CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

NGUYỄN THỊ BÌNH DƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bình đẳng giới vẫn đang là vấn đề rất nóng bỏng hiện nay ở nhiều quốc gia. Cũng vì thế, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã phê chuẩn Công ước quốc tế về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (gọi tắt là CEDAW) vào tháng 12-1979. Tính đến tháng 3-2005 đã có 180 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc.

Ngay từ khi mới thành lập, Việt Nam là một nước đã chú ý đến bình đẳng nam, nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ phát triển. Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu về giới và bình đẳng giới, đã được quốc tế thừa nhận. Trong giai đoạn 2001-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg về Chiến lược Quốc gia Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam, nhằm tạo nhiều cơ hội hơn nữa cho sự phát triển của phụ nữ, như hỗ trợ tạo việc làm, học tập nâng cao năng lực, chăm sóc sức khỏe đến nâng cao vị thế của phụ nữ trong tham gia lãnh đạo, quản lý đất nước. Đồng thời, củng cố hệ thống cơ quan vì sự tiến bộ của phụ nữ từ trung ương đến cơ sở và nâng cao nhận thức của mọi người về vấn đề này.

Tuy nhiên, bình đẳng giới, cũng như tạo cơ hội cho phát triển phụ nữ không phải là công việc dễ làm và không phải ai cũng nhận thức đúng tầm quan trọng của nó. Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, vốn chịu ảnh hưởng từ lâu đời của những tư tưởng phong kiến lạc hậu trọng nam, coi thường nữ, ăn sâu vào tiềm thức, thâm căn cố đế của người dân. Thậm chí, nhiều người còn cho đấy là một nét của “phong tục, tập quán” không thể thay đổi.

Trong Hội nghị toàn quốc giữa kỳ đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, các đại biểu của các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố đã nhất trí về nhận xét những tồn tại hiện nay là: “Trình độ học vấn nghề nghiệp của phụ nữ còn thấp so với nam giới, chưa đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tư tưởng trọng nam, coi thường nữ, tệ phân biệt đối xử với phụ nữ còn khá phổ biến. Gánh nặng công việc gia đình làm cản trở phụ nữ tiến bộ. Tệ nạn buôn bán phụ nữ, mại dâm, đánh đập, ngược đãi phụ nữ… còn diễn biến phức tạp. Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ở các vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn. Công tác quản lý kinh tế – xã hội nói chung còn yếu kém, ảnh hưởng tới việc thực hiện các chính sách bình đẳng giới”. Vì thế, việc hiểu chưa đúng những vấn đề mới mà Luật Bình đẳng giới đưa ra, cũng là không thể tránh khỏi.

1. Trước hết, sự cần thiết phải có tỷ lệ nữ trong danh sách giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, trong cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hoặc khi bổ nhiệm các chức danh thuộc ngành, nghề có chức danh, v.v…

Continue reading

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VỀ SỞ HỮU trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

NGUYỄN VĂN HẬU

Trong quá trình hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì việc hình thành và phát triển thể chế về sở hữu là vấn đề cốt lõi, giữ vị trí trung tâm. C.Mác viết: “…tất cả những cuộc cách mạng gọi là những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên đến cuộc cách mạng cuối cùng, đều được tiến hành để bảo hộ sở hữu thuộc một loại nào đó”. ở nước ta hiện nay, xây dựng và phát triển thể chế về sở hữu phải đảm bảo vừa thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phù hợp với KTTT, vừa phải giữ vững định hướng XHCN.

Định hướng hoàn thiện thể chế về sở hữu

Trong những năm qua, thể chế về các hình thức sở hữu đa dạng đã từng bước được hình thành và phát huy tác dụng, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển năng động và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và hội nhập. Vì vậy cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện theo những hướng sau đây:

Tiếp tục khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước, khoáng sản…

Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các quyền của người sử dụng đất theo các quy định hiện nay của pháp luật được tôn trọng và bảo đảm.

Tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế – xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; thu hẹp và tiến tới xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) đối với tài sản, vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước. Tiếp tục đổi mới, củng cố và phát huy vai trò của mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Quy định rõ, cụ thể về quyền của chủ sở hữu và những người liên quan đối với các loại tài sản (trí tuệ, tài sản vật chất, tài sản cổ phiếu, tài sản nợ); bảo hộ các quyền lợi hợp pháp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu và những người liên quan đối với xã hội.

Khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tập thể, các tổ hợp tác, hợp tác xã; bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của các xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã.

