TỔNG HỢP VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn

  1. Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 3 tháng 4 năm 2008 hưỡng dẫn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân


=================================================================

LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

Quyết định Về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp

=================================================================

LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂM 2000

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT XUẤT BẢN NĂM 2004

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT CÔNG NGHỆ CÔNG TIN NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

CÁC VĂN BẢN DƯỚI LUẬT KHÁC (tham khảo)

=================================================================

ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

=================================================================

VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỰ (Nguồn)

=================================================================

VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI (Nguồn)

(SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)

 

TỔNG HỢP VĂN BẢN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn:

=================================================================

LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT CẠNH TRANH NĂM 2004

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003

Văn bản hướng dẫn

Nghị định Về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản

=================================================================

LUẬT ĐẤU THẦU NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT CÁC CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT CHỨNG KHOÁN NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ NĂM 2005

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

Quyết định Về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp

=================================================================

PHÁP LỆNH TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2003

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29/11/2006 Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

=================================================================

PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG PHÁ GIÁ

=================================================================

VĂN BẢN PHÁP LUẬT DÂN SỰ LÀ NGUỒN CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI

=================================================================

CÁC VĂN BẢN KHÁC

 

=================================================================

VĂN BẢN MỚI CẬP NHẬT

1. Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 của Chính phủ về  bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

 


(SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)

TỔNG HỢP VĂN BẢN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

Văn bản hướng dẫn

  1. Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 3 tháng 4 năm 2008 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân

=================================================================

PHÁP LỆNH THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2004

Văn bản hướng dẫn

1. Nghị định Về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự

2. Quyết định Về tiêu chuẩn, việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan Thi hành án quân khu, quân chủng Hải quân

3. Quyết định Về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự

4. Thông tư Hướng dẫn việc xử lý tài sản tịch thu theo bản án, quyết định của Tòa án quân sự và trách nhiệm của đơn vị quân đội được thi hành án dân sự

5. Quyết định Ban hành Quy định về mẫu, mầu sắc, nguyên tắc sử dụng trang phục, phù hiệu Chấp Hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành án dân sự địa phương, Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; mẫu thẻ, việc cấp phát, thay đổi và thu hồi thẻ Chấp hành viên

6. Nghị định Về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để bảo đảm thi hành án

7. Quyết định Về việc ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự

8. Thông tư liên tịch Hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí

9. Quyết định Về việc ban hành Quy chế uỷ quyền quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thi hành án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cho Giám đốc Sở Tư pháp

10. Quyết định Về việc ban hành chế độ kế toán nghiệp vụ thi hành án

11. Nghị định Quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự

12. Quyết định Ban hành Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự

13. Thông tư liên tịch Hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án

14. Quyết định Quy định Chế độ báo cáo công tác thi hành án dân sự trong quân đội

15. Nghị định Hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản

16. Thông tư liên tịch Hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự

17. Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp

18. Nghị định Về bán đấu giá tài sản

19. Quyết định Về việc thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự

20. Thông tư Hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự

=================================================================

PHÁP LỆNH CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI NĂM 1993

Văn bản hướng dẫn

Nghị định Về án phí, lệ phí toà án

=================================================================

PHÁP LỆNH  VỀ TỔ CHỨC TÒA ÁN QUÂN SỰ  NĂM 2002

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

PHÁP LỆNH  VỀ THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN  NĂM 2002

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Văn bản hướng dẫn

  1. Nghị quyết 293A/2007/UBTVQH12 ngày 27-09-2007 Về việc giao thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật tố tụng hình sự và thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự cho các toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
  2. Nghị quyết 1036/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-07-2006 Về việc giao thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự và thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
  3. Nghị quyết 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24-12-2004 Về việc giao thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho các toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
  4. Nghị quyết 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30-09-2004 Về việc phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của nhà nước; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành toà án, ngành kiểm sát

=================================================================

CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Văn bản hướng dẫn

  1. Nghị quyết 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-08-2006 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự
  2. Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-05-2006 Hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự
  3. Nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-09-2005 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ”
  4. Nghị quyết 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31-07-2003 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
  5. Nghị quyết liên tịch 05/2005/NQLT/TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05-12-2005 Về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Toà án nhân dân
  6. Nghị quyết 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31-07-2003 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
  7. Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-03-2005 Hướng dẫn thi hành một số quy định của trong phần thứ nhất “Những qui định chung” của BLTTDS năm 2004

=================================================================

CÁC VĂN BẢN KHÁC

==========================================================

VĂ N BẢN MỚI CẬP NHẬT

1. LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

 

(SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)

NGHỊ ĐỊNH SỐ 48/2009/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 5 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bình đẳng giới ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 4 và khoản 5 Điều 14, khoản 3 Điều 17, Điều 19, Điều 21, Điều 23, Điều 24, điểm e và điểm g khoản 2 Điều 32 Luật Bình đẳng giới về:

1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới.

2. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; chính sách hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

4. Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, cá nhân).

Continue reading

XÂY DỰNG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN – Đại học Luật Hà Nội

1. Thực trạng hoạt động xây dựng pháp luật đất đai với vấn đề phát triển bền vững

1.1. Những thành công

Thứ nhất, hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và hoạt động xây dựng pháp luật đất đai (PLĐĐ) nói riêng đã quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về lồng ghép vấn đề phát triển bền vững trong hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Điều này thể hiện khi soạn thảo dự thảo Luật Đất đai, nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững trong quản lý và sử dụng đất (SDĐ) là một trong những nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt quá trình soạn thảo, xây dựng PLĐĐ.

Thứ hai, hoạt động xây dựng PLĐĐ dựa vào Hiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chương trình tổng thể về xây dựng pháp luật của Chính phủ giai đoạn 2001 – 2010 v.v.. làm định hướng, mà một trong những tư tưởng chủ đạo của các văn bản này là đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tương thích giữa các đạo luật trong hệ thống pháp luật. Do vậy, đây là một yêu cầu bắt buộc cơ quan soạn thảo PLĐĐ phải đối chiếu với các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp v.v.. trong quá trình soạn thảo để đảm bảo tính tương thích, đồng bộ về mặt nội dung.

Thứ ba, tiếp cận quan điểm quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững, Bộ Tài nguyên và môi trường đã được thành lập theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ với chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực về tài nguyên, môi trường. Kể từ khi Bộ Tài nguyên và môi trường được thành lập, hoạt động xây dựng PLĐĐ được xác định là một trong những công tác trọng tâm của ngành, công tác này tiếp tục được coi trọng và đẩy mạnh nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện và đồng bộ phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Chất lượng công tác xây dựng PLĐĐ được nâng lên một bước, cụ thể:

Continue reading

THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG CỦA KHU VỰC NHÀ NƯỚC CAO HAY THẤP?

NGUYỄN QUANG A

Tổng cục thống kê mới công bố thu nhập bình quân hằng tháng của lao động khu vực nhà nước (năm 2006) là 1829,9 ngàn đồng/tháng. Nhiều người kêu thu nhập như thế là quá thấp. Tất nhiên so con số tuyệt đối với các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật thì hẳn là thấp, song so sánh như vậy là không ổn, là khập khiễng và méo mó. Phải so với những người lao động khác ở trong nước. Hãy xem thực hư thế nào?

Xem xét kỹ hơn thì thấy hơn một nửa số lao động đó là trong lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, khai khoáng… Số người này không có thu nhập từ ngân sách mà từ hoạt động sản xuất kinh doanh, nên thực ra các tổ chức này phải tự lo theo cơ chế thị trường và nếu có so sánh thì nên so với khu vực tư nhân tương ứng mới có ý nghĩa. Nếu thu nhập của họ thấp hơn thu nhập của lao động tương tự trong khu vực tư nhân (và thu nhập chính thức của họ chắc là thấp hơn thu nhập của người tương tự ở khu vực tư nhân), thì điều đó có thể có những ý nghĩa gì? Nó có thể chứng tỏ sự yếu kém của khu vực kinh tế quốc doanh (hay sự bóc lột nhiều hơn của chủ sử dụng lao động!?) và chỉ riêng vì lý do này (và nhiều lý do chính đáng khác) nên cải tổ triệt để khu vực này theo hướng tư nhân hóa. Liệt họ vào đây cũng có cái lý vì họ thuộc khu vực nhà nước, song có thể gây ra lẫn lộn giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động nhà nước.
Trong phân tích tiếp theo chúng ta loại họ ra và chỉ xem xét phần công chức, viên chức nhà nước.
Gần hai triệu người có thu nhập chủ yếu từ ngân sách: quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng (464,7 ngàn người; 1300,9 ngàn đồng), giáo dục đào tạo (1115,1 ngàn người; 1543,8 ngàn đồng), y tế (229,1 ngàn người; 1555,5 ngàn đồng), thể thao văn hóa (44,4 ngàn người; 1601,1 ngàn đồng), đảng, đoàn thể và hiệp hội (109,8 ngàn người; 1252,6 ngàn đồng). Chính vì thế khi tính trung bình và phân tích lĩnh vực nào thấp, lĩnh vực nào cao, hơn nhau bao nhiêu lần, sẽ mất ý nghĩa khi gộp chung như vậy. Có lẽ nên tách bạch ra sẽ đỡ gây nhầm lẫn hơn.

