VẤN ĐỀ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS, TS. PHẠM VĂN DŨNGTrường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một hình thức của kinh tế thị trường. Do đó, trong nền kinh tế cũng sẽ bao hàm nhiều hình thức sở hữu như các nền kinh tế thị trường khác. Tuy nhiên, cơ cấu các hình thức sở hữu ở nước ta và vị trí của mỗi hình thức sở hữu trong cơ cấu đó sẽ có những khác biệt với các nước khác

1. Sở hữu trong nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nền sản xuất xã hội mới thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp, mới có sản phẩm dư thừa để trao đổi. Một trong những điều kiện để xuất hiện trao đổi là tính chất tư nhân của sản xuất, tức là những người sản xuất độc lập với nhau, sản xuất cái gì, sản xuất thế nào, cho ai là việc riêng của từng “người sản xuất”. “Người sản xuất” cần được hiểu theo nghĩa rộng. “Người sản xuất” có thể là cá nhân, hợp tác xã, công ty tư nhân, doanh nghiệp nhà nước… Điều quan trọng nhất chính là những “người” này độc lập với nhau.

Cuối chế độ công xã nguyên thủy, khi sản phẩm thặng dư xuất hiện, bắt đầu có quan hệ trao đổi giữa các công xã với nhau. Như vậy, trong lịch sử, người sản xuất và trao đổi đầu tiên xuất hiện lại là các công xã nguyên thủy. Những “người” này dựa trên sở hữu công xã (thuộc sở hữu công cộng) về tư liệu sản xuất. Khi lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển, sản phẩm thặng dư nhiều hơn, những cá nhân có quyền lực trong công xã bắt đầu chiếm hữu những sản phẩm dư thừa đó làm của riêng. Chế độ tư hữu dần xuất hiện. Tuy nhiên, chế độ tư hữu trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến không hề làm cho sản xuất hàng hóa phát triển. Điều đó cho thấy, không phải cứ có chế độ tư hữu là quan hệ trao đổi hay kinh tế hàng hóa có thể phát triển.

Đến CNTB, lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội có sự phát triển nhanh chóng. Hai điều kiện cho sự hình thành, phát triển của sản xuất hàng hóa được thiết lập nhanh chóng và đầy đủ đã làm cho sản xuất hàng hóa phát triển đặc biệt nhanh chóng, nền kinh tế thị trường TBCN xuất hiện: Đây được coi là nền kinh tế thị trường phát triển cao, tiêu biểu, chín muồi.

Cũng cần nhớ rằng, trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, sở hữu tư nhân giữ vai trò thống trị tuyệt đối và là động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất TBCN. Nhưng đến khi tích tụ và tập trung sản xuất đạt đến trình độ cao, chỉ có sở hữu tư nhân cũng không đáp ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó thể hiện ở hai cuộc đại khủng hoảng của CNTB xảy ra vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Một biến đổi quan trọng của sở hữu xuất hiện: một bộ phận sở hữu tư bản tư nhân chuyển thành sở hữu tư bản tập thể. Các tổ chức độc quyền hình thành và phát triển với trình độ ngày càng cao. Khi lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển, sở hữu cá thể, tiểu chủ hữu tư bản tư nhân và sở hữu tư bản tập thể cũng là không đủ. Từ nửa cuối thập niên ba mươi của thế kỷ XX, sở hữu nhà nước ở các nước TBCN phát triển hết sức nhanh chóng và trở thành công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế thị trường.

Continue reading

PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ CÁC HÌNH THỨC, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN Ở HÀ NỘI

PGS.TS. NGUYỄN CHÍ MỲ

Trong khoa học, phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định các công trình khoa học, dự án, đề án, đề tài trong các lĩnh vực khác nhau. Phản biện xã hội có điểm chung đó, nhưng có phạm vi, đối tượng, nội dung quy mô, lực lượng tham gia rộng lớn hơn nhiều.

1. Đảng và Nhà nước ta hoạt động không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Trên đất nước Việt Nam, Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền. Đảng luôn luôn coi trọng nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đòi hỏi Đảng phải cầm quyền khoa học, dân chủ, theo luật và vì dân.
Trong điều kiện một Đảng cầm quyền ở nước ta, bên cạnh những thuận lợi cơ bản và tính ưu việt nổi trội, tuy nhiên nếu không thực hiện tốt bản chất của một Đảng cách mạng khoa học với mục đích vì dân cũng dễ xảy ra tình trạng duy ý chí, chủ quan thậm chí sa vào quan liêu. Do vậy, việc cần có một cơ chế cụ thể, rõ ràng, minh bạch để nhân dân bày tỏ thẳng thắn ý kiến, thực hiện giám sát và phản biện xã hội là thực sự cần thiết đối với các dự thảo, dự án, dự kiến những quyết định lớn của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị. Sự phản biện xã hội và giám sát xã hội sẽ giúp Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách có thực sự hợp quy luật và hợp lòng dân hay không. Giúp Đảng và hệ thống chính trị thực sự vì dân để dân tin Đảng, trung thành và đi theo Đảng. Thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của mình, nhân dân tham gia đóng góp ý kiến đối với các chủ trương, chính sách, giúp không ngừng hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; giúp sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ngày càng tốt hơn, từ đó phục vụ nhân dân ngày càng hiệu quả hơn. Nhân dân tham gia giám sát xã hội và phản biện xã hội với tư cách vừa là người chịu sự lãnh đạo, vừa là người làm chủ, vừa là người thực hiện và vừa là người được phục vụ và thụ hưởng.

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”(1).

Trong khoa học, phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định các công trình khoa học, dự án, đề án, đề tài trong các lĩnh vực khác nhau

Phản biện xã hội có điểm chung đó, nhưng có phạm vi, đối tượng, nội dung quy mô, lực lượng tham gia rộng lớn hơn nhiều.

Continue reading

NHỮNG BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

VŨ KHOAN – Nguyên BTTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ

Nước ta gia nhập WTO mới trên 2 năm. Đó là một thời đoạn quá ngắn, vả lại không giống như Trung Quốc gia nhập WTO khi kinh tế thế giới phục hồi, nước ta gia nhập WTO vào thời điểm kinh tế thế giới đầy xáo động rồi lâm vào cuộc suy thoái trầm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II nên khó bề đánh giá chuẩn xác. Bên cạnh đó còn phải kể đến nhiều nhân tố khác tác động tới kinh tế nước ta, kể cả sự yếu kém vốn có từ lâu của nền kinh tế và những cam kết quốc tế khác… nên càng khó bóc tách rạch ròi. Do vậy mọi sự đánh giá chỉ mang tính tương đối.

Để đánh giá có thể dựa trên 4 căn cứ khác nhau: (i) theo những cơ hội và thách thức chúng ta đã dự báo; (ii) theo những quan điểm chỉ đạo đã được đề ra; (iii) theo những cam kết ta đã nhận và (iv) theo những chủ trương, chính sách lớn được Đảng và Chính phủ nêu lên. Vì đây là cuộc hội thảo của các Văn phòng ở TW cho nên, có lẽ nên lấy căn cứ (iv) thì hợp lý hơn.

Thực hiện cơ bản Nghị quyết của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ

Sau khi nước ta gia nhập WTO, Hội nghị TW 4 khoá X họp tháng Giêng 2007 đã ra Nghị quyết “ về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO”, trong đó nêu ra 10 chủ trương, chính sách lớn. Tiếp đó, Chính phủ đã thông qua Chương trình hành động để thực hiện. Nay ta thử nhìn lại xem đã làm được gì, điều gì chưa làm được theo những chủ trương, chính sách ấy ở những nội dung liên quan trực tiếp tới việc gia nhập WTO.

