NGHỊ ĐỊNH SỐ 48/2009/NĐ-CP NGÀY 19 THÁNG 5 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bình đẳng giới ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 4 và khoản 5 Điều 14, khoản 3 Điều 17, Điều 19, Điều 21, Điều 23, Điều 24, điểm e và điểm g khoản 2 Điều 32 Luật Bình đẳng giới về:

1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới.

2. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; chính sách hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

4. Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, cá nhân).

Continue reading

XÂY DỰNG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN – Đại học Luật Hà Nội

1. Thực trạng hoạt động xây dựng pháp luật đất đai với vấn đề phát triển bền vững

1.1. Những thành công

Thứ nhất, hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và hoạt động xây dựng pháp luật đất đai (PLĐĐ) nói riêng đã quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về lồng ghép vấn đề phát triển bền vững trong hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Điều này thể hiện khi soạn thảo dự thảo Luật Đất đai, nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững trong quản lý và sử dụng đất (SDĐ) là một trong những nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt quá trình soạn thảo, xây dựng PLĐĐ.

Thứ hai, hoạt động xây dựng PLĐĐ dựa vào Hiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chương trình tổng thể về xây dựng pháp luật của Chính phủ giai đoạn 2001 – 2010 v.v.. làm định hướng, mà một trong những tư tưởng chủ đạo của các văn bản này là đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tương thích giữa các đạo luật trong hệ thống pháp luật. Do vậy, đây là một yêu cầu bắt buộc cơ quan soạn thảo PLĐĐ phải đối chiếu với các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp v.v.. trong quá trình soạn thảo để đảm bảo tính tương thích, đồng bộ về mặt nội dung.

Thứ ba, tiếp cận quan điểm quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững, Bộ Tài nguyên và môi trường đã được thành lập theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ với chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực về tài nguyên, môi trường. Kể từ khi Bộ Tài nguyên và môi trường được thành lập, hoạt động xây dựng PLĐĐ được xác định là một trong những công tác trọng tâm của ngành, công tác này tiếp tục được coi trọng và đẩy mạnh nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện và đồng bộ phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Chất lượng công tác xây dựng PLĐĐ được nâng lên một bước, cụ thể:

Continue reading

THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG CỦA KHU VỰC NHÀ NƯỚC CAO HAY THẤP?

NGUYỄN QUANG A

Tổng cục thống kê mới công bố thu nhập bình quân hằng tháng của lao động khu vực nhà nước (năm 2006) là 1829,9 ngàn đồng/tháng. Nhiều người kêu thu nhập như thế là quá thấp. Tất nhiên so con số tuyệt đối với các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật thì hẳn là thấp, song so sánh như vậy là không ổn, là khập khiễng và méo mó. Phải so với những người lao động khác ở trong nước. Hãy xem thực hư thế nào?

Xem xét kỹ hơn thì thấy hơn một nửa số lao động đó là trong lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, khai khoáng… Số người này không có thu nhập từ ngân sách mà từ hoạt động sản xuất kinh doanh, nên thực ra các tổ chức này phải tự lo theo cơ chế thị trường và nếu có so sánh thì nên so với khu vực tư nhân tương ứng mới có ý nghĩa. Nếu thu nhập của họ thấp hơn thu nhập của lao động tương tự trong khu vực tư nhân (và thu nhập chính thức của họ chắc là thấp hơn thu nhập của người tương tự ở khu vực tư nhân), thì điều đó có thể có những ý nghĩa gì? Nó có thể chứng tỏ sự yếu kém của khu vực kinh tế quốc doanh (hay sự bóc lột nhiều hơn của chủ sử dụng lao động!?) và chỉ riêng vì lý do này (và nhiều lý do chính đáng khác) nên cải tổ triệt để khu vực này theo hướng tư nhân hóa. Liệt họ vào đây cũng có cái lý vì họ thuộc khu vực nhà nước, song có thể gây ra lẫn lộn giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động nhà nước.
Trong phân tích tiếp theo chúng ta loại họ ra và chỉ xem xét phần công chức, viên chức nhà nước.
Gần hai triệu người có thu nhập chủ yếu từ ngân sách: quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng (464,7 ngàn người; 1300,9 ngàn đồng), giáo dục đào tạo (1115,1 ngàn người; 1543,8 ngàn đồng), y tế (229,1 ngàn người; 1555,5 ngàn đồng), thể thao văn hóa (44,4 ngàn người; 1601,1 ngàn đồng), đảng, đoàn thể và hiệp hội (109,8 ngàn người; 1252,6 ngàn đồng). Chính vì thế khi tính trung bình và phân tích lĩnh vực nào thấp, lĩnh vực nào cao, hơn nhau bao nhiêu lần, sẽ mất ý nghĩa khi gộp chung như vậy. Có lẽ nên tách bạch ra sẽ đỡ gây nhầm lẫn hơn.