Khuyến khích liên kết hỗn hợp giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, làm cho chế độ cổ phần, sở hữu hỗn hợp trở thành hình thức sở hữu chủ yếu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Continue reading

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VỀ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

NGUYỄN VĂN HẬU

Trong quá trình hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì việc hình thành và phát triển thể chế về sở hữu là vấn đề cốt lõi, giữ vị trí trung tâm. C.Mác viết: “…tất cả những cuộc cách mạng gọi là những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên đến cuộc cách mạng cuối cùng, đều được tiến hành để bảo hộ sở hữu thuộc một loại nào đó”. ở nước ta hiện nay, xây dựng và phát triển thể chế về sở hữu phải đảm bảo vừa thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phù hợp với KTTT, vừa phải giữ vững định hướng XHCN.

Định hướng hoàn thiện thể chế về sở hữu

Trong những năm qua, thể chế về các hình thức sở hữu đa dạng đã từng bước được hình thành và phát huy tác dụng, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển năng động và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và hội nhập. Vì vậy cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện theo những hướng sau đây:

Tiếp tục khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước, khoáng sản…

Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các quyền của người sử dụng đất theo các quy định hiện nay của pháp luật được tôn trọng và bảo đảm.

Tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế – xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; thu hẹp và tiến tới xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) đối với tài sản, vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước. Tiếp tục đổi mới, củng cố và phát huy vai trò của mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Quy định rõ, cụ thể về quyền của chủ sở hữu và những người liên quan đối với các loại tài sản (trí tuệ, tài sản vật chất, tài sản cổ phiếu, tài sản nợ); bảo hộ các quyền lợi hợp pháp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu và những người liên quan đối với xã hội.

Khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tập thể, các tổ hợp tác, hợp tác xã; bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của các xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã.

Khuyến khích liên kết hỗn hợp giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, làm cho chế độ cổ phần, sở hữu hỗn hợp trở thành hình thức sở hữu chủ yếu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Continue reading

ÁN DÂN SỰ: VIỆN KIỂM SÁT CHỈ NÊN ĐỨNG NGOÀI?

HỒ KHẢI HÀ

Nhiều người cho rằng trong án dân sự, hai bên đương sự tự định đoạt, tự chứng minh thì không nên để VKS “dính” vào làm gì. Theo quy định, trong án dân sự, VKS sẽ tham gia phiên xử trong những vụ án do tòa thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa, các vụ việc mà VKS có kháng nghị. Trong đó, những vụ đương sự khiếu nại về chuyện thu thập chứng cứ của tòa thì VKS phải dự phiên xử sơ thẩm.

Việc dân sự cốt ở đôi bên

Tại một hội nghị góp ý mô hình tòa án, VKS đầu năm nay, đã có những ý kiến cho rằng cần phải xem lại quy định trên vì nó không phù hợp cả thực tế lẫn lý luận.

Theo luồng quan điểm này, hiện chuyện giải quyết án dân sự vẫn trên nguyên tắc là hai bên đương sự tự định đoạt, tự chứng minh thì không nên để VKS “dính” vào làm gì. Bởi về lý thuyết, trong trường hợp có đương sự “la làng” rằng tòa thu thập chứng cứ sai, thiếu khách quan thì dù có ngồi tại phiên xử, VKS cũng không được nêu ra chính kiến. Có chăng là sau khi phiên xử kết thúc, nghiên cứu lại, nếu thấy có sai sót về thu thập chứng cứ, VKS mới kháng nghị và lúc này vai trò của VKS mới thực sự được thể hiện.

Tuy nhiên trên thực tế, trong phiên xử có VKS tham gia, bao giờ tòa cũng quay sang hỏi quan điểm của VKS ra sao. Dĩ nhiên đại diện VKS sẽ phải đứng lên phát biểu. Đây là một trong những điều “trái tai gai mắt” nhất ở một phiên xử dân sự. Có lúc đại diện VKS nêu quan điểm về vụ án như một hội đồng xét xử thứ hai, mang nhiều tính áp đặt của cơ quan tố tụng. Cũng có lúc đại diện VKS nghiêng về một phía đương sự như là một luật sư bảo vệ quyền lợi. Do vậy, sự giám sát việc tuân theo pháp luật ở đây đã đi quá sâu, can thiệp cả vào nội dung vụ án. Còn tòa, lúc này lại xem các ý kiến của VKS như là một khía không kém phần nặng ký để tham khảo. Vô hình trung chuyện các đương sự tự chứng minh, tự định đoạt lại ít nhiều đã bị ảnh hưởng bởi quan điểm của VKS.