1. Về chủ trương “Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân” nay đã đạt được sự đồng thuận rộng rãi về nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; đã có sự hiểu biết nhất định về “luật chơi” và ở chừng mực nào đó đã thích ứng với chúng.

Tuy nhiên, về mặt này cũng còn tồn tại một số vấn đề. Lúc đầu đã nẩy sinh tâm tư kỳ vọng quá lớn; không ít người cứ tưởng gia nhập WTO sẽ phồn vinh ngay; trái lại khi gặp khó khăn do giá cả thế giới tăng cao và nhất là khi nổ ra cuộc khủng hoảng toàn cầu lại nẩy sinh tâm tư cho rằng, mọi khó khăn đều do gia nhập WTO. Nói một cách khác chưa thật quán triệt nhận thức rằng, gia nhập WTO chỉ là một phương tiện, nội lực mới có ý nghĩa quyết định.

Bên cạnh đó nhiều người, kể cả những người liên quan trực tiếp chưa hiểu thật sâu những cam kết khi gia nhập WTO. Đặc biệt là chưa phát huy cao độ tinh thần chủ động sáng tạo để biến cơ hội thành hiện thực; nhiều chương trình hành động mang tính hình thức, chưa được quan tâm thực hiện; chưa biết tận dụng những công cụ WTO cho phép để bảo vệ lợi ích của mình như các tiêu chuẩn kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền…

2. Về chủ trương “khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế” đã nêu ra 4 nhiệm vụ cụ thể; trong đó đã và chưa đạt được những mặt sau:

(i) chưa bao giờ việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật lại được tiến hành với cường độ cao như vừa qua; về đại thể những điều bổ sung, hoàn thiện đều phù hợp với những cam kết khi gia nhập và được thực hiện nghiêm chỉnh, chưa một đối tác nào chê trách.

Mặt khác vẫn tồn tại những căn bệnh cố hữu là các văn bản dưới luật chậm được ban hành; nhiều quy định trùng chéo, mâu thuẫn nhau; sự hiểu biết pháp luật chưa sâu và việc thực thi pháp luật chưa tốt.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: MUỐN NHẬN TIỀN BẢO HIỂM PHẢI ĐEO BÁM, NĂN NỈ?!

GIA LINH

Để được sửa chữa chiếc xe đã mua bảo hiểm, khách hàng phải tự bỏ tiền túi ra để "tạm ứng" cho xưởng dịch vụ nhưng sau nửa năm vẫn chưa được phía bảo hiểm thanh toán vì lí do… thiếu giấy tờ.

Đeo bám, năn nỉ để đòi tiền bảo hiểm

Phản ánh với phóng viên VietNamNet, bà Trần Thị Thái – Phó Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thành Nam (gọi tắt là Công ty Thành Nam) bức xúc cho biết: "Cuối tháng 10/2008, chiếc xe Mercedes E280 mang BKS 30K – 0647 của công ty tôi bị ngập nước, dẫn tới hư hỏng nặng nên buộc phải đưa vào xưởng sửa chữa.

Ngay khi xe bị hỏng, công ty tôi đã liên hệ với Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) – Đơn vị bán bảo hiểm xe cơ giới cho chiếc xe Mercedes E280. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng, những cán bộ có trách nhiệm của PJICO tỏ ra rất thờ ơ trong việc lập hồ sơ, làm thủ tục giải quyết bảo hiểm cho chiếc xe của công ty chúng tôi.

Sau nhiều ngày "đeo bám", "năn nỉ" thì công ty chúng tôi mới liên lạc được với cán bộ bảo hiểm của PJICO và được hướng dẫn đưa xe về Xưởng dịch vụ Mercedes An Du để chờ thủ tục giám định, sửa chữa xe. Trong quá trình chờ đợi giám định, sửa chữa xe, chúng tôi lại thêm một lần thất vọng khi một cán bộ bảo hiểm của PJICO đã tới Công ty Thành Nam để… đàm phán việc chia sẻ chi phí sửa chữa. Cụ thể là vị cán bộ này yêu cầu công ty chúng tôi phải chia sẻ, chịu trách nhiệm cho việc khấu hao tất cả các bộ phận thay thế cùng các chi phí thay thế, sửa chữa khác trong quá trình sửa chữa xe Mercedes 30K – 0647 cho dù chiếc xe đã được mua bảo hiểm đầy đủ.

Nhận thấy yêu cầu này là quá vô lý nên công ty chúng tôi đã từ chối và yêu cầu vị cán bộ bảo hiểm này thông báo bằng văn bản nhưng sau đó chẳng hề thấy bất cứ văn bản nào gửi lại cho công ty chúng tôi. Ròng rã nhiều ngày sau đó, khi công ty chúng tôi liên tục gửi công văn, gọi điện thoại thúc giục thì đến tận ngày 10/12/2008 phía Bảo hiểm PJICO mới có công văn số 1667/2008/PJICO/XCG về việc "Chấp nhận sửa chữa xe 30K – 0647" có nội dung rất chung chung.

Continue reading

NÊN ÁP DỤNG ÁN LỆ KHI XÉT XỬ?!

VI TRẦN – GIA HI

Cần có án lệ để thẩm phán tham khảo nhằm đưa ra phán quyết chuẩn nhất.

Án lệ là gì?

Án lệ là đường lối áp dụng pháp luật của tòa án về một vấn đề pháp lý, đã trở thành tiền lệ mà các thẩm phán có thể theo đó xét xử trong các trường hợp tương tự.

+ Với những nước theo hệ luật Anh-Mỹ, án lệ có giá trị như luật là căn cứ để tòa giải quyết án. Với những nước theo hệ luật châu Âu lục địa, án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật. Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao.

+ Tại Việt Nam, trong chế độ cũ, Bộ Tư pháp xuất bản ấn phẩm về án lệ theo định kỳ ba tháng, đăng tải những trích dẫn về quan điểm hay định hướng xét xử trong các bản án của Tối cao pháp viện, Tòa thượng thẩm… Những bản án này là căn cứ pháp lý để xét xử những tranh chấp tương tự.

Trong chế độ ta, ngày 19-1-1955, để thống nhất việc xử phạt một số loại tội phạm, Thủ tướng đã ra thông tư nói rõ: “Kinh nghiệm xét xử về một số loại phạm pháp đã được trở thành án lệ. Tuy nhiên, án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường”… Tuy nhiên về sau, án lệ lại không được chính thức thừa nhận và áp dụng.

10 năm trước, bà Q. (Việt kiều Úc) đã “đầu tư chui” ở Bình Dương bằng cách mua bảy hecta cao su rồi nhờ cháu gái đứng tên giùm. Sau đó, người cháu bảo bà Q. đã cho mình khối tài sản trên nên hai bên tranh chấp. Năm 2007, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM xác định bảy hecta cao su là của bà Q. đầu tư trái phép và tuyên giao dịch vô hiệu. Tòa giao Thi hành án tỉnh Bình Dương phát mại khối tài sản, trả lại cho bà Q. gần một tỷ đồng tiền đầu tư ban đầu, số tiền dư ra thì sung công.

Hướng dẫn chính là án lệ?

Đây chỉ là một tranh chấp đơn giản nhưng nổi lên nhiều vấn đề mà pháp luật chưa dự liệu. Đầu tiên, số tiền dư sau khi phát mại tài sản thì sung công hay trả lại cho đương sự? Thứ nữa, theo luật, khi giao dịch vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được cho nhau bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu. Tuy nhiên, loại giao dịch, hoa lợi, lợi tức nào sẽ bị tịch thu thì luật còn bỏ ngỏ. Như vậy, giá trị tài sản phát sinh theo thời gian như giá trị bảy hecta cao su của bà Q. có thuộc tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức bị tịch thu không thì pháp luật chưa đề cập.