Continue reading

CÁC ĐỘNG LỰC CỦA MUA BÁN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ MINH HUYỀN

Trong suốt quá trình hơn 20 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã và đang phát triển theo chiều hướng tích cực, các doanh nghiệp (DN) được thành lập ngày càng nhiều và hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. Sự ra đời và phát triển của các DN Việt Nam không nằm ngoài quy luật phát triển DN trên thế giới, bên cạnh đó việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo điều kiện cho các DN trong nước và DN nước ngoài có thêm nhiều điều kiện và cơ hội đầu tư.

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, thị trường mua bán DN đã và đang phát triển theo xu hướng của thế giới, điều đó phù hợp với quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam. Các động lực cơ bản cho sự gia tăng hoạt động mua bán DN ở Việt Nam trong những năm gần đây như sau:

Thứ nhất, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao.

Trong suốt 05 năm qua, Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7,5%/năm.

Theo số liệu dự báo của Business Monitor International Ltd (BMI), Việt Nam sẽ khắc phục được khủng hoảng kinh tế tài chính trong thời gian ngắn hạn và sẽ dần lấy lại được tốc độ tăng trưởng GDP cao. Mục tiêu đến năm 2010, Việt Nam sẽ có khoảng 500.000 DN. Ngoài ra, Việt Nam cũng đặt mục tiêu thu hút hơn nữa nguồn đầu tư nước ngoài và phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các loại thị trường… Đây chính là những cơ sở và điều kiện quan trọng để hoạt động mua bán sáp nhập DN tại Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển và hình thành nên một thị trường mua bán sáp nhập DN trong những năm tới. Các chuyên gia kinh tế đã nhận định rằng thị trường mua bán, sáp nhập công ty ở VN đang trở thành một thị trường tiềm năng, với mức phát triển lên tới 30% – 40%/năm.

Không chỉ lạc quan về kinh tế Việt Nam, BMI cũng dự đoán sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, tạo tiền đề cho các dòng vốn FDI dồi dào vào Việt Nam trong thời gian tới.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: DÙNG DẰNG MỘT VỤ BỒI THƯỜNG OAN

VĂN ĐOÀN

VKS tối cao khẳng định đã bị oan nhưng VKS tỉnh và huyện lại bảo không. Gần 10 năm nay, ông Cao Văn Quý (ngụ phường 15, quận 8, TP.HCM) vẫn kiên trì đeo đuổi việc khiếu nại đòi VKSND huyện Kim Động, Hưng Yên phải bồi thường cho ông vì đã khởi tố, truy tố và bắt giam oan ông.

Từ lừa đảo đến không phạm tội

Theo hồ sơ, tháng 3-1989, khi làm chủ nhiệm Hợp tác xã bao đay 27-7, ông Quý đã vay 300 tấn thóc của Chi cục Dự trữ tỉnh Hải Hưng cũ với thời hạn trả là tháng 7-1989. Sau khi nhận gần 300 tấn thóc, hợp tác xã đã cho một số cá nhân vay với lãi suất 5%/tháng. Đến thời hạn trả nợ, hợp tác xã chỉ trả được gần 70 tấn thóc.

Tháng 10-1990, cho rằng ông Quý vay thóc sử dụng không đúng mục đích và không trả đủ trong hạn định, Công an huyện Kim Thi, Hải Hưng cũ đã khởi tố, bắt giam ông Quý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN. Đến tháng 7-1991, VKSND tỉnh Hải Hưng đã ra cáo trạng truy tố ông Quý ra tòa về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong quá trình điều tra, ông Quý đã bỏ trốn. Tháng 4-1999, ông Quý bị bắt theo lệnh truy nã và vụ án được phục hồi điều tra. Tháng 6-1999, Công an tỉnh Hưng Yên thay đổi tội danh của ông Quý từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN sang tội sử dụng trái phép tài sản XHCN. Tháng 8-1999, sau hơn chín tháng tạm giam, Công an huyện Kim Động đã trả tự do cho ông Quý.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 10/2009/TT-BCT NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2009 VỀ THỰC HIỆN QUY TẮC XUẤT XỨ TRONG HIỆP ĐỊNH GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VỀ ĐỐI TÁC KINH TẾ

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế, ký ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tô-ky-ô, Nhật Bản;
Căn cứ Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa;

Bộ Công Thương quy định việc thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

1. Hiệp định giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế là hiệp định được ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tô-ky-ô, Nhật Bản (trong thông tư này gọi tắt là Hiệp định VJEPA).

2. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa Mẫu VJ (trong thông tư này gọi tắt là C/O) là C/O do Tổ chức cấp C/O cấp cho hàng hoá xuất khẩu thoả mãn các quy định nêu tại thông tư này.