Continue reading

CÁC ĐỘNG LỰC CỦA MUA BÁN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ MINH HUYỀN

Trong suốt quá trình hơn 20 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã và đang phát triển theo chiều hướng tích cực, các doanh nghiệp (DN) được thành lập ngày càng nhiều và hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. Sự ra đời và phát triển của các DN Việt Nam không nằm ngoài quy luật phát triển DN trên thế giới, bên cạnh đó việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo điều kiện cho các DN trong nước và DN nước ngoài có thêm nhiều điều kiện và cơ hội đầu tư.

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, thị trường mua bán DN đã và đang phát triển theo xu hướng của thế giới, điều đó phù hợp với quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam. Các động lực cơ bản cho sự gia tăng hoạt động mua bán DN ở Việt Nam trong những năm gần đây như sau:

Thứ nhất, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao.

Trong suốt 05 năm qua, Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7,5%/năm.

Theo số liệu dự báo của Business Monitor International Ltd (BMI), Việt Nam sẽ khắc phục được khủng hoảng kinh tế tài chính trong thời gian ngắn hạn và sẽ dần lấy lại được tốc độ tăng trưởng GDP cao. Mục tiêu đến năm 2010, Việt Nam sẽ có khoảng 500.000 DN. Ngoài ra, Việt Nam cũng đặt mục tiêu thu hút hơn nữa nguồn đầu tư nước ngoài và phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các loại thị trường… Đây chính là những cơ sở và điều kiện quan trọng để hoạt động mua bán sáp nhập DN tại Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển và hình thành nên một thị trường mua bán sáp nhập DN trong những năm tới. Các chuyên gia kinh tế đã nhận định rằng thị trường mua bán, sáp nhập công ty ở VN đang trở thành một thị trường tiềm năng, với mức phát triển lên tới 30% – 40%/năm.

Không chỉ lạc quan về kinh tế Việt Nam, BMI cũng dự đoán sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, tạo tiền đề cho các dòng vốn FDI dồi dào vào Việt Nam trong thời gian tới.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: DÙNG DẰNG MỘT VỤ BỒI THƯỜNG OAN

VĂN ĐOÀN

VKS tối cao khẳng định đã bị oan nhưng VKS tỉnh và huyện lại bảo không. Gần 10 năm nay, ông Cao Văn Quý (ngụ phường 15, quận 8, TP.HCM) vẫn kiên trì đeo đuổi việc khiếu nại đòi VKSND huyện Kim Động, Hưng Yên phải bồi thường cho ông vì đã khởi tố, truy tố và bắt giam oan ông.

Từ lừa đảo đến không phạm tội

Theo hồ sơ, tháng 3-1989, khi làm chủ nhiệm Hợp tác xã bao đay 27-7, ông Quý đã vay 300 tấn thóc của Chi cục Dự trữ tỉnh Hải Hưng cũ với thời hạn trả là tháng 7-1989. Sau khi nhận gần 300 tấn thóc, hợp tác xã đã cho một số cá nhân vay với lãi suất 5%/tháng. Đến thời hạn trả nợ, hợp tác xã chỉ trả được gần 70 tấn thóc.