Continue reading

MỘT SỐ CÔNG CỤ MÀ CƠ QUAN QUYỀN LỰC CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ GIÁM SÁT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

TS. ĐẶNG VĂN DU

Giám sát Ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp ở mọi quốc gia. Nó cũng là hệ quả tất yếu của quá trình phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan công quyền kể từ khi xuất hiện NSNN. Bởi vậy, thẩm quyền và trách nhiệm giám sát NSNN của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp đều được xác lập rõ rang trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, trong bài viết này không đi sâu phân tích tính hợp lệ, hợp pháp của hoạt động giám sát; mà chủ yếu tập trung luận bàn về cơ sở lý luận của việc lựa chọn các công cụ phục vụ cho giám sát NSNN của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp.

Theo tôi, một số công cụ mà cơ quan quyền lực nhà nước có thể sử dụng để giám sát NSNN, bao gồm: pháp luật, mục lục NSNN, kế hoạch hóa, kiểm toán, thông tin, chuyên gia.

Công cụ pháp luật.

Đây là công cụ có sớm nhất và chung nhất để phục vụ cho quản lý nhà nước ở mọi quốc gia. Nó luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước. Theo xu hướng chung, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, năng lực quản của nhà nước cũng ngày càng được nâng cao đã làm cho hệ thống pháp luật- với tư cách là công cụ phục vụ cho quản lý Nhà nước, cũng ngày càng được đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn. Pháp luật đã luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong số các công cụ mà Nhà nước phải sử dụng để quản lý nền kinh tế; bởi: (i) nó điều chỉnh hành vi cho mọi tổ chức, cá nhân khi tham gia vào các hoạt động của xã hội; (ii) là thước đo chung mức độ chấp hành pháp luật của mọi chủ thể, không phân biệt cao- thấp, sang- hèn.

Chính vì vậy, từ xa xưa, khi nói đến pháp luật mọi người đều biết: “Pháp luật bất vị thân”. Còn ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến cáo mọi người rằng: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật” và “Mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật”.

Tầm quan trọng của công cụ pháp luật lớn lao như vậy, nhưng hệ thống pháp luật có rất nhiều sắc luật, làm sao các đại biểu của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp có thể an tường được tất cả? Đây thực sự là thách thức lớn cho các đại biểu của các cơ quan này. Vì thế, cần phải có sự chọn lựa các phần sắc luật chủ yếu cho mỗi hoạt động mà các cơ quan quyền lực cần phải thực hiện. Cụ thể là: Muốn thực hiện quyền giám sát NSNN, thì các đại biểu của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp trước hết buộc phải hiểu tường tận các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thu, chi NSNN (từ Luật NSNN, Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập DN…đến các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này); tiếp đến là các sắc luật điều chỉnh vào các hoạt động quản lý tài chính- tiền tệ ngoài phạm vi hoạt động của NSNN và các sắc luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế khác.

Continue reading

MỘT SỐ KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH KHI CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SANG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ – CÔNG TY CON

TAPCHIKETOAN – Mô hình công ty mẹ – công ty con còn đang trong giai đoạn thử nghiệm ở nước ta, đặc biệt là nó lại được xây dựng và thí điểm để chuyển đổi các tổng công ty nhà nước, nên chắc chắn có nhiều vấn đề cần phải quan tâm làm rõ – nhất là về quan hệ tài chính giữa các công ty trong mô hình.

Việc sắp xếp, tổ chức lại và đổi mới quản lý DNNN đang được Nhà nước ta quyết tâm thực hiện thông qua các hình thức như:  cổ phần hoá, chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, bán, khoán, cho thuê, giải thể,… Và trong đó có việc chuyển sang mô hình công ty mẹ – công ty con, một mô hình đang được coi là tối ưu để chuyển đổi hoạt động của các tổng công ty (bao gồm tổng công ty thành lập theo Quyết định 90/TTg và 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ) vốn đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Để thúc đẩy quá trình tổ chức, sắp xếp lại DNNN, Chính phủ đang tiếp tục khẩn trương nghiên cứu, đề xuất những sửa đổi, bổ sung cần thiết trong luật DNNN để sớm trình Quốc hội xem xét, thông qua. Bên cạnh đó, do mô hình công ty mẹ – công ty con có sự tham gia góp vốn của nhiều chủ sở hữu thuộc nhiều thành phần kinh tế, nên điều tất yếu là cần phải thống nhất các luật doanh nghiệp – trước hết là thống nhất Luật DNNN và Luật doanh nghiệp – để tạo dựng một nền tảng pháp lý vững chắc cho sự hoạt động của mô hình này.
Mô hình công ty mẹ – công ty con còn đang trong giai đoạn thử nghiệm ở nước ta, đặc biệt là nó lại được xây dựng và thí điểm để chuyển đổi các tổng công ty nhà nước, nên chắc chắn có nhiều vấn đề cần phải quan tâm làm rõ – nhất là về quan hệ tài chính giữa các công ty trong mô hình.

Ưu điểm của mô hình

Trên thế giới, mô hình này không mới mẻ gì, nó được các tập đoàn đa và xuyên quốc gia áp dụng vì có nhiều ưu điểm. Về hình thức, công ty mẹ có quyền quản lý các công ty con, nhưng về địa vị pháp lý thì đây là những pháp nhân độc lập, hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn bình đẳng với nhau trước pháp luật. Công ty mẹ,  thông qua tỷ lệ đầu tư vốn vào các công ty con, có thể chi phối hoạt động của các công ty con theo nhiều cấp độ. Mức độ đầu tư vốn của công ty mẹ vào các công ty con có thể là: đầu tư 100% vốn, đầu tư giữ cổ phần chi phối hoặc đầu tư không giữ cổ phần chi phối. Như vậy, công ty mẹ có thể điều chỉnh chiến lược kinh doanh, mục tiêu kinh doanh của mình thông qua việc điều chỉnh danh mục vốn đầu tư vào các công ty con: tăng, giảm tỉ lệ vốn, đầu tư vào công ty mới hay rút vốn ra khỏi công ty,… cũng như điều chỉnh chiến lược sản xuất kinh doanh của chính công ty mẹ. Công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty con trong phạm vi số vốn góp vào theo như luật định. Ưu điểm của mô hình này là:
– Địa vị pháp lý của công ty mẹ cũng như công ty con có tính độc lập tương đối. Đó đều là những pháp nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật như nhau.
– Các công ty con được đảm bảo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong quyết định phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong chiến lược phát triển chung của công ty.
– Cơ chế vốn góp rõ ràng, phân định được rõ trách nhiệm và quyền hạn của công ty mẹ căn cứ trên số vốn đầu tư vào các công ty con.
– Các công ty con hoạt động theo chiến lược phát triển chung của công ty mẹ (hay các công ty mẹ) và có mối quan hệ chặt chẽ với các công ty con khác trong công ty mẹ. Công ty con thực hiện các chế độ báo cáo tài chính định kỳ với công ty mẹ,…

Continue reading

TIN LUẬT HAY TIN … “CÒ”?

QUỐC DŨNG

Trong các Hợp đồng môi giới, bà Nguyễn Thị Kim Dung (xã Đại Hưng, Mỹ Đức, Hà Nội) cam kết sẽ đền bù gấp đôi số tiền đặt cọc nếu không “mua” được đất cho những người thuê bà. Nhưng khi đất không có, bà Dung hoàn toàn… vô sự, trong khi người thuê thì… mất tiền. Thực tế ấy đã đặt câu hỏi, người sử dụng dịch vụ phải tin vào luật, hay tin… “cò”, để tham gia thị trường bất động sản ?

Đúng lý: Vẫn mất tiền !