3. Tổ chức cấp C/O Mẫu VJ của Việt Nam (trong thông tư này gọi tắt là Tổ chức cấp C/O) là các tổ chức được quy định tại Phụ lục 12.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU TỪ GÓC NHÌN LỢI ÍCH

TẠ NGỌC TẤN

Khủng hoảng tài chính toàn cầu là vấn đề xuyên suốt, trọng tâm của kinh tế thế giới năm 2008 và hiện là tâm điểm sự chú ý của dư luận toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn quá dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ bắt đầu từ giữa tháng 9-2008, sau đó đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu, châu á và gây ra cơn “địa chấn” kinh tế toàn cầu. Chỉ riêng trong năm 2008 đã có trên 30 nghìn tỉ USD, tức là xấp xỉ một nửa vốn toàn thế giới bị “bốc hơi”. Một loạt tập đoàn kinh tế lớn như General Motors, Chrysler,… đứng trên bờ vực phá sản. Sau nỗi hoảng sợ của cả thế giới là trạng thái “đóng băng” tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu. Nhiều nghiên cứu đã phân tích căn nguyên cũng như hệ quả của khủng hoảng dưới nhiều góc độ khác nhau. Bài viết này phân tích cuộc khủng hoảng dưới góc độ lợi ích.

Cuộc khủng hoảng tài chính đã đẩy nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy thoái với sức lây lan nhanh và mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy. Theo dự báo, nền kinh tế các nước G7 từ mức tăng trưởng GDP 1% năm 2008 tụt xuống -2% năm 2009. ở các nền kinh tế đang phát triển có đà tăng trưởng nhanh như Nga, Trung Quốc, ấn Độ, mức tăng GDP năm 2009 cũng chỉ còn bằng xấp xỉ 50% năm 2007. Đầu tư FDI toàn cầu, vốn ODA cam kết và lượng kiều hối chảy về các nước đang phát triển đều sụt giảm nghiêm trọng. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay còn nặng nề, tồi tệ hơn cả cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới thời kỳ 1929 – 1933.

1 – Tại sao khủng hoảng?

Cần trở lại lịch sử của vấn đề để tìm câu trả lời. Vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, dưới thời Tổng thống R. Ri-gân, một lý thuyết kinh tế mới đã ra đời ở nước Mỹ và nhanh chóng tìm được sự hưởng ứng mạnh mẽ trong cả hệ thống các nước tư bản, đặc biệt là ở Anh với Thủ tướng lúc đó là M. That-chơ. Lý thuyết đó sau này được người ta gọi là chủ nghĩa tự do mới hay là chủ nghĩa Ri-gân. Hạt nhân của học thuyết tự do mới là hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực kinh tế để cho nền kinh tế vận hành tự do hoàn toàn theo cơ chế thị trường.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG: PHƯỜNG “THIẾU CHÍNH XÁC”, DÂN MẤT BIỆT THỰ TIỀN TỶ

VŨ VĂN TIẾN

Từ giấy chứng thực giả do ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự, quận Đống Đa xác nhận, một đại tá quân đội đã bị vợ chiếm đoạt ngôi biệt thự trị giá hàng chục tỷ đồng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Xác nhận vắng mặt người cam đoan

Trong đơn tố cáo gửi Báo Dân trí, đại tá Phan Quốc Thắng hiện là Giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cho biết: ông Thắng và vợ là bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ đã làm đơn ly hôn ra tòa từ đầu năm 2006.

Tuy nhiên trong thời gian tòa án giải quyết ly hôn, bà Thuỷ đã giả mạo chữ ký của chồng rồi cùng cán bộ có thẩm quyền tạo giấy tờ giả, bán tẩu tán nhiều tài sản có giá trị lớn và chiếm đoạt toàn bộ số tiền bán được.

Cụ thể, biệt thự 5C4, khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra), rộng 198m2 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Thắng và bà Thuỷ. Tuy nhiên ngày 26/7/2007, bà Thuỷ đã làm giả “Giấy cam đoan” xác nhận biệt thự trên là tài sản riêng của mình, giả chữ ký của ông Phan Quốc Thắng, rồi xin chứng thực chữ ký giả mạo tại UBND phường Trung Tự.

Thực tế, ông Phan Quốc Thắng không làm giấy xác nhận tài sản trên cho bà Thuỷ, đồng thời ngày 26/7/2007, ông Thắng cũng không hề đến UBND phường Trung Tự vì phải thực hiện nhiệm vụ của Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Vậy mà, bất chấp sự thật như trên, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự đã xác nhận vào “Giấy cam đoan” giả mạo trên là: “Chứng thực ông Phan Quốc Thắng đã ký trước mặt tôi (ông Phương – PV) tại UBND phường Trung Tự ngày 26/7/2007”.