Tháng 10-1990, cho rằng ông Quý vay thóc sử dụng không đúng mục đích và không trả đủ trong hạn định, Công an huyện Kim Thi, Hải Hưng cũ đã khởi tố, bắt giam ông Quý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN. Đến tháng 7-1991, VKSND tỉnh Hải Hưng đã ra cáo trạng truy tố ông Quý ra tòa về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong quá trình điều tra, ông Quý đã bỏ trốn. Tháng 4-1999, ông Quý bị bắt theo lệnh truy nã và vụ án được phục hồi điều tra. Tháng 6-1999, Công an tỉnh Hưng Yên thay đổi tội danh của ông Quý từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN sang tội sử dụng trái phép tài sản XHCN. Tháng 8-1999, sau hơn chín tháng tạm giam, Công an huyện Kim Động đã trả tự do cho ông Quý.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 10/2009/TT-BCT NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2009 VỀ THỰC HIỆN QUY TẮC XUẤT XỨ TRONG HIỆP ĐỊNH GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VỀ ĐỐI TÁC KINH TẾ

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế, ký ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tô-ky-ô, Nhật Bản;
Căn cứ Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa;

Bộ Công Thương quy định việc thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

1. Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế là hiệp định được ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tô-ky-ô, Nhật Bản (trong thông tư này gọi tắt là Hiệp định VJEPA).

2. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa Mẫu VJ (trong thông tư này gọi tắt là C/O) là C/O do Tổ chức cấp C/O cấp cho hàng hoá xuất khẩu thoả mãn các quy định nêu tại thông tư này.

3. Tổ chức cấp C/O Mẫu VJ của Việt Nam (trong thông tư này gọi tắt là Tổ chức cấp C/O) là các tổ chức được quy định tại Phụ lục 12.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU TỪ GÓC NHÌN LỢI ÍCH

TẠ NGỌC TẤN

Khủng hoảng tài chính toàn cầu là vấn đề xuyên suốt, trọng tâm của kinh tế thế giới năm 2008 và hiện là tâm điểm sự chú ý của dư luận toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn quá dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ bắt đầu từ giữa tháng 9-2008, sau đó đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu, châu á và gây ra cơn “địa chấn” kinh tế toàn cầu. Chỉ riêng trong năm 2008 đã có trên 30 nghìn tỉ USD, tức là xấp xỉ một nửa vốn toàn thế giới bị “bốc hơi”. Một loạt tập đoàn kinh tế lớn như General Motors, Chrysler,… đứng trên bờ vực phá sản. Sau nỗi hoảng sợ của cả thế giới là trạng thái “đóng băng” tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã phân tích căn nguyên cũng như hệ quả của khủng hoảng dưới nhiều góc độ khác nhau. Bài viết này phân tích cuộc khủng hoảng dưới góc độ lợi ích.

Cuộc khủng hoảng tài chính đã đẩy nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy thoái với sức lây lan nhanh và mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy. Theo dự báo, nền kinh tế các nước G7 từ mức tăng trưởng GDP 1% năm 2008 tụt xuống -2% năm 2009. ở các nền kinh tế đang phát triển có đà tăng trưởng nhanh như Nga, Trung Quốc, ấn Độ, mức tăng GDP năm 2009 cũng chỉ còn bằng xấp xỉ 50% năm 2007. Đầu tư FDI toàn cầu, vốn ODA cam kết và lượng kiều hối chảy về các nước đang phát triển đều sụt giảm nghiêm trọng. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay còn nặng nề, tồi tệ hơn cả cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới thời kỳ 1929 – 1933.

1 – Tại sao khủng hoảng?

Cần trở lại lịch sử của vấn đề để tìm câu trả lời. Vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, dưới thời Tổng thống R. Ri-gân, một lý thuyết kinh tế mới đã ra đời ở nước Mỹ và nhanh chóng tìm được sự hưởng ứng mạnh mẽ trong cả hệ thống các nước tư bản, đặc biệt là ở Anh với Thủ tướng lúc đó là M. That-chơ. Lý thuyết đó sau này được người ta gọi là chủ nghĩa tự do mới hay là chủ nghĩa Ri-gân. Hạt nhân của học thuyết tự do mới là hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực kinh tế để cho nền kinh tế vận hành tự do hoàn toàn theo cơ chế thị trường.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: PHƯỜNG “THIẾU CHÍNH XÁC”, DÂN MẤT BIỆT THỰ TIỀN TỶ

VŨ VĂN TIẾN

Từ giấy chứng thực giả do ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự, quận Đống Đa xác nhận, một đại tá quân đội đã bị vợ chiếm đoạt ngôi biệt thự trị giá hàng chục tỷ đồng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Xác nhận vắng mặt người cam đoan

Trong đơn tố cáo gửi Báo Dân trí, đại tá Phan Quốc Thắng hiện là Giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cho biết: ông Thắng và vợ là bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ đã làm đơn ly hôn ra tòa từ đầu năm 2006.