Để thực hiện thương vụ môi giới mua đất tại khu đô thị mới Nam An Khánh thuộc các xã An Khánh, An Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội, bà Dung đã thể hiện thỏa thuận thành văn bản cụ thể với những người có nhu cầu với “tên” rất kêu: “Hợp đồng thuê làm thủ tục Đăng ký và mua quyền sử dụng” – nghĩa là ngay từ tiêu đề đã thể hiện người muốn mua đất đã chủ động thuê môi giới. Các hợp đồng đều có người làm chứng, có các điều khoản ràng buộc, có thời gian thực hiện, mức tiền, mức bồi hoàn, điều khoản xử lý vi phạm… Tóm lại là rất đầy đủ nội dung đối với một thỏa thuận dân sự và chắc chắn về pháp lý.

Chính vì thế, chỉ với hai khách hàng trong giai đoạn tháng 12/2007 và tháng 1/2008, bà Dung đã thu được tới 3,9 tỷ VND…. Trên hợp đồng, bà Dung và người giao tiền công nhận đó là tiền đặt cọc để phục vụ nhu cầu mua được đất. Nhưng cầm tiền xong, bà Dung không thực hiện được cam kết “mua được đất với giá gốc… trong vòng 15 ngày từ khi ký Hợp đồng tại khu đô thị mới Nam An Khánh”. Thế nên, bà Dung viết các giấy hẹn ghi rõ ngày thanh toán, trả lại tiền đặt cọc cho khách. Kết quả là tới tận bây giờ, những nạn nhân của bà vẫn chưa lấy lại được một xu trong số tiền 3,9 tỷ trên.

Theo quy định của các Hợp đồng môi giới, khi có mâu thuẫn hoặc một bên vi phạm cam kết thì các bên phải tiến hành hòa giải, không hòa giải được thì tòa dân sự là nơi giải quyết tranh chấp. Như vậy, nếu làm đúng luật để buộc “cò” phải trả tiền cho mình, các nạn nhân sẽ phải khởi kiện ra Tòa án. Phải theo đuổi suốt thời gian dài kiện tụng. Theo đuổi mà không biết có đòi lại được tiền hay không. Vì chắc chắn tòa án tuyên họ thắng kiện, nhưng việc lấy lại tiền thì do cơ quan thi hành án quyết định, và phụ thuộc vào tình trạng gia sản của “cò”. Vậy là, dù rất đúng luật, nhưng nguy cơ mất trắng tiền môi giới rất rõ ràng với những người mua đất qua “cò”. Thế nên, nếu các cơ quan chức năng không vào cuộc làm rõ đây có phải một vụ lừa đảo hay không, thì dường như những người tin “cò” chẳng biết bấu víu vào đâu để mà bảo đảm quyền lợi cho mình.

Continue reading

THỰC HIỆN QUYỀN, NGHĨA VỤ GIÁM HỘ: MUỐN CHĂM SÓC CÔ, PHẢI XIN PHÉP PHƯỜNG?

NG.VẸN – CL

Người được giao quyền nuôi người cô già mù lòa lại thường xuyên bỏ mặc bà trong căn nhà khóa trái cửa. Chuyện tưởng như đùa này lại có thật 100%, xảy ra tại phường Lê Bình (quận Cái Răng, TP Cần Thơ). Để có thể đến chăm sóc cô ruột là bà Phan Thị Diệu Hương (76 tuổi, bị mù hai mắt) đang sống tại khu vực Yên Hòa thuộc phường Lê Bình, chị Phan Nguyễn Thanh Tuyền (ngụ cùng phường) đã phải nộp đơn xin phép… UBND phường!

Người cô già đơn thân

Đơn của chị Tuyền viết: “Tôi viết đơn này gửi đến quý cơ quan để xin phép cho tôi được đến thăm và chăm sóc cô tôi những lúc khó khăn và giúp đỡ lo thêm việc ăn uống cho cô tôi vì cô tôi mù lòa và tuổi già sức yếu”. Ông Nguyễn Văn Sang, Phó Chủ tịch UBND phường Lê Bình, đã có bút phê trong đơn như sau: “Chuyển lãnh đạo khu vực Yên Hòa xem xét theo đơn xin của Phan Nguyễn Thanh Tuyền, tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự được phép đến thăm và chăm sóc người thân”.

Có lẽ ít ai ngờ rằng người cô nêu trong đơn đang gần như bị giam lỏng trong căn nhà của chính mình với cửa bên ngoài bị khóa trái. Bà lần dò từng bước tìm hướng đi ra cửa mỗi khi ai đó gọi.

Bà Hương không có con, được người cháu tên là Phan Công Dũng đưa về khu vực Yên Hòa để chăm sóc từ khoảng tháng 7-2008. Anh Dũng là anh họ của chị Tuyền, cả hai đều gọi bà Hương bằng cô ruột. Mỗi ngày vợ anh Dũng mang cơm nước đến cho bà Hương. Tuy nhiên, theo lời một người hàng xóm thì vợ anh Dũng chỉ đem cơm vào khoảng 10 giờ sáng rồi thôi. Có nghĩa là cả ngày bà Hương chỉ có duy nhất bữa cơm! Có lần người hàng xóm này thử vào xem thì thấy phần cơm của bà Hương chỉ có cơm và miếng cá nục. Có lẽ vì không có đủ dinh dưỡng nên chỉ vài tháng sau thì bà Hương không đi nổi, phải chống hai tay lết dài đến cửa sổ mỗi khi có ai gọi. Sức khỏe bà dần suy kiệt, tay chân, mình mẩy đầy vết muỗi cắn.

Nóng lòng, chị Tuyền vội vàng đưa bà Hương nhập viện nhưng mới được vài ngày thì anh Dũng lại đưa bà về nhà, không cho ở trong bệnh viện nữa.

Chính quyền thiếu sâu sát

Bức xúc trước việc cô mình dường như bị ngược đãi, chị Tuyền đã nộp đơn đề nghị chính quyền cho chị được chăm sóc bà Hương. Sau khi chuyện vỡ lở thì phần ăn của bà Hương có thêm củ khoai, trái chuối luộc để dành cho bà ăn buổi tối. Tuy nhiên, bà Hương vẫn rất khổ sở trong các sinh hoạt hàng ngày. Có hôm bà không biết nhà vệ sinh ở đâu, phải kêu lên để nhờ hàng xóm chỉ giùm. Khi khát nước, đôi khi bà bò lại vòi nước uống đỡ. Bà phải ngủ không mùng mền, chỉ nằm trên một chiếc võng đặt gần nhà vệ sinh.

Chiều qua (28-4), khi chúng tôi tìm đến nhà bà Hương thì cái ổ khóa vẫn lạnh lùng khóa kín bên ngoài. Vẫn đang ở một mình trong nhà, bà Hương đã phải nhận lấy thức uống do chị Tuyền đưa qua cửa sổ duy nhất của căn nhà.

Continue reading

GIÁ TRỊ THỰC CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

VĂN NHƯ CƯƠNG

Khuyến khích các trường Đại học (ĐH) nghiên cứu khoa học là đúng…nhưng cần dành tỷ lệ thích đáng cho nghiên cứu những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đòi hỏi giải quyết. Và tránh tình trạng nghiên cứu để mà nghiên cứu, để có bài đăng báo, để đạt được chỉ tiêu đã đề ra vì hướng tới mục tiêu “bầu, bán…”

Nghiên cứu- “hoạt động” từ bà nội trợ đến người thầy

Thuật ngữ “nghiên cứu” được hiểu là một quá trình quan sát kỹ càng, thu thập thông tin chính xác, tìm hiểu có hệ thống và chi tiết, để có hiểu biết sâu sắc, đầy đủ hơn về một vấn đề nào đó, một sự kiện nào đó, một đối tượng nào đó.

