm dứt hợp đồng gồm 5 lý do. Lý do quan trọng nhất là một trong 2 bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải thông báo cho bên kia trước ít nhất 30 ngày bằng văn bản. Nếu những nội dung khác được pháp luật quy định không nêu trong hợp đồng này thì 2 bên cần phải chấp hành nghiêm chỉnh. Bên nào vi phạm thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Continue reading →

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: THANH LÝ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI NGA TRƯỚC THỜI HẠN, AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG?

HẠNH LÊ

Bất đồng quan điểm trong việc bồi thường, 36 lao động (LĐ) từ Nga trở về trước thời hạn đã phải dùng đến biện pháp cuối cùng là kéo nhau đến trụ sở Trung tâm Hợp tác lao động với nước ngoài (gọi tắt là Trung tâm) thuộc TCty Thép VN và Cục quản lý LĐ ngoài nước để đòi quyền lợi.

Trong khi đó, tới thời điểm này không thấy Cục quản lý lao động ngoài nước có thêm biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi cho người LĐ ngoài một công văn yêu cầu Trung tâm đẩy nhanh tiến độ thanh lý hợp đồng được ký cách đây hơn 1 tháng. Khi LĐ tập trung đòi quyền lợi tại trụ sở Cty và tại trụ sở của Cục quản lý lao động ngoài nước chiều 28/8 thì Cục cũng chưa có câu trả lời cũng như một hướng giải quyết cụ thể nào trong khi người LĐ đang đặt hết hi vọng vào cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.

5 tháng XKLĐ = 67 USD

36 LĐ – trong đó, có 34 LĐ là người Bắc Ninh, còn 2 LĐ trú tại Hà Nội ký hợp đồng với Trung tâm sang Nga làm việc cho chủ sử dụng lao động là Công ty APC từ tháng 9/2008. Chi phí cho chuyến đi là 3.000 USD/người. Tuy nhiên, khi sang Nga, NLĐ lại không làm việc cho Cty APC như hợp đồng mà được “chuyền tay” qua hết Cty này sang Cty khác như: Kamaz, Akvaxintez, Kaleri, Prophmarket… Mặt khác, thông tin trên thẻ lao động lại chỉ có vị trí “hoành tráng” như Giám đốc, Trưởng phòng, Tư vấn kinh doanh, nhân viên kinh doanh… chứ không phải thợ xây như hợp đồng lao động. “Cũng chính vì điều này mà NLĐ đã bị cơ quan chức năng Nga truy đuổi 3- 4 lần vì làm việc không đúng chức năng và không đúng địa điểm như thẻ lao động cấp!” – anh Nguyễn Hùng Vĩ – một lao động bức xúc.

Continue reading →

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

GS. PHẠM PHỤ

Có hay không "thị trường GDĐH" ở Việt Nam?

Có những sản phẩm đi vào quá trình tiêu dùng thông qua việc mua bán hoặc trao đổi kiểu "cho không", trong cơ chế thị trường vẫn được gọi là hàng hóa. Như vậy, hàng hóa không nhất thiết gắn với việc mua bán hay thương mại. Dịch vụ GD do vậy vẫn được gọi là một hàng hóa, còn việc có đem ra "mua bán", có thu học phí hay hoàn toàn miễn phí lại là việc khác.

Ở VN, hiện có khoảng 40.000 sinh viên (SV) đang du học tự túc ở nước ngoài, nghĩa là đang "mua" GDĐH ở nước ngoài, xã hội mỗi năm tốn khoảng 300 triệu đô la. (Nói như vậy không có nghĩa là không du học, mà là phải ước lượng: tỷ lệ "học" bao nhiêu, "du" bao nhiêu, có bao nhiêu phần trăm đã rơi vào bẫy của các "cỗ máy cấp bằng" (Degree Mills), nên học những ngành nghề nào, có phương án du học tại chỗ nào tốt hơn hay không?).

Hiện nay cũng đã có 4 trường ĐH và 8 trường CĐ nước ngoài đang kinh doanh, với lợi thế cạnh tranh rất cao, về dịch vụ GDĐH trên đất nước ta. Và, cũng có khoảng 120.000 SV đang theo học các trường ĐH dân lập và tư thục mà toàn bộ chi phí của nhà trường chủ yếu là dựa vào học phí. Như vậy, ít ra đã có một mảng GDĐH đang được thương mại và thị trường hóa ở Việt Nam. Ngay ở mảng GD phổ thông, một dịch vụ mà đến nay vẫn còn rất ít nước trong số 145 thành viên của WTO chấp nhận nhập khẩu vào nước ta cũng đang được tự do kinh doanh với mức học phí lên đến 5.000 – 10.000 đô la Mỹ/năm. Tất cả những sự kiện đó đã vượt lên trên mức quan ngại so với những câu hỏi như: "GDĐH có là hàng hóa không?", có là "công" hay "đặc biệt" mà chúng ta đang mãi tranh luận và đôi khi đã làm ngạc nhiên cho một số nhà GD ở nước ngoài.

Continue reading →

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG: KHÁCH HÀNG KIỆN THẺ CÀO LỖI – PHẬN CÓC KIỆN TRỜI

HUYỀN MY

Gặp một thẻ cào lỗi, người dùng phải kiên nhẫn chờ đợi, đeo đuổi khiếu nại mới được giải quyết. Tự hào hay đau xót phận cóc kiện trời?

Để được đổi thẻ lỗi, cần phải bền gan

“Tôi bị một khách hàng bằng tuổi con mình mắng xơi xơi vào mặt. Khiếu nại nhà mạng thì nhân viên Viettel tại chi nhánh Hà Đông bảo tôi mua phải thẻ giả. Tôi đòi cô ấy biên bản xác nhận tôi mua phải thẻ giả để tôi đề nghị cơ quan điều tra làm rõ thì cô ấy không làm”, ông An – chủ một tiệm tạp hóa tại Hà Đông kể lại chuyện rắc rối của ông liên quan một cái thẻ lỗi.