Tuy nhiên trong thời gian tòa án giải quyết ly hôn, bà Thuỷ đã giả mạo chữ ký của chồng rồi cùng cán bộ có thẩm quyền tạo giấy tờ giả, bán tẩu tán nhiều tài sản có giá trị lớn và chiếm đoạt toàn bộ số tiền bán được.

Cụ thể, biệt thự 5C4, khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra), rộng 198m2 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Thắng và bà Thuỷ. Tuy nhiên ngày 26/7/2007, bà Thuỷ đã làm giả “Giấy cam đoan” xác nhận biệt thự trên là tài sản riêng của mình, giả chữ ký của ông Phan Quốc Thắng, rồi xin chứng thực chữ ký giả mạo tại UBND phường Trung Tự.

Thực tế, ông Phan Quốc Thắng không làm giấy xác nhận tài sản trên cho bà Thuỷ, đồng thời ngày 26/7/2007, ông Thắng cũng không hề đến UBND phường Trung Tự vì phải thực hiện nhiệm vụ của Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Vậy mà, bất chấp sự thật như trên, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự đã xác nhận vào “Giấy cam đoan” giả mạo trên là: “Chứng thực ông Phan Quốc Thắng đã ký trước mặt tôi (ông Phương – PV) tại UBND phường Trung Tự ngày 26/7/2007”.

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN với cải cách hành chính

PHẠM CÔN

Những vấn đề về luật thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) nêu dưới đây có thể sẽ giúp cho bạn đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về những khía cạnh tiến bộ của việc thu TTNCN trên quan điểm của cải cách hành chính. Thậm chí, việc áp dụng một cách khoa học về chính sách TTNCN có thể liên quan đến mức độ thành công của công cuộc cải cách này.

1) Một chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý sẽ cải thiện đáng kể ngân sách Quốc gia cho lương của viên chức hành chính công

Nếu như xã hội ta tạo mọi điều kiện một cách công bằng cho mỗi công dân phát triển nghề nghiệp và có được thu nhập thông qua công việc cá nhân  thì sự bình đẳng này cũng phải thể hiện ở chỗ ai làm ít, làm nhiều thì đều phải đóng góp cho quốc gia tương ứng với thu nhập của người đó. Nói một cách khác: Mọi công dân đều phải được đối xử bình đẳng với thuế thu nhập.
Đó là niềm tự hào chính đáng nhất của mọi công dân trong thời bình, và chắc hẳn mỗi một người dân đóng thuế cho quốc gia đều thấm thía câu khẩu hiệu nổi tiếng bên Đường 5, rất rõ và rất to: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Quốc gia.
Không phải mọi công dân Việt Nam đều hiểu được TTNCN đóng vai trò quan trọng như thế nào với với ngân sách quốc gia; đơn giản vì những người cả đời không phải đóng lấy một xu nào cho công quĩ thì chắc chắn họ không thể có cái cảm giác thuế liên quan đến họ như thế nào, cả về mặt tình cảm (vinh dự) cũng như trách nhiệm đối với thuế thu nhập.
Con số của Bộ Nội Vụ cho biết có khoảng hơn 13 triệu lao động (con số thông báo trên thông tin đại chúng là 12 triệu lao động) hiện có mức thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Cũng thống kê của Bộ Nội Vụ cũng cho biết, tổng cộng số người làm công có lương cao tại các ngành Bưu điện, Điện lực (EVN), Vietnam Airline và khối lao động kỹ thuật cao cho các cơ quan, văn phòng nước ngoài… có thu nhập cao hơn 3 triệu đồng/tháng… là khoảng 2 triệu người.

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

PHẠM CÔN

Những vấn đề về luật thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) nêu dưới đây có thể sẽ giúp cho bạn đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về những khía cạnh tiến bộ của việc thu TTNCN trên quan điểm của cải cách hành chính. Thậm chí, việc áp dụng một cách khoa học về chính sách TTNCN có thể liên quan đến mức độ thành công của công cuộc cải cách này.