Người đang làm công việc nghiên cứu gọi là “nghiên cứu viên”, thường họ làm trong một cơ quan nghiên cứu nào đó. Ở nước ta có rất nhiều cơ quan như vậy: Viện Toán học, Viện Vật lý, Viện Tin học, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng,Viện nghiên cứu Chiến lược Giáo dục…

Không phải mọi người đều có thể viết công trình nghiên cứu và được ấn hành, nhưng xem ra việc nghiên cứu là một hoạt động không thể thiếu được của mỗi người bình thường. Một học sinh cũng phải làm một “nghiên cứu nhỏ” mới có thể viết được bài văn “Tả con mèo nhà em” nếu không muốn chép trong sách.

Một bà nội trợ cũng cần phải nghiên cứu giá cả, quan sát bó rau, miếng thịt …sao cho chọn được mớ rau tươi, miếng thịt ngon và mua không bị hớ. Một cặp nam nữ đang “tìm hiểu” nhau có nghĩa là họ đang “nghiên cứu” đối tượng của mình với một mục tiêu rõ ràng: Có nên tiến hành hôn nhân hay không? Nghiên cứu này tuy rất quan trọng đối với họ, nhưng kết quả nghiên cứu chỉ có lợi cho một mình họ, không thể phổ biến nên không được in ấn, phong cấp này hay cấp nọ…

Đối với một số người thì nghiên cứu là một hoạt động thường xuyên trong suốt cuộc đời làm việc của họ: Nhà lãnh đạo mọi cấp bậc, người thẩm phán, nhà luật sư, người cán bộ cơ quan điều tra, người thầy thuốc…trong số đó đặc biệt có các thầy, cô giáo ở các trường ĐH. Chính vì lẽ đó vấn đề nghiên cứu khoa học luôn là một đề tài được bàn luận nhiều.

Nhiệm vụ của người thầy là truyền thụ kiến thức mới cho học trò. Vậy điều đầu tiên là thầy phải nghiên cứu, tìm hiểu để có hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về vấn đề mà mình định thuyết giảng cho học trò. Sau đó thầy phải tìm ra phương pháp tối ưu để làm cho học trò tiếp thu tốt. Như vậy một bài giảng hay là hệ quả của một thái độ nghiên cứu nghiêm túc và công phu.

Phổ biến và "dị biệt"

Đối với các giảng viên ĐH, việc nghiên cứu nhằm hai mục đích chính: 1) Nghiên cứu để có những bài giảng tốt, đào tạo và hướng dẫn sinh viên có chất lượng cao. Kết quả của những nghiên cứu này là các tài liệu giảng dạy, các bộ sách giáo khoa chuyên ngành rất cần thiết để sinh viên học tập và tham khảo.

Continue reading

NGHIÊN CỨU SO SÁNH NỘI DUNG CÔNG ƯỚC VỀ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ (CEDAW) VỚI NỘI DUNG LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

ĐẶNG TRUNG HÀ – Bộ Tư pháp

Bài viết nghiên cứu so sánh được thực hiện nhằm đánh giá tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam so với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập nói chung cũng như đối với Công ước CEDAW nói riêng. Trên cơ sở xem xét việc nội luật hoá các quy định của điều ước quốc tế có liên quan đến bình đẳng giới mà Việt Nam đã tham gia vào Luật Bình đẳng giới cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác, báo cáo nghiên cứu đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật.

1. Giới thiệu Công ước  CEDAW

Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ được Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18/12/1979 và có hiệu lực từ ngày 3/9/1982. Tính đến nay, Công ước này có 169 quốc gia tham gia. Công ước có 30 Điều chia thành 5 Phần: Các Phần I, II, III và IV quy định trách nhiệm của quốc gia tham gia Công ước đối với việc thực hiện các quyền của phụ nữ tại quốc gia mình.

Các nghĩa vụ mà các quốc gia thành viên Công ước phải thực hiện đối với quyền của phụ nữ gồm có: lên án sự phân biệt đối xử với phụ nữ dưới mọi hình thức và áp dụng mọi biện pháp thích hợp để loại trừ phân biệt đối xử với phụ nữ, kể cả biện pháp lập pháp trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá; bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ để họ có thể hưởng thụ các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới; loại bỏ các hình thức buôn bán phụ nữ và bóc lột phụ nữ làm nghề mại dâm.

Về chính trị, các quốc gia thành viên Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước, bảo đảm thực hiện các quyền sau đối với phụ nữ: tham gia bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân, ứng cử vào các cơ quan dân cử; xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ, các chức vụ Nhà nước; các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước; cơ hội đại diện cho chính phủ tại các diễn đàn quốc tế và các tổ chức quốc tế; và bình đẳng với nam giới trong vấn đề quốc tịch.

Trong lĩnh vực giáo dục, phụ nữ phải được hưởng quyền bình đẳng với nam giới về điều kiện nghề nghiệp, hướng nghiệp, học tập, bằng cấp, học bổng. Phụ nữ được hưởng cơ hội làm việc bình đẳng, tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền được thăng chức, tăng lương, an ninh việc làm và các phúc lợi, thù lao, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động. Các quốc gia thành viên Công ước phải ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do hôn nhân hay sinh đẻ, áp dụng chế độ nghỉ đẻ vẫn được hưởng lương và các phúc lợi xã hội tương đương mà không bị mất việc, thâm niên công tác.

Quốc gia tham gia Công ước này cũng phải có các biện pháp thích hợp bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trước pháp luật, trao cho phụ nữ tư cách pháp nhân như nam giới và tạo điều kiện để thực hiện tư cách này. Đặc biệt phải bảo đảm để phụ nữ được bình đẳng khi ký kết các hợp đồng và quản lý tài sản, tư cách pháp lý bình đẳng liên quan đến tự do đi lại và lựa chọn nơi cư trú, trong hôn nhân và quan hệ gia đình.

Điều 18 quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên nộp trình báo cáo quốc gia thực hiện Công ước cho Uỷ ban theo dõi thực hiện Công ước xem xét, trong đó phải nộp báo cáo đầu tiên 1 năm sau khi gia nhập Công ước và các báo cáo định kỳ 4 năm một lần.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN ĐẠI DIỆN: VỢ TRƯỚC, VỢ SAU TRANH QUYỀN NHẬN BỒI THƯỜNG

HỒNG CHÂU

Vợ có hôn thú yêu cầu tòa trả lại những quyền lợi hợp pháp của mình. Dù chồng bà làm như thế là cạn tình nhưng giữa hai người vẫn chưa chấm dứt hôn nhân nên chưa cạn lý. Bà D. ở Cần Thơ vừa có đơn kháng cáo một vụ án hình sự, yêu cầu cấp phúc thẩm bác bỏ tư cách đại diện người bị hại của bà Q. vì cho rằng bà này không phải là vợ chính thức của người bị hại… Chuyện bà kháng cáo đã làm nảy sinh nhiều tình tiết pháp lý thú vị.

Từ vụ án hình sự

Chập tối cuối tháng 9-2008, có một chiếc xe tải đến lấy trái cây tại khu vực mà bà Q. thu tiền phí bến bãi. Thấy xe dừng lấy hàng như thế, một người đàn ông đã lúp xúp chạy đến nói với lái xe là lần sau không được đậu xe tại khu vực này nữa. Nghe người đàn ông này “đe” lái xe như vậy, bà Q. nghĩ sẽ ảnh hưởng đến chuyện thu tiền bến bãi của mình nên đã lên tiếng tranh cãi với người đàn ông. Tuy nhiên, đang đôi co qua lại thì bỗng dưng người đàn ông này ngưng rồi phán: “Không thèm cãi nhau với đàn bà!”. Câu nói này vô tình lại lọt đến tai chồng bà Q. nên ông này lập tức lên tiếng: “Tao là đàn ông nè!”. Vừa nói ông chồng vừa bước lại gần người đàn ông rồi định xông vào hành hung. May mắn là mọi người gần đó thấy chuyện nên lập tức can ngăn.