Chiếc thẻ này có mệnh giá 50.000 đồng, trong lô 10 thẻ ông lấy về từ một đại lý lớn hơn, có dải seri liền nhau. 9 chiếc kia đã được bán ra và nạp thành công nên ông An chắc chắn thẻ mình lấy về không phải là thẻ giả.

Ông đã gọi lên tổng đài hỗ trợ của nhà mạng và được thông báo thẻ cào đã được nạp cho một thuê bao 016xxxxxxxxxx. Trực tiếp gọi điện đến số này, ông An được chủ thuê bao nói giọng miền Nam cho biết đã gần một năm nay không nạp thẻ.

“Mệnh giá 50.000 đồng không phải quá lớn, bất quá tôi coi như đánh rơi tiền nhưng tôi nghĩ rằng một mạng lớn như Viettel thì chắc chắn sẽ quan tâm tới việc giữ gìn uy tín, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nên tôi khiếu nại tiếp. Biết có quay lại chi nhánh Viettel tại Hà Đông cũng không được giải quyết nên tôi tìm cách khác.

Tôi vào trang chủ của nhà mạng, soạn một email khiếu nại trình bày rõ vấn đề của mình, đề nghị Viettel vì uy tín thương hiệu của chính mình và quyền lợi khách hàng kiểm tra kĩ càng và giải quyết đổi thẻ.

Continue reading →

Chính sách đất đai ở Việt Nam TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NGUYỄN TẤN PHÁT– Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Vấn đề ruộng đất thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. “Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững, quản trị quốc gia hiệu quả, phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo”(1)

I. Tổng quan chính sách đất đai ở Việt Nam trong 25 năm (1981 – 2005)

Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay.

Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước. Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã hội khủng hoảng nghiêm trọng.

Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm 1981 của Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” với mục đích là khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo ra sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông nghiệp. Sau kết quả khả quan của “Khoán 100” năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có bước đột phá quan trọng khi lần đầu tiên thừa nhận các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ.

Luật Đất đai ra đời năm 1993 nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban hành, đồng thời, qui định và điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội theo hướng dài hạn.

Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

Continue reading →

CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NGUYỄN TẤN PHÁT- Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia TPHCM

Vấn đề ruộng đất thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. “Chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững, quản trị quốc gia hiệu quả, phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo”(1)

I. Tổng quan chính sách đất đai ở Việt Nam trong 25 năm (1981 – 2005)

Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay.

Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu khách quan phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nước. Nó đáp ứng kịp thời tính thúc bách của hoàn cảnh lúc bấy giờ: siêu lạm phát, thất nghiệp tăng cao, sản xuất đình đốn, lưu thông ngưng trệ, cán cân thương mại thâm hụt… hầu hết các chỉ số vĩ mô đều dưới mức an toàn, đời sống kinh tế – xã hội khủng hoảng nghiêm trọng.

Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm 1981 của Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” với mục đích là khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo ra sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông nghiệp. Sau kết quả khả quan của “Khoán 100” năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có bước đột phá quan trọng khi lần đầu tiên thừa nhận các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ.

Luật Đất đai ra đời năm 1993 nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban hành, đồng thời, qui định và điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội theo hướng dài hạn.

Nhờ những đột phá quan trọng trong các chính sách đất đai đã mang lại những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

Continue reading →

NHỮNG RỦI RO TỪ VIỆC NHẬN THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM

LÊ DUY KHÁNH

Bất động sản là gì?

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, Bất động sản (BĐS) là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

Tại sao các ngân hàng xem BĐS là ưu tiên hàng đầu khi nhận tài sản thế chấp?

Về mặt lý thuyết, khi quyết định cho vay thì tình hình hoạt động kinh doanh tạo ra nguồn trả nợ của khách hàng mới là điều kiện quan trọng nhất. Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều ưu tiên cấp tín dụng có tài sản thế chấp, xem đó như là chiếc phao cuối cùng để thu hồi khoản vay trong trường hợp xảy ra khả năng vỡ nợ.

Tại hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về giao dịch đảm bảo nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tín dụng tại Việt Nam” ngày 27/6/2007, Công ty Tài chính Quốc tế và Hiệp hội Ngân hàng đã công bố khảo sát về tình hình hoạt động cho vay cho thấy có đến 93% các ngân hàng muốn nhận BĐS làm tài sản thế chấp cho các khoản vay thương mại. Còn theo ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì năm 2008, dư nợ BĐS ở mức hơn 9% tổng dư nợ, song giá trị BĐS thế chấp lên đến 50% tổng tài sản ngân hàng, tức bằng GDP của Việt Nam. Những số liệu này cho thấy, hệ thống ngân hàng vẫn xem BĐS là ưu tiên hàng đầu khi nhận tài sản thế chấp.

Rủi ro của hoạt động tín dụng chủ yếu xuất phát từ vấn đề thông tin bất cân xứng với hai hành vi phổ biến là lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.

Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi cho vay, do ít thông tin mà ngân hàng có thể sai lầm trong việc lựa chọn khách hàng và dẫn đến những rủi ro trong thanh toán sau này. Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi cho vay, cũng vì ít thông tin và khả năng kiểm soát quá trình sử dụng vốn, tình hình hoạt động kinh doanh, nguồn trả nợ… gặp khó khăn mà một lần nữa, ngân hàng lại gặp phải những khó khăn trong việc thu hồi nợ. Chính vì vậy mà khi cho vay, vấn đề đầu tiên các ngân hàng xem xét là tài sản và giá trị tài sản thế chấp.

Continue reading →