1) Một chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý sẽ cải thiện đáng kể ngân sách Quốc gia cho lương của viên chức hành chính công

Nếu như xã hội ta tạo mọi điều kiện một cách công bằng cho mỗi công dân phát triển nghề nghiệp và có được thu nhập thông qua công việc cá nhân  thì sự bình đẳng này cũng phải thể hiện ở chỗ ai làm ít, làm nhiều thì đều phải đóng góp cho quốc gia tương ứng với thu nhập của người đó. Nói một cách khác: Mọi công dân đều phải được đối xử bình đẳng với thuế thu nhập.
Đó là niềm tự hào chính đáng nhất của mọi công dân trong thời bình, và chắc hẳn mỗi một người dân đóng thuế cho quốc gia đều thấm thía câu khẩu hiệu nổi tiếng bên Đường 5, rất rõ và rất to: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Quốc gia.
Không phải mọi công dân Việt Nam đều hiểu được TTNCN đóng vai trò quan trọng như thế nào với với ngân sách quốc gia; đơn giản vì những người cả đời không phải đóng lấy một xu nào cho công quĩ thì chắc chắn họ không thể có cái cảm giác thuế liên quan đến họ như thế nào, cả về mặt tình cảm (vinh dự) cũng như trách nhiệm đối với thuế thu nhập.
Con số của Bộ Nội Vụ cho biết có khoảng hơn 13 triệu lao động (con số thông báo trên thông tin đại chúng là 12 triệu lao động) hiện có mức thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Cũng thống kê của Bộ Nội Vụ cũng cho biết, tổng cộng số người làm công có lương cao tại các ngành Bưu điện, Điện lực (EVN), Vietnam Airline và khối lao động kỹ thuật cao cho các cơ quan, văn phòng nước ngoài… có thu nhập cao hơn 3 triệu đồng/tháng… là khoảng 2 triệu người.

Continue reading

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ NGÀNH LUẬT THỜI HỘI NHẬP

PHÁP LUẬT VIỆT NAM – Giáo dục đại học ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức không nhỏ từ yêu cầu của xã hội, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt giáo dục đại học của Việt Nam đang tụt hậu khá xa so với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Một trong những giải pháp được nhắc tới nhiều trong giai đoạn hiện nay là việc chuyển từ hệ thống đào tạo truyền thống vốn có sang đào tạo theo tín chỉ – một mô hình chúng ta học tập từ các trường đại học của nước ngoài. Phương thức đào tạo theo tín chỉ hiện đang được đánh giá là phương thức đào tạo tiên tiến với nhiều ưu điểm. Cũng như các ngành đào tạo khác trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam, ngành luật cũng cần chuyển sang hình thức đào tạo theo tín chỉ.

1. Xây dựng chương trình đào tạo theo tín chỉ ngành Luật thời hội nhập – Khó hay dễ?

Chương trình đào tạo theo tín chỉ bao gồm hệ thống các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn. Các môn học bắt buộc là lượng kiến thức mà sinh viên bắt buộc phải tích lũy và không có quyền lựa chọn. Các môn học tự chọn được xây dựng một cách linh hoạt, với số lượng các môn học trong danh sách tự chọn phong phú, đa dạng để sinh viên có thể lựa chọn những môn phù hợp nhằm tích lũy đủ số tín chỉ cần thiết để được cấp bằng. Đối với ngành luật, chương trình đào tạo theo tín chỉ cũng được phân chia thành các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn. Vấn đề là việc xây dựng và sắp xếp các môn học, cũng như phân định các môn học bắt buộc hay tự chọn dựa trên tiêu chí nào?

Theo Điều 3 Khoản 2 Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), “học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy; học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hóa hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tùy ý …”. Vậy thì nội dung kiến thức nào là chính yếu, và nội dung kiến thức nào là cần thiết? Bộ Giáo dục và Đào tạo có cần làm rõ hơn quy định trên hay không?

Continue reading

CHUNG QUANH VẤN ĐỀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

TIẾN HẢI

Định hướng cho Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) hình thành từ bao giờ ? Đó là sự lựa chọn đúng hay sai, hợp hay không hợp quy luật, thuận hay không thuận lòng dân ? Những vấn đề nêu trên cần được xác định thật rõ ràng, cụ thể. Bởi vì trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp như hiện nay, ở nước ta thỉnh thoảng lại bùng lên những ý kiến đòi xem lại con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn.