Dù tránh được chuyện xô xát nhưng hai bên vẫn lại tiếp tục… đấu khẩu. Đến hồi cao trào thì chồng bà Q. cầm dao từ trong nhà chạy ra để đánh người đàn ông. Cũng không vừa, người này liền chạy vọt tới tiếp chiêu với chồng bà Q. Thấy người này hùng hùng hổ hổ, chồng bà Q. chột dạ, quay ngược vào nhà cầm thêm “vũ khí” là một khúc gậy. Giáp chiến, người đàn ông bị lãnh một nhát dao ở lưng nên bỏ chạy. Tuy nhiên liền đó, người này nhặt được miếng kiếng vỡ hơn nửa thước nên quay lại chém trúng chồng bà Q. khiến ông chết.

Cuối tháng 2-2009, Tòa án TP Cần Thơ phạt người đàn ông sáu năm tù về tội giết người, buộc bị cáo bồi thường cho bà Q. là đại diện cho người bị hại hơn 50 triệu đồng cùng tiền cấp dưỡng cho hai con của bà đến tuổi trưởng thành.

Rắc rối vợ trước, vợ sau

Vụ án tưởng sẽ khép lại thì đùng một cái nảy sinh ra chuyện bà D. có đơn chống án đòi tăng hình phạt với bị cáo và đứng ra nhận mình mới là vợ chính thức của người bị hại. Theo bà, tòa đã xác định chưa đúng, chưa thể hiện đúng quyền lợi của gia đình chính thức của người bị hại. Lý ra bà mới người đại diện hợp pháp của người chết chứ không phải bà Q. Trên cơ sở đó, bà cũng phải được bồi thường từ cái chết của chồng…

Để chứng minh mình là vợ chính thức, bà D. đã kể rằng năm 1983, bà và người bị hại chung sống với nhau và đã ra xã đăng ký kết hôn. Chung sống và có đến ba mặt con thì hai bên mâu thuẫn nên chồng bà bỏ đi chung sống với bà Q. rồi có con với người này. Dù chồng bà làm như thế là cạn tình nhưng giữa hai người vẫn chưa chấm dứt hôn nhân nên chưa cạn lý. Thế nên khi chồng bà chết, các cơ quan tố tụng không đưa bà vào tham gia vụ án với tư cách là vợ chính thức, là đại diện cho người bị hại mà lại đưa bà Q. ra để làm đại diện là không thể chấp nhận được.

Continue reading

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á, NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

TAPCHIKETOAN – Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, làn sóng cải cách hệ thống ngân hàng dâng lên mạnh mẽ vào những thập niên 80, 90 hình thành nên những tập đoàn tư bản ngân hàng vững mạnh.

Phát triển tín dụng ngân hàng ở các nước trên thế giới thực chất là phát triển hệ thống các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính nhằm động viên được hầu hết các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế vào ngân hàng; đồng thời tiến hành phân phối nguồn vốn tập trung được dưới hình thức cho vay hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát triển hệ thống ngân hàng, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. 

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, làn sóng cải cách hệ thống ngân hàng dâng lên mạnh mẽ vào những thập niên 80, 90 hình thành nên những tập đoàn tư bản ngân hàng vững mạnh, mở rộng mạng lưới chi nhánh khắp nơi trên thế giới, ngân hàng trở thành bà đỡ cho nền kinh tế công nghiệp hóa-hiện đại hóa toàn cầu, có khả năng tài trợ vốn khổng lồ cho các tập đoàn tư bản, các công ty đa quốc gia .

Dưới đây là kinh nghiệm tổ chức về hệ thống ngân hàng, tài chính ở một số nước châu Á điển hình :

1. Hệ thống ngân hàng Singapore 

° Điều kiện kinh tế xã hội:

Với lợi thế địa lý chiến lược đường biển quốc tế, Singapore nằm ở vị trí giao điểm giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nơi hội tụ của các nhà buôn với tên gọi “đô thị biển”, nhưng điều kiện tự nhiên có nhiều bất lợi như diện tích nhỏ chỉ khoảng 640 km2, dân số khoảng 3,1 triệu người, hầu như không có tài nguyên phong phú. Là một quốc gia trẻ đa sắc tộc được hình thành từ nền tảng người nhập cư từ Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, và châu Au, Singapore đã từng là thuộc địa của Anh với việc thi hành chính sách tự do thương mại dựa trên cơ bản nguyên tắc pháp luật hình thành nề nếp pháp luật trong kinh doanh. Được trao trả năm 1971, đến nay Singapore trở thành trung tâm buôn bán, dịch vụ mậu dịch, tạo nên thu nhập chính của đất nước này (chiếm 84% GDP) vào những năm 60, đồng thời ngày nay trở thành trung tâm tài chính ngân hàng và thị trường tài chính quốc tế phát triển rất mạnh mẽ. 

° Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa:

Thành tựu phát triển kinh tế của Singapore gắn liền với chính sách công nghiệp hóa được thực hiện vào thập niên 60, hướng đến xuất khẩu, thay thế nhập khẩu kích thích đầu tư nước ngoài tạo ra bước ngoặt phát triển công nghiệp.

Sự cải thiện nhanh kết cấu hạ tầng, ưu đãi thuế thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia phát triển ồ ạt đầu tư trực tiếp vào Singapore, tính đến cuối năm 80, tư bản nước ngoài đã đóng góp 65% giá trị công nghiệp, 85% giá trị xuất khẩu trực tiếp tạo việc làm cho 60% lực lượng lao động. Công nghiệp hoá của Singapore bắt đầu từ ngành công nghiệp chế biến – chế tạo, dịch vụ như thực phẩm, may mặc, thuốc lá, sơn, đồ gỗ … đây là những ngành mũi nhọn then chốt, tận dụng được những lợi thế vốn có của mình vì Singapore không có tài nguyên quặng mỏ phong phú nên không thể phát triển những ngành công nghiệp khai thác .

Bên cạnh đó, chiến lược công nghiệp hoá của Singapore bắt đầu từ xây dựng những công ty sử dụng nhiều lao động kết hợp với sử dụng tư bản và kỹ thuật đầu tư nước ngoài tạo lập nên nền công nghiệp hiện đại, đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài có khả năng cạnh tranh cao, sau đó chuyển dần sang những ngành công nghiệp hiện đại sử dụng chất xám cho những loại hình kỹ thuật hiện đại

Continue reading

LUẬN BÀN VỀ PHẠM TRÙ TÀI CHÍNH CÔNG

TAPCHIKETOAN – Khi bàn về phạm trù tài chính công, hiện nay có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Có ý kiến cho rằng tài chính công đồng nghĩa với tài chính nhà nước (1), nhưng có ý kiến khác lại cho rằng, tài chính công là một bộ phận tài chính nhà nước (2).

Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của tài chính có thể thấy, khi nhà nước (3) xuất hiện thì đồng thời cũng xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng nhằm duy trì quyền lực chính trị của nhà nước và những khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn lực đóng góp của xã hội như: thuế, công trái … Từ đây, phạm trù tài chính nhà nước đã bắt đầu xuất hiện – một khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước.