Theo nhiều người, nếu có khiếu nại về chứng cứ, cho rằng tòa làm không đúng thì các đương sự cứ khiếu nại lên tòa. Cấp sơ thẩm làm sai thì vẫn còn cấp phúc thẩm xử thêm một lần nữa. Nếu còn tiếp tục sai sót thì còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm… Do vậy, đương sự nên tin tưởng vào việc giải quyết của hệ thống tòa án chứ không nên “đẩy” VKS vào vòng tố tụng dân sự. Làm như vậy vừa mất công mất sức của VKS, vừa khiến cho cả tòa lẫn đương sự gặp những áp lực không cần thiết!

Continue reading

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

THU PHƯƠNG

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, lao động di cư (Migrant Worker) là một phần không thể tách rời giữa các nền kinh tế. Thực tế cho thấy, lao động di cư đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của các nước nhập khẩu và các nước xuất khẩu lao động. Nhưng liệu lao động di cư có được đối xử công bằng trong nền kinh tế toàn cầu, liệu quyền của người lao động di cư đã được các quốc gia gửi và nhận lao động đề cập như là trọng tâm của các chính sách kinh tế và phát triển trong quá trình nhập khẩu và xuất khẩu lao động?

Có hai loại lao động di cư cơ bản: di cư từ vùng này đến vùng khác trong phạm vi biên giới của một quốc gia và di cư từ quốc gia này đến quốc gia khác. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến quyền của người lao động di cư từ quốc gia này đến quốc gia khác.

Lao động trong môi trường độc hại, nguy hiểm, bị đánh đập hay lạm dụng mà không được bảo vệ, bị trả lương không xứng đáng và bị phân biệt đối xử về lương so với người bản địa… là những khó khăn mà người lao động di cư thường phải đối mặt. Ngoài ra, hạn chế về ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa cũng là rào cản khiến lao động di cư chịu thêm nhiều thiệt thòi.

Để có cơ sở vững chắc trong việc bảo vệ quyền của người lao động di cư, cộng đồng quốc tế đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý vững chắc thông qua việc ban hành công ước quốc tế, các Hiệp định đa phương, song phương về bảo vệ quyền của người lao động di cư.

Quyền con người nói chung, quyền của người lao động di cư nói riêng được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người: được hưởng các quyền cơ bản của con người, không bị phân biệt đối xử; Ngoài ra, người lao động di cư và các thành viên gia đình họ còn được hưởng một số quyền đặc biệt: quyền đến và rời khỏi một đất nước; quyền tự do hội họp và lập hội; quyền có công việc và các điều kiện làm việc tương xứng; quyền được giáo dục và chăm sóc sức khỏe; quyền được có cuộc sống gia đình.

Quyền của người lao động di cư một lần nữa được đề cập một cách sâu sắc và trực tiếp hơn thông qua hai công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là Công ước số 97 (1949) và Công ước số 143 (1975) về lao động di cư. Hai công ước này khẳng định người lao động di cư được đối xử bình đẳng với người lao động bản địa, được hưởng các điều kiện lao động; các chế độ về an sinh xã hội, về giáo dục. Tuy nhiên, phạm vi của hai công ước chỉ áp dụng đối với bản thân người lao động di cư hợp pháp. Trong khi đó, như chúng ta đã biết, toàn cầu hóa làm cho biên giới của các quốc gia trở nên rộng hơn nhưng không phải người lao động di cư nào cũng đi qua biên giới ấy một cách hợp pháp. Ngoài ra, mục đích chung của phần lớn người lao động di cư là vì lý do kinh tế, sự di cư của người lao động phần lớn liên quan đến kinh tế của bản thân và của gia đình. Cùng với những biến động của quá trình di cư, gia đình người lao động di cư cũng sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng, các thành viên trong gia đình họ cũng cần được bảo vệ. Công ước quốc tế về quyền của người lao động di cư và các thành viên trong gia đình năm 1990 (Công ước 1990) vì thế được ban hành như một tất yếu[1].

Continue reading

TĂNG CƯỜNG KHUNG PHÁP LÝ CHO CHUNG CƯ: HY VỌNG GIẢM BỚT TRANH CHẤP

THANH PHƯƠNG

Để giải quyết thấu đáo những vụ tranh chấp trong chung cư, cần có một khung pháp lý hoàn chỉnh và một dịch vụ quản lý chuyên nghiệp.

Luật pháp theo sau

Mô hình chung cư kiểu mới được một số chủ đầu tư giới thiệu từ những năm 2000. Chung cư vốn dĩ là một kiểu tổ chức cuộc sống tiềm ẩn nhiều khả năng tranh chấp. Tuy nhiên, mãi đến cuối năm 2005 chúng ta mới có Luật Nhà ở, và cho đến tháng 5-2008 Bộ Xây dựng mới ban hành Quy chế 08 quản lý sử dụng nhà chung cư.

Văn bản pháp quy liên quan mới nhất là Thông tư 01 cũng chỉ mới ra đời hồi cuối tháng 2 vừa qua, hướng dẫn mẫu hợp đồng mua bán căn hộ trong nhà chung cư.