Có ý kiến cho rằng Cụ Hồ "nhập" chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam quá sớm, vì thế CNXH bị "đẻ non", dẫn tới tình trạng yếu ớt, còi cọc và đó chính là lý do làm cho Việt Nam chậm tiến, lạc hậu, ì ạch mãi mà không "cất cánh" lên được.

Ý kiến khác cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã mắc phải bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vội vã gắn độc lập dân tộc với CNXH làm cho nền độc lập của nước nhà phải trả bằng một cái giá quá đắt, đó là hai cuộc chiến tranh khốc liệt.

Lại có ý kiến cho rằng, đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN mà Đảng Cộng sản đề ra là chắp vá, không tưởng. Bởi vì, đã chấp nhận kinh tế thị trường thì không thể định hướng XHCN ; đã định hướng XHCN thì kinh tế thị trường không thể nào phát triển được.

Tóm lại, tất cả những ý kiến đó đều có thâm ý coi việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản chọn cho dân tộc con đường đi lên CNXH là một sai lầm, không hợp quy luật, cũng chẳng thuận lòng dân ; nếu không thì Việt Nam đã là nước giàu mạnh, cũng trở thành "con rồng", "con hổ" chứ chẳng kém ai. Cuối cùng họ đòi hủy bỏ mục tiêu XHCN, trở về với giai đoạn dân chủ nhân dân.

Phải bình tĩnh nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam thì mới tìm được lời giải đáp thỏa đáng cho những vấn đề nêu ra trên đây. C.Mác đã từng nói : "Con người làm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại"(1). Những lời chỉ dẫn đó của Mác giúp chúng ta nhận thức một cách khách quan hơn về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Bác Hồ và của Đảng ta. Sự lựa chọn đó là một tất yếu lịch sử, bởi vì lịch sử đòi hỏi phải như thế chứ không thể nào khác được.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO: TRÚNG SỐ ĐỘC ĐẮC, MẤT TÌNH BẠN BÈ

NGUYÊN TRƯỜNG

Vì một tờ vé số trúng độc đắc, hai người bạn nối khố lôi nhau ra tòa để sau đó không ai nhìn mặt ai… Hai nhân vật trong vụ án này là bạn thân, thân đến độ “điếu thuốc chia đôi, ly cà phê sẻ nửa”, từng hứa với nhau “chừng nào trúng vé số sẽ chia đôi”. Thế mà khi trúng một tờ vé số độc đắc trị giá 125 triệu đồng, họ lại lôi nhau ra tòa rồi sau đó không ai nhìn mặt ai…

Trước “chơi đẹp”

Anh N.T.T và anh T.T.L, ngụ huyện Ba Tri (Bến Tre) vốn là hai người bạn thân cùng làm thuê cho một chủ ghe. Cuối tháng 10-2006, khi ghe ghé tỉnh Trà Vinh, cả hai anh cùng một người bạn khác lên bờ uống nước. Tại quán nước, anh T. mua ba tờ vé số, anh L. mua bốn tờ vé số (loại mệnh giá 5.000 đồng). Sau đó, anh L. giữ tất cả số vé số này.

Sáng hôm sau, anh T. bận làm dưới ghe nên chỉ còn anh L. và người bạn hôm trước đi uống cà phê. Tại quán nước, anh L. dò vé số thì một trong ba tờ của anh T. mua hôm trước đã trúng giải đặc biệt trị giá 125 triệu đồng. Thế là anh L. rủ người bạn cùng đi đổi vé số trúng, sau khi trừ đi thuế và hoa hồng còn tổng cộng 111 triệu đồng. Trên đường về, anh L. đưa cho người bạn đi cùng 11 triệu đồng, còn mình giữ lại 100 triệu đồng.