Trước thế kỷ thứ 19, trong các nền kinh tế tự cung – tự cấp, kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chức năng cơ bản của nhà nước là thực hiện các nhiệm vụ chính trị và quản lý hành chính. Cho nên, trong thời gian này tài chính nhà nước hoạt động cũng dựa trên những nền tảng kinh tế đó, và chủ yếu là phục vụ cho các hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp và quốc phòng của nhà nước. Đến giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế, nhà nước phải đảm nhận chức năng quản lý kinh tế song hành với hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng. Tài chính nhà nước lúc này trở thành công cụ để nhà nước can thiệp vào kinh tế nhằm điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó, phạm vi hoạt động của tài chính nhà nước đã không ngừng mở rộng, không chỉ dừng lại các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước, các quỹ ngoài ngân sách (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm chăm lo phúc lợi cộng đồng…), hoạt động tài chính của các đơn vị hành chính, các đơn vị sự nghiệp mà còn có cả hoạt động đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế. Như vậy, xét về mặt sắp xếp thể chế, có thể thấy, trong nền kinh tế hiện đại tài chính nhà nước bao hàm sự đan xen của những hoạt động mang tính chất công, không vì lợi nhuận và một số các hoạt động mang tính chất tư, nhằm mục tiêu lợi nhuận như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Ngày nay, nhận thức tính vị lợi trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thể hiện đúng đắn xu hướng cải cách chính sách trong nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là trong xu hướng phát triển cạnh tranh và hội nhập. Doanh nghiệp nhà nước phải là một đơn vị kinh doanh thực sự và lợi nhuận chính là nguồn lực sống còn của nó.

Tóm lại, có thể xác lập khâu tài chính nhà nước dựa trên 3 tiêu chí sau:

° Gắn liền với hình thức sở hữu nhà nước.

° Chính sách thu chi tài chính được thực hiện theo một khuôn khổ pháp lý gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước.

° Mục tiêu hoạt động của tài chính nhà nước hướng vào thực hiện các chức năng chính trị, xã hội và kinh tế của nhà nước.

Continue reading

TẠO HÓA KIỂM SOÁT NHÂN GIAN CŨNG BẰNG LUẬT

HÀ YÊN

Khi đã hội đủ các điều kiện để sự sống xuất hiện, Tạo hóa tiếp tục thực thi một đề án vĩ đại hơn : Mở đường cho một loài đông vật cao cấp ra đời, “cấy” vào não bộ của nó một “con chíp” ý thức, và dần dần, đưa nó hòa nhập vào Trường thông tin ý thức bậc cao, hiện hữu khắp nơi và vận động vĩnh hằng cùng Vũ trụ. Động vật cấp cao ấy chính là Con người. Lúc này, Con người đã có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời của cái nôi sinh ra mình và, bằng Tư duy, nó có thể đặt ra câu hỏi về Vũ trụ và về cả chính mình.

Điều này có vẻ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, khi mà sự tự tra vấn ấy đẻ ra cái Bản ngã không thể kìm nén. Cũng giống như loài người ngày nay tìm cách chế tạo người máy biết tư duy, mà không kiểm soát được sự xung đột của chính tư duy ấy, thì sẽ là thảm họa thương tâm, như một hậu quả tự đào mồ để chôn mình.

Tạo hóa, chẳng những đã biết trước điều đó, mà còn vạch ra, trong đề án, những “thiết kế ” hết sức chi tiết và cực kỳ thông minh, nhằm dẫn dắt cái bản ngã ấy tránh xa “cái Tôi cực đoan”, để đi đến địa vị Chúa tể muôn loài của trần thế.

Vậy, tạo hóa thể hiện điều thông minh ấy ở chỗ nào?

1. Tại sao động vật phải phân chia giới tính?

Sinh sản là phương thức để duy trì nòi giống, là phương thức chống lại sự suy giảm lượng của giống loài. Nhưng quá trình tự sinh sản đã diễn ra ở cấp độ phân tử trong giai đoạn tiến tới cấu trúc ADN rồi, thì hãy cứ theo qui trình ấy, mà mỗi cá thể tự sinh sản lấy, sẽ đơn giản hơn không?

Vấn đề nằm ở hành vi của ý thức : Đó là tư duy. Cái mà Tạo hóa ban cho mỗi cá thể được quyền sở hữu. Vì vậy, lẽ tự nhiên, Cá thể được quyền quyết định hành động theo Tư duy của mình là hoàn toàn hợp lôgic của Tạo hóa!

Rõ ràng, đây là một kẽ hở mà thảm họa tuyệt chủng có thể xảy ra : Bởi vì, nếu sự sinh sản phụ thuộc vào sở thích chủ quan, thì cá thể nào cũng sẵn sàng chọn lấy giải pháp an toàn hơn cho chính mình. Trong khi đó, với Thế giới động vật sinh tồn bằng bản năng, thì thời điểm sinh nở và nuôi con, là thời điểm nguy hiểm nhất, kẻ săn mồi sẽ ráo riết tận dụng. Xác suất “mẹ tròn con vuông” là rất thấp. Còn đối với con người thì sinh đẻ là một thứ cảm giác đau đớn. Là thời điểm sinh mạng lảo đảo “đi qua chiếc cầu độc mộc”, như dân gian đã từng ví. Như vậy, ở chế độ sinh sản tự quyết, thì cá thể nào trong Thế giới loài người, mà chẳng chọn lấy giải pháp an toàn và không đau đớn : Đó là, từ chối sinh sản. Sự chọn lựa này, cũng giống như những người thích chọn sống độc thân, để được nhẹ thân, trong xã hội ngày nay của chúng ta vậy. Nguy cơ tuyệt chủng cúng chính là lý do đó.

Để lấp kín kẽ hở này, Tạo hóa đã chọn một giải pháp hết sức thông minh : Đó là phân chia giới tính : Sự sinh sản tự quyết bị loại bỏ. Thay vào đó là sinh sản phụ thuộc, thông qua giao phối cặp Trống – mái ; Đực – cái ; Nam – nữ.

Continue reading

CÔNG TY MỘT NGƯỜI, TẠI SAO KHÔNG?

Bài này góp ý cho Dự thảo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (đã được ban hành). Civillawinfor đăng lại vì những đánh giá của tác giả về vai trò loại hình công ty TNHH 1 thành viên vẫn còn giá trị tham khảo.

LG. CAO BÁ KHOÁT

Khái niệm truyền thống coi công ty là sự canh ty của nhiều người, nên các quy định của luật công ty ở các nước thường quy định số thành viên tối thiểu phải có trong một công ty. Luật Công ty của Thái Lan quy định công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) phải có ít nhất 5 thành viên. Luật DN 1999 của Việt Nam quy định số thành viên tối thiểu đối với công ty TNHH là 2, công ty cổ phần phải là 3 thành viên. Nếu công ty TNHH một thành viên thì thành viên chủ sở hữu phải là pháp nhân. Không có sự giải thích tại sao công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông?

Đã đến lúc chúng ta phải nghiên cứu bản chất của công ty để thoát khỏi sự đồng nghĩa giữa công ty với canh ty. Trước hết, cần nhận rõ rằng, bản chất của công ty TNHH là chủ công ty chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn điều lệ đã đăng ký. Thuật ngữ “TNHH” đã là một sự nhắc nhở với các đối tác khi làm ăn với loại hình DN này. Với đặc điểm như vậy, một công ty dù đơn sở hữu vẫn có thể được thành lập dưới dạng TNHH. Sau đó, còn những lý do sau:

Thứ nhất, công ty là một thực thể pháp lý do pháp luật tạo nên, là công cụ để phân định trách nhiệm tài sản, phân tán rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư. Nó không phụ thuộc vào số người, vì công ty có 1.000 chủ sở hữu cũng có địa vị pháp lý như công ty có 2 chủ sở hữu. Luật DN 1999 có quy định, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tối thiểu 2 thành viên và tối đa là 50 thành viên. Thực ra, hai con số này không có ý nghĩa, chỉ do sự ước đoán. Tại sao lại hạn chế tối đa không quá 50 người? Có lẽ chỉ có thể giải thích được do quy định tại Điều 32 về nguyên tắc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên cho người ngoài công ty phải được sự chấp thuận của tất cả các thành viên còn lại. Nếu 1 người muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty mà phải hỏi ý kiến của 49 người còn lại thì quá vất vả, nếu không hỏi thì bị coi là phạm luật và sự chuyển nhượng sẽ bị coi là vô hiệu nếu như có người khởi kiện do họ chưa được hỏi ý kiến. Thực tế cho thấy, quy định số người tối thiểu và tối đa trong Luật DN là không thiết thực.