Do vậy, đã diễn ra nhiều vụ tranh chấp thuộc những dự án đã bán nhà trong giai đoạn trước khi Luật Nhà ở có hiệu lực. Khi ấy, nội dung hợp đồng mua bán còn sơ sài bởi bên mua và bên bán đều chỉ quan tâm đến những vấn đề có tính kỹ thuật như giá cả, tiến độ thanh toán, thời hạn giao nhà, mà không cảm thấy cần thiết phải làm rõ những vấn đề thuộc khía cạnh xã hội như ứng xử hay việc quản lý, vận hành một “cuộc sống chung”.

Lẽ ra tất cả những nội dung thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng các tài sản chung, cách tính chi phí vận hành, bảo trì thiết bị tiện ích chung, chi phí trang trải các dịch vụ chung đều phải được soạn thảo thành văn bản và là một phần không thể tách rời khỏi hợp đồng mua bán căn hộ. Trong đó, những phần diện tích nào chủ đầu tư giữ lại làm tài sản riêng hoặc để tổ chức kinh doanh các dịch vụ gia tăng giá trị cuộc sống phải được công bố một cách minh bạch, và vốn đầu tư vào các phần diện tích đó không được phân bổ vào giá bán các căn hộ.

Theo ông Phạm Lãng, Giám đốc quản lý bất động sản Công ty Dịch vụ Bất động sản Bạch Kim Cương (Platinum 1), nay đã có thêm những quy định mới liên quan đến hợp đồng mua bán căn hộ trong chung cư. Theo đó, có thể hình dung những dự án mới khi muốn bán nhà đều phải minh bạch mọi thông tin chi tiết ngay từ đầu với người mua để người mua có đủ cơ sở quyết định mua hay không mua căn hộ.

Ông Lãng cho rằng khung pháp lý mới sẽ giúp giảm khả năng tranh chấp rất nhiều. Vấn đề nan giải hơn lại nằm ở những dự án trước đây chưa phân định được sở hữu chung hay sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Tại một diễn đàn góp ý cho vấn đề này, ông Trương Thái Dũng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty An Điền, cho rằng các bên liên đới cần phải thương thảo để thống nhất ngay vấn đề này. Nếu cần thiết, các cơ quan chức năng hoặc kiểm toán phải vào cuộc kiểm tra. Sau đó, những hạng mục nào đã được dùng kết toán giá bán căn hộ phải được coi là sở hữu chung của cư dân.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: VỤ CÔNG TY CAFE 15 KIÊN ĐÒI ĐẤT Ở ĐẮC LẮC, ĐÂU LÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ?

PHÚC ÂN – PHẠM HOÀNG

Nông trường 352, nay là Công ty cà phê 15 (Cty 15) đã qua 20 năm giải thể, trả lại đất cho chính quyền địa phương, chuyển qua địa bàn khác và UBND huyện đã cấp sổ đỏ cho dân từ năm 1993. Thế nhưng, kỳ lạ là nay công ty này đột nhiên quay về "chốn cũ" đòi trả lại đất cho họ! Việc làm bất bình thường này không chỉ gây bức xúc cho các hộ dân liên quan mà còn gây nên làn sóng bất bình tại địa phương. Thực hư vụ việc ra sao?

Từ việc giải thể, trả đất

Trên khu đất diện tích khoảng hơn 12 ha mượn của địa phương, tọa lạc tại xã Pơng Đrang nay là xã Ea Đê, thị trấn Buôn Hồ, huyện Krông Buk, từ năm 1987- 1989, Nông trường (NT) 352 tiến hành trồng cà phê. Do luôn đối mặt với muôn khó khăn như không quản lý được vườn thửa; đất ở vị trí cao không đủ nước tưới; cây cà phê phát triển xấu, sản lượng thấp, thua lỗ nặng nên năm 1991, NT 352 giải thể, bán thanh lý vườn cà phê, thu hồi vốn, trả đất lại cho UBND huyện Krông Buk, trong đó có 06 ha cà phê NT 352 đã bán đứt, thu tiền ngay của một số hộ dân, giá bình quân 5 triệu/ha. Đây là những thửa gần nguồn nước tưới, cây cà phê phát triển tốt. Diện tích cà phê còn lại cũng đã lên phương án bán cho huyện với giá 21.300.000 đồng nhưng huyện từ chối mua. Sau đó, ông Trần Hữu Thung đứng ra làm đơn xin hợp đồng với NT 352 viết: "Sau khi hết thời gian hợp đồng nghĩa là đơn vị thu hết vốn đầu tư tôi tiếp tục được sử dụng số diện tích tài sản nói trong hợp đồng tôi chỉ phải nộp thuế nông nghiệp…", và đã được Ban giám đốc NT 352 đồng ý, cho làm hợp đồng chấp nhận giao 5,67ha. Tiếp đó, ông Thung sang lại cho 04 hộ dân nghèo là Trần Kim Toàn, Lưu Quang Toản, Nguyễn Khắc Thắng, Nguyễn Văn Ánh diện tích đất cà phê này để trồng chăm sóc, trồng mới hầu như 100% và trả bằng sản phẩm trong vòng 08 năm từ năm 1991. Sau khi NT 352 sang đất cho các hộ và trả đất, căn cứ vào đề nghị của UBND xã và bản đồ quy hoạch sử dụng đất dân cư, năm 1993 UBND huyện Krông Buk đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho các hộ dân nói trên. Việc làm đó hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Đến việc đâm đơn đòi đất!