Về tới ghe, anh L. kể lại chuyện trúng số cho anh T. nghe. Anh T. tưởng bạn nói giỡn, anh L. bèn đưa cho anh T. 50 triệu đồng và nhắc lại lời hứa của hai bên là “nếu trúng số độc đắc sẽ chia đôi”. Sau đó, anh L. kể lại việc chia cho người bạn đi cùng 11 triệu đồng và hỏi anh T. có giữ lời hứa không. Anh T. nhận 50 triệu đồng và cũng đồng ý về việc cho người bạn đi cùng 11 triệu đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ: BÁN NHÀ CHỪA NGỌN

THỤY CHÂU

Căn nhà có lầu trên cùng không hợp lệ vì xây sai phép. Người bán đòi thêm 100 lượng vàng cho phần lầu này nhưng người mua không đồng ý. Vợ chồng ông H. có một căn nhà ở quận 1, TP.HCM. Theo biên bản hoàn công do Kiến trúc sư trưởng TP.HCM lập năm 1998, căn nhà có phần lầu sáu và sân thượng vi phạm độ cao. Do vậy, phần diện tích hợp lệ của căn nhà chỉ gồm có hầm, trệt, năm lầu với tổng diện tích 525 m2.

Đòi tăng giá bán

Tháng 6-2007, vợ chồng ông H. chấp thuận bán cho bà T. căn nhà trên với giá 1.700 lượng vàng. Theo thỏa thuận, đó là giá cố định, không thay đổi bất kể thị trường lên hay xuống. Bà T. đã đặt cọc 45 lượng vàng, sau đó giao tiếp cho bên bán 300 lượng vàng. Hai bên thỏa thuận nếu bên bán không bán thì hoàn trả tiền cọc và bồi thường gấp ba tiền cọc, nếu bên mua không mua thì mất cọc.

Thế nhưng sau đó vợ chồng ông H. lại yêu cầu tăng giá bán thêm 100 lượng vàng. Theo họ, hợp đồng mua bán ghi hiện trạng căn nhà là “hầm, trệt, năm lầu” nên giờ bà T. muốn mua lầu sáu thì phải trả thêm tiền. Nếu không, bà phải chịu mất 45 lượng vàng đặt cọc.

Bà T. cho rằng bên bán đòi tăng giá như thế là vô lý, bởi lẽ hợp đồng ghi rõ bà đã “mua đứt” căn nhà. Như vậy, dù cho căn nhà có mấy lầu thì bên bán cũng phải giao toàn bộ căn nhà cho bà theo giá cũ. Sở dĩ các bên không ghi lầu sáu và sân thượng vào hợp đồng vì đây là phần xây dựng sai phép, không được các cơ quan chức năng công nhận.

Continue reading

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA nền kinh tế thị trường ở nước ta

GS.TS. CHU VĂN CẤP– Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Việc thừa nhận kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ nghiên cứu, vận dụng tốt kho tàng tri thức về kinh tế thị trường và các quy luật của nó nhằm thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội, trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Vì thế kinh tế thị trường không chỉ là “công nghệ”, là “phương tiện” để phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là những quan hệ kinh tế – xã hội, nó không chỉ bao gồm các yếu tố của lực lượng sản xuất, mà còn cả một hệ thống quan hệ sản xuất. Như vậy, chứng tỏ không có và không thể có một nền kinh tế thị trường chung chung, thuần túy, trừu tượng tách rời khỏi hình thái kinh tế – xã hội, tách rời khỏi chế độ chính trị – xã hội của một nước. Do đó, để phân biệt các nền kinh tế thị trường khác nhau, trước hết phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế – xã hội mà nhà nước và nhân dân lựa chọn làm định hướng, chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế đó.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế – xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò “động lực” thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò “hướng dẫn”, “chế định” sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội.

Continue reading

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

GS.TS. CHU VĂN CẤP – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Việc thừa nhận kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ nghiên cứu, vận dụng tốt kho tàng tri thức về kinh tế thị trường và các quy luật của nó nhằm thực hiện mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội, trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Vì thế kinh tế thị trường không chỉ là "công nghệ", là "phương tiện" để phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là những quan hệ kinh tế – xã hội, nó không chỉ bao gồm các yếu tố của lực lượng sản xuất, mà còn cả một hệ thống quan hệ sản xuất. Như vậy, chứng tỏ không có và không thể có một nền kinh tế thị trường chung chung, thuần túy, trừu tượng tách rời khỏi hình thái kinh tế – xã hội, tách rời khỏi chế độ chính trị – xã hội của một nước. Do đó, để phân biệt các nền kinh tế thị trường khác nhau, trước hết phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế – xã hội mà nhà nước và nhân dân lựa chọn làm định hướng, chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế đó.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế – xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò "động lực" thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò "hướng dẫn", "chế định" sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội.

Continue reading