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN với cải cách hành chính

PHẠM CÔN

Những vấn đề về luật thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) nêu dưới đây có thể sẽ giúp cho bạn đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về những khía cạnh tiến bộ của việc thu TTNCN trên quan điểm của cải cách hành chính. Thậm chí, việc áp dụng một cách khoa học về chính sách TTNCN có thể liên quan đến mức độ thành công của công cuộc cải cách này.

1) Một chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý sẽ cải thiện đáng kể ngân sách Quốc gia cho lương của viên chức hành chính công

Nếu như xã hội ta tạo mọi điều kiện một cách công bằng cho mỗi công dân phát triển nghề nghiệp và có được thu nhập thông qua công việc cá nhân  thì sự bình đẳng này cũng phải thể hiện ở chỗ ai làm ít, làm nhiều thì đều phải đóng góp cho quốc gia tương ứng với thu nhập của người đó. Nói một cách khác: Mọi công dân đều phải được đối xử bình đẳng với thuế thu nhập.
Đó là niềm tự hào chính đáng nhất của mọi công dân trong thời bình, và chắc hẳn mỗi một người dân đóng thuế cho quốc gia đều thấm thía câu khẩu hiệu nổi tiếng bên Đường 5, rất rõ và rất to: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Quốc gia.
Không phải mọi công dân Việt Nam đều hiểu được TTNCN đóng vai trò quan trọng như thế nào với với ngân sách quốc gia; đơn giản vì những người cả đời không phải đóng lấy một xu nào cho công quĩ thì chắc chắn họ không thể có cái cảm giác thuế liên quan đến họ như thế nào, cả về mặt tình cảm (vinh dự) cũng như trách nhiệm đối với thuế thu nhập.
Con số của Bộ Nội Vụ cho biết có khoảng hơn 13 triệu lao động (con số thông báo trên thông tin đại chúng là 12 triệu lao động) hiện có mức thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Cũng thống kê của Bộ Nội Vụ cũng cho biết, tổng cộng số người làm công có lương cao tại các ngành Bưu điện, Điện lực (EVN), Vietnam Airline và khối lao động kỹ thuật cao cho các cơ quan, văn phòng nước ngoài… có thu nhập cao hơn 3 triệu đồng/tháng… là khoảng 2 triệu người.

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỚI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

PHẠM CÔN

Những vấn đề về luật thuế thu nhập cá nhân (TTNCN) nêu dưới đây có thể sẽ giúp cho bạn đọc có cái nhìn rõ ràng hơn về những khía cạnh tiến bộ của việc thu TTNCN trên quan điểm của cải cách hành chính. Thậm chí, việc áp dụng một cách khoa học về chính sách TTNCN có thể liên quan đến mức độ thành công của công cuộc cải cách này.

1) Một chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý sẽ cải thiện đáng kể ngân sách Quốc gia cho lương của viên chức hành chính công

Nếu như xã hội ta tạo mọi điều kiện một cách công bằng cho mỗi công dân phát triển nghề nghiệp và có được thu nhập thông qua công việc cá nhân  thì sự bình đẳng này cũng phải thể hiện ở chỗ ai làm ít, làm nhiều thì đều phải đóng góp cho quốc gia tương ứng với thu nhập của người đó. Nói một cách khác: Mọi công dân đều phải được đối xử bình đẳng với thuế thu nhập.
Đó là niềm tự hào chính đáng nhất của mọi công dân trong thời bình, và chắc hẳn mỗi một người dân đóng thuế cho quốc gia đều thấm thía câu khẩu hiệu nổi tiếng bên Đường 5, rất rõ và rất to: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Quốc gia.
Không phải mọi công dân Việt Nam đều hiểu được TTNCN đóng vai trò quan trọng như thế nào với với ngân sách quốc gia; đơn giản vì những người cả đời không phải đóng lấy một xu nào cho công quĩ thì chắc chắn họ không thể có cái cảm giác thuế liên quan đến họ như thế nào, cả về mặt tình cảm (vinh dự) cũng như trách nhiệm đối với thuế thu nhập.
Con số của Bộ Nội Vụ cho biết có khoảng hơn 13 triệu lao động (con số thông báo trên thông tin đại chúng là 12 triệu lao động) hiện có mức thu nhập từ 1,5 triệu đồng/tháng trở lên. Cũng thống kê của Bộ Nội Vụ cũng cho biết, tổng cộng số người làm công có lương cao tại các ngành Bưu điện, Điện lực (EVN), Vietnam Airline và khối lao động kỹ thuật cao cho các cơ quan, văn phòng nước ngoài… có thu nhập cao hơn 3 triệu đồng/tháng… là khoảng 2 triệu người.

Continue reading