Sự việc đến đó tưởng không còn gì để nói. Nhưng vừa qua Cty 15 lại đâm đơn đòi lại đất!. UBND huyện Krông Buk đã có văn bản yêu cầu Cty 15 cung cấp toàn bộ hồ sơ cấp đất của các cấp có thẩm quyền cho đơn vị và các hồ sơ bán thanh lý vườn cà phê. Nhưng Cty này không có mà liên tục kiện cáo, phát văn bản yêu cầu xã, huyện thu hồi "sổ đỏ" đã cấp cho dân!.

Qua các tài liệu chứng cứ thu thập được cho thấy: Năm 1991 ông Thung là người trực tiếp đứng ra giúp NT 352 thu hồi vốn và đến thời điểm năm 1998, các hộ này đã trả cho NT 352 tổng số tiền là 66.600.000 đồng, thay vì phải trả 21.300.000 đồng. Chênh lệch con số này cho thấy 04 hộ dân nghèo đã phải trải qua phương thức mua bán trả chậm với lãi suất cao. Căn cứ vào Tờ trình 01/TT ngày 20.4.1991 : "Về việc giải thể Khu vực Đoàn bộ cũ 352 trả đất cho huyện và nhượng bán vườn cây – tài sản thu hồi vốn" của NT 352 kèm theo "Bảng báo cáo giá nhượng bán" thì đến thời điểm từ năm 1998, NT 352 đã thu hồi vốn vượt qua con số dự toán hàng chục triệu đồng và không còn liên quan gì với vườn cây cà phê, nên việc các hộ dân vào năm 1993 được UBND huyện Krông Buk cấp GCNQSDĐ là điều dễ hiểu. Diện tích đất này đã được ông Thung nhượng lại năm 1991, 04 hộ đã thanh toán đủ tiền. Căn cứ vào Luật Đất đai 2003, Nghị định 181/2004/NĐCP ngày 29.10.2004 của Chính phủ thì các thửa đất trên do 4 hộ Toàn, Toản, Thắng, Ánh canh tác liên tục, sử dụng ổn định trước năm 1993, không có tranh chấp và được cấp GCNQSDĐ trước ngày 15.10.1993 là người đang sử dụng đất đúng pháp luật. Hơn nữa, vào thời điểm UBND huyện làm thủ tục cấp GCNQSDĐ không hề có bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khiếu nại.

Continue reading

TÔI LÀ MỘT NGƯỜI CHA TỘI LỖI

dad w son N.X.L. Bắc Ninh

Tôi có một nỗi khổ trong lòng, chôn giấu suốt bao nhiêu năm nay. Càng cố quên thì càng nhớ, càng cố chôn giấu lại càng không thể xóa bỏ được. Năm nay cũng đã ngoài 70 tuổi rồi, thời gian hữu hạn, tôi nghĩ chỉ có việc nói ra nỗi khổ của lòng mình với thiên hạ, với trời đất, may ra tôi mới thanh thản, để mai này nhắm mắt xuôi tay linh hồn tôi mới siêu thoát được trong cõi vĩnh hằng.

Tôi nguyên là một bác sỹ nghỉ hưu. Vợ tôi cũng trong ngành Y, bà ấy từng là y tá giỏi của trạm y tế nơi tôi làm Trạm trưởng. Cả hai cùng làm nghề y nên việc cứu người coi như là nhiệm vụ và bổn phận. Không kể bất kỳ đêm hôm, mưa gió, ai đau ốm, ai sinh nở, ai không kịp đến trạm y tế xã, hễ cứ có người gọi là vợ chồng tôi lại bươn bả tới tận nhà khám và cho thuốc để chữa trị kịp thời. Dân làng kính trọng vợ chồng tôi như một người có ân đức lớn.

Gia đình chúng tôi sống hạnh phúc và êm ấm trong vòng tay yêu thương của dân làng. Ngày mùa, có củ khoai ngon, cân nếp dẻo mọi người đều mang đến cho vợ chồng tôi coi như món quà trả ơn nghĩa những lúc vợ chồng tôi giúp họ trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi sinh được hai đứa con, một trai một gái. Hai đứa con tôi nổi tiếng trong làng bởi chăm ngoan học giỏi. Nhất là cậu con trai đầu lòng càng lớn càng khôi ngô tuấn tú. Cháu mang dáng dấp cao lớn của bố và gương mặt thuần hậu đẹp đẽ của mẹ.

Nhiều lúc nhìn hai đứa con, vợ chồng chúng tôi lấy làm mãn nguyện và cảm ơn số phận đã mang hạnh phúc đến tròn đầy cho gia đình tôi. Con trai tôi từ nhỏ cháu đã tâm nguyện lớn lên theo nghề bố mẹ để cứu người. Tốt nghiệp lớp 12, cháu thi đỗ vào Đại học Y Hà Nội. Con gái tôi lại mơ làm cô giáo dạy văn, nên cháu vào Đại học Sư phạm Hà Nội. Hai đứa vào đại học lần lượt cách nhau 3 năm.

Cùng một lúc nuôi hai đứa con đi học đại học những năm tháng đất nước vừa qua bao cấp, kinh tế rất khó khăn, lương công chức của hai vợ chồng rất thấp, nên cuộc sống của chúng tôi vô cùng vất vả. Vợ chồng tôi phải xin ruộng để làm thêm, trồng lúa, trồng khoai sắn, chăn nuôi lợn gà để cải thiện cuộc sống và dành cả 2 suất lương cho con đi học. Mấy năm đầu, con trai tôi chi tiêu rất tiết kiệm, nhưng đến năm thứ 3, thứ 4, đặc biệt là hai năm cuối của đại học, cháu chi tiêu rất nhiều, tháng nào vợ chồng tôi cũng phải bán lợn để gửi cho con. Việc học của con trai rất tốn kém, cháu xin tiền liên miên, bao nhiêu tiền gửi cho cháu chỉ được dăm bữa nửa tháng là hết sạch.

Thương con, cứ nghĩ là con học năm cuối, phải đi thực tập, vất vả nhiều, chi phí nhiều nên hai vợ chồng cứ cặm cụi làm và dồn hết cho con. Chính sự chủ quan quá tin vào con mình nên vô tình vợ chồng chúng tôi đã để cháu tuột khỏi sự quản lý của gia đình mà rơi vào vòng xoáy cuộc đời. Bất hạnh cũng giáng xuống đầu vợ chồng tôi kể từ đó.

Sau 6 năm học, con tôi tốt nghiệp ra trường. Khi vào trường cháu là một thanh niên tuấn tú khỏe mạnh và rất đẹp trai, ngày ra trường cháu ốm yếu xanh xao và gầy gò. Cứ nghĩ do việc học y khoa vất vả, hai vợ chồng rất thương, cứ ra sức bồi bổ cho con khỏe, để chuẩn bị xin cho con đi làm. Chúng tôi đâu hề hay biết rằng con tôi đã bị nghiện ma túy nặng. Phải rất lâu sau đó, chúng tôi mới biết được sự thật kinh hoàng này. Đó là thời điểm tôi dẫn cháu đi xin việc, giục con ra Hà Nội lấy bằng tốt nghiệp để về nộp lên tổ chức thì thấy cháu cứ khất lần chối quanh. Khi tôi buộc cháu đi thì cứ mỗi lần đi là cháu lại xin rất nhiều tiền, đi được dăm bữa về tiền tiêu hết sạch mà bằng tốt nghiệp chẳng thấy đâu. Cháu lấy lý do lúc thì cô văn thư đi vắng, lúc thì thầy hiệu trưởng không có nhà, đủ mọi lý do khác nhau để không thể lấy được bằng tốt nghiệp.

Sinh nghi ngờ vì thấy tâm tính con thay đổi, tôi quyết định bảo với vợ để tôi ra trường của con hỏi tình hình cụ thể xem sao. Không ngờ, ra đến nơi tôi mới hay con tôi đã vi phạm kỷ luật, bị đuổi học trước đó 2 năm trời mà vợ chồng tôi không hề hay biết. Linh cảm của người cha biết con mình đã trượt ngã, nhưng trượt ngã bởi lý do gì thì tôi đang phân vân. Trên đường về nhà tôi đã nghĩ đến hàng ngàn vạn lý do để có thể con tôi rơi vào trường hợp đó. Nào là con tôi bị kẻ xấu lôi kéo, hoặc có thể con tôi bị rơi vào một hoàn cảnh bất đắc dĩ nào đó mà phải đền tiền cho người ta, hoặc con tôi đánh bài, cắm quán, chểnh mảng học hành… Trớ trêu thay ma túy là thứ mà tôi không bao giờ đặt ra giả thiết với con trai tôi cho dù thời điểm này, ở Hà Nội, ma túy đã trở thành một tệ nạn trong giới trẻ. Đơn giản vì con tôi có học hành tử tế, có nhận thức, được nuôi dạy trong một môi trường tốt, tôi tin con tôi không thể sa ngã như thế được.

Về đến nhà, tôi đã gọi con tôi ra ngoài nói chuyện riêng, tôi đã tát con trai tôi 3 cái tát như trời giáng. Bao nhiêu giận dữ, tôi trút vào mấy cái tát nảy lửa đấy và tôi khóc. Đây là lần đầu tiên tôi đánh con trai tôi, và cũng là lần đầu tiên tôi khóc vì con. Tôi hỏi con trai tôi vì sao con là đứa con trai học giỏi ngoan ngoãn là niềm tự hào của bố mẹ mà lại bị đuổi học? Con trai tôi gục đầu xuống, im lặng và không nói một lời nào cả. Mặc cho tôi quát tháo, giận dữ. Cho đến khi nhìn thấy những giọt nước mắt của bố nhỏ xuống, con trai tôi mới run rẩy cho tôi biết cái sự thật kinh hoàng kia. Con tôi đã dính nghiện ma túy. Đó là một ngày mà thế giới như đã sụp đổ quanh tôi, một ngày buồn đau nhất trong đời.

Tiếp theo đó là những ngày vợ chồng tôi cạn nước mắt theo con trai. Chúng tôi gần như tập trung sức lực để cai nghiện cho con. Những ai đã từng có con nghiện trong nhà mới thấu hiểu nỗi cơ cực, đau đớn ê chề. Cai nghiện hôm trước, hôm sau đã có bạn nghiện mang thuốc đến chích cho tại nhà. Cắt được cơn vật vã đói thuốc, hôm sau bạn xấu đã đến. Không biết bao nhiêu lần cai nghiện cho con, lên bờ xuống ruộng vì con nhưng ma túy đã chiếm đoạt và giết chết con tôi rồi. Tôi gần như sạt nghiệp trắng tay vì con. Cuối cùng, cực chẳng đã, tôi phải gửi cháu đi cai nghiện ở trại hơn một năm trời. Sau khi cai nghiện xong, con trai tôi đi ôn thi lại để quyết tâm thi vào đại học.

Có cha mẹ nào không muốn tin tưởng ở con và mong con mình phục thiện. Có ngờ đâu, bao nhiêu tiền mang đi ôn thi, con tôi ra Hà Nội và đốt hết cùng dân nghiện. Tiếp đó là những ngày tháng cháu bỏ đi lang thang không về nhà. Vợ chồng tôi tìm cháu hết ngày này qua tháng khác. Thi thoảng cháu trở về nhà chủ yếu là để trộm đồ trong nhà mang đi bán. Đến khi nhà không còn gì để trộm được nữa thì cháu đi lừa đảo bạn bè, bà con lối xóm để mượn xe đạp, xe máy đi cắm. Hơn mười năm trời cả gia đình tôi điêu đứng vì con. Cô con gái vì mang tiếng nhà có người nghiện nên không ai dạm hỏi, cuối cùng phải ưng thuận đi lấy chồng xa.

Nhưng đỉnh điểm của bi kịch là cái ngày vợ tôi ốm nặng nằm ở nhà, con trai tôi mò về nhà để năn nỉ xin tiền mẹ. Mẹ không còn tiền để cho, cháu đã cầm con dao ra và dọa đâm mẹ chết nếu mẹ không đưa tiền. Vợ tôi đã tăng xông mà bị tai biến mạch máu não. Nếu lúc đó, tôi không về kịp thì không thể cấp cứu được cho vợ tôi.

Sau lần đó tôi đã xích cháu lại ở cột nhà và quyết tâm tự mình cai nghiện cho con. Than ôi, tôi không thể làm một người cha tốt khi tôi không cứu vớt được đời con tôi. Nhìn thân hình con tiều tụy, lở loét, ma túy đã ăn ruỗng mòn vào máu, vào cơ thể. Mỗi lần lên cơn, con trai tôi như một con chó dại cắn xé và mất hết nhân tính, bài tiết ngay tại chỗ, không kiểm soát được tình hình khiến cho cả nhà rất khổ tâm và mệt mỏi.

Con nghiện nặng, vợ ốm nằm liệt một chỗ, đó là những tháng ngày cùng quẫn của gia đình tôi và bản thân tôi. Tất cả tối tăm và mờ mịt. Nhà nghèo xác xơ, con trai tôi cắm nợ chồng chất. Khi bị xích lại ở cột nhà, cháu gầy như que củi, không ăn uống được gì, chỉ vật vã đòi thuốc, kêu khóc van lạy bố. Thương con không cầm lòng nổi, sợ con vã thuốc mà chết mất, đã có những lần tôi bất lực mà tìm mua ma túy về và trực tiếp chích cho con. Chích xong cho con trai, tôi lại ôm mặt khóc rưng rức. Những lúc ấy, tỉnh táo hơn vì có thuốc, con trai tôi đã van lạy tôi rằng đời cháu đã bị ma túy hủy hoại rồi, rằng cháu không thể làm lại được cuộc đời của mình nữa, cháu cũng không muốn sống khổ sở như thế này, cháu muốn tôi giúp cháu kết thúc cuộc sống càng nhanh càng tốt.

Các anh chị ơi! Trong một phút bất lực của chính mình, tôi đã nghe theo lời khẩn cầu của con trai tôi, tôi đã đồng ý để cho cháu được tìm đến cái chết. Và chính tôi, người đã rứt ruột đẻ cháu ra, nhưng lại tự tay kết thúc cuộc sống của con trai mình như kết thúc một món nợ đời đau xót nhất.

Sau bao nhiêu ngày tháng kiệt quệ, chiến đấu cùng với ma túy để giành giật lại đứa con trai độc nhất, tôi biết tôi đã hoàn toàn thua cuộc. Sau khi khẩn cầu bố, con trai tôi đã đưa cho tôi một tờ giấy ghi kết quả xét nghiệm dương tính HIV và van vỉ tôi cho cháu được kết thúc cuộc sống càng nhanh càng tốt. Khoảnh khắc ấy, tôi đã khóc như mưa gió. Ôi, giọt nước mắt của người cha nhỏ trong đêm sâu, trước mặt đứa con trai tiều tụy vì ma túy thật bi thảm não nùng.

Con trai tôi nói rằng, đây là kết quả xét nghiệm của cháu hồi còn ở trường đại học. Một người bạn nghiện của cháu đã bị chết vì HIV/ AIDS nên cháu đã lo sợ mà đi xét nghiệm máu vì có những lần lên cơn nghiền, không đủ tiền mua ma túy và kim tiêm riêng để chích, cháu và bạn đã chích chung. Đêm ấy, sau khi tìm mua ma túy về chích cho con trai để cháu qua cơn vật vã, đợi lúc cháu thiu thiu ngủ, tôi đã tiêm cho cháu một mũi thuốc độc để con trai tôi mãi mãi không bao giờ còn có thể tỉnh lại được nữa. Để cháu vĩnh viễn ra đi trong sự êm dịu mà không đau đớn về thể xác hay tinh thần.

Có ai có thể thấu hiểu được nỗi đau của người cha khi buộc phải tự tay kết thúc cuộc sống của con mình. Vợ và con gái tôi không hay biết chuyện, chỉ biết rằng, cháu chích quá liều sốc thuốc mà chết. Từ bấy đến nay, con trai tôi đã yên nghỉ được hơn mười năm rồi. Vợ chồng tôi đã xây phần mộ cho cháu đàng hoàng, ngày nào vợ chồng tôi cũng hương khói trên bàn thờ để chuộc lỗi với cháu. Mọi chuyện đã lùi sâu vào ký ức, con gái tôi giờ đã đề huề chồng con, tôi đã có hai cháu ngoại và cuộc sống gia đình đã yên bình hạnh phúc hơn xưa. Thế nhưng tôi luôn ám ảnh bởi việc tôi đã tự tay kết thúc cuộc sống của con trai mình. Nỗi đau ấy, nỗi ám ảnh ấy biết đến bao giờ mới nguôi ngoai được.

Cho đến lúc này, quỹ thời gian của tôi phía trước không còn nhiều nữa. Nhiều lúc tôi tự hỏi có phải tôi đã nhúng tay vào một tội ác kinh khủng không, có phải hành động của tôi là phạm pháp không? Và tòa án lương tâm của tôi sẽ không bao giờ phán xử cho tôi, một người cha tội lỗi đã không thể có phương cách gì để cứu được đứa con trai độc nhất của mình. Suốt bao nhiêu ngày tháng năm dài, tôi đã khóc thương cho linh hồn tội nghiệp của con trai.

SOURCE: AN NINH THẾ GIỚI CUỐI THÁNG

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-VN/chuyenkhotin/2009/5/52906.cand

HÌNH TRONG BÀI CHỈ MANG TÍNH CHẤT MINH HỌA