Thứ hai, thực tế đã tồn tại các công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Ở Việt Nam có đến 70% số công ty TNHH là vốn của 1 người trong gia đình và một vài người khác chỉ đứng tên cho đủ số. Ở Thái Lan, quy định công ty TNHH có 5 thành viên thì 1 người bỏ vốn thuê thêm các luật sư đứng tên để đủ 5 thành viên.

Continue reading

DOANH NGHIỆP VÀ THƯƠNG HIỆU

RICHARD MOORE ASSOCIATES

1. Thương hiệu là gì?

Tại Mỹ, thuật ngữ “thương hiệu” được dùng hiện nay có nguồn gốc từ dấu sắt nung in trên mình gia súc thả rông để đánh dấu quyền sở hữu của người chủ đối với đàn gia súc. Tại Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong khoảng thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, từ “thương” trong “thương hiệu” được biết đến rộng rãi với ý nghĩa liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, theo Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, nguồn gốc tiếng Hán của từ này có nghĩa là “san sẻ, bàn tính, đắn đo cùng nhau”, một nét nghĩa có lẽ phù hợp hơn với giá trị của thương hiệu đối với doanh nghiệp.
Giá trị hơn vẫn là cách thức mà một thương hiệu mạnh liên hệ về mặt cảm xúc với khách hàng thông qua các mối liên tưởng khác nhau.
Để giải thích về thương hiệu, hãy thử nghĩ tới bạn bè xung quanh và những mối quan hệ công việc mà bạn có. Nếu họ có chút gì đó giống với các mối quan hệ quen biết của tôi, thì bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng, tất cả họ đều khác nhau, mỗi người có những nét tính cách riêng, đó là chưa kể đến đặc điểm khác biệt về ngoại hình. Và cũng như tôi, có lẽ bạn cũng đã tạo dựng mối quan hệ với từng người trong số đó theo những cách thức khác nhau.
Thương hiệu cũng rất giống với những người quen mà bạn vừa nghĩ đến. Đằng sau mỗi logo là một thói quen hành xử mà bạn thấy có thể chấp nhận được hay thậm chí bạn rất ưa thích. Giống như các mối quan hệ, thương hiệu thường trở nên đáng ưa trong mắt bạn chỉ khi chúng phù hợp tương ứng với nhu cầu trong cuộc sống của bạn và giữ được điều đó nhất quán cùng với thời gian.
Tôi nhận thấy, việc nghĩ về thương hiệu như thể đó là một con người sẽ rất hiệu quả, bởi điều này giúp chúng ta hiểu rõ cách thức hoạt động của thương hiệu. Thậm chí, ngay cả sau khi đã trải qua hơn 30 năm giúp các doanh nghiệp phát triển thương hiệu, tôi vẫn nhận thấy có những điểm tương đồng mới giữa thương hiệu và con người. Giống như con người, thương hiệu được hỗ trợ bởi một tính cách được phối hợp tổng hòa, bởi đặc tính hoạt động tin cậy và hiển thị rõ nhất là nhờ có diện mạo đẹp. Hơn nữa, cũng giống như con người, lý do mạnh mẽ nhất khiến chúng ta xây dựng các mối quan hệ lâu dài với thương hiệu chính là yếu tố cảm xúc.
Câu nói “Hãy cho tôi biết bạn bè của bạn, tôi sẽ cho biết bạn là người như thế nào” đúng trong mối quan hệ của chúng ta với thương hiệu cũng như với bạn bè và các mối quen biết khác. Một người đàn ông có thể hút thuốc Marlboro, đi xe Mercedes Benz và dùng điện thoại iPhone không chỉ vì những đặc tính riêng của những sản phẩm đó, mà còn vì muốn thể hiện cho người khác thấy anh ta là người như thế nào.
Dĩ nhiên, thương hiệu không phải là con người. Đó là tập hợp những gì con người tạo ra, nhằm thực hiện một hành vi mang tính xã hội mà chúng ta gọi là “kinh doanh”. Và khi công việc kinh doanh phát triển và lớn rộng, bên cạnh những kỹ năng liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ chất lượng tốt, doanh nghiệp còn phải tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, thiết lập công tác bán hàng và xây dựng hệ thống phân phối sao cho trôi chảy, kế đến là tiếp cận các đối tượng khách hàng mục tiêu với các chiến lược marketing và truyền thông sao cho hiệu quả.
Khi tất cả những hoạt động này được phối hợp nhuần nhuyễn, hỗ trợ lẫn nhau và việc kết hợp các hoạt động này mang lại kết quả là một đơn vị độc đáo khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh, lúc này chúng ta có được một thương hiệu mạnh.

2. Khác biệt hóa thương hiệu

Nếu bạn có khả năng đặc biệt và có thể vận dụng khả năng của mình một cách hữu ích, bạn đã tạo được lợi thế riêng trong cuộc sống. Đối với thương hiệu cũng vậy, do đó cần phải chăm chút để tạo sự khác biệt cho thương hiệu. Con người chúng ta khác biệt nhờ yếu tố di truyền, môi trường và bởi những sự lựa chọn mà chúng ta quyết định.

Đối với thương hiệu, hai yếu tố sau là những yếu tố mà chúng ta cần chú trọng, đó là môi trường kinh doanh cụ thể trong phân khúc thị trường mà doanh nghiệp cạnh tranh và sự lựa chọn của doanh nghiệp đối với việc sẽ tiếp thị sản phẩm của mình như thế nào trong phân khúc thị trường đó.

Continue reading

VIẾT TIẾP CHUYỆN “MUA BÁN NHÂN THÂN” NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NGỜ TỚI

HẢI VIỆT

“Quyền bảo mật thông tin cá nhân đang bị xâm phạm!”, không ít người đã phải thốt lên như vậy khi bất ngờ bị một người xa lạ “bắt thóp” bằng những thông tin cá nhân của mình chính xác đến từng chi tiết.

Nhận diện người bán thông tin

Tình cờ, tôi được biết một người quen cũ đang điều hành một doanh nghiệp (DN) chuyên bán thông tin cá nhân của người khác. Trước đây, anh làm việc trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động điều tra, nhất là nắm trong tay hơn chục “đệ tử” có kỹ năng tiếp cận, thu thập thông tin của các đối tượng. Lực lượng nhân viên, và chính cả “ông chủ” thường xuất hiện ở những địa điểm, hay tập trung các đối tượng mà họ cần “điều tra”. Mỗi nhóm nhân viên phụ trách một loại đối tượng riêng. Công việc của họ là làm quen đối tượng, xin số điện thoại, hỏi thăm về công việc. Ngay cả những người quen, khi thấy cần thiết, họ tìm cách “moi” thêm thông tin. Họ tiếp cận khéo đến nỗi “đối tượng” không hề nghi ngờ. Không phải chờ có đặt hàng, họ mới “điều tra”, tìm hiểu, mà chủ động thu thập trước thông tin của càng nhiều đối tượng càng tốt, đưa về hệ thống hoá thành từng nhóm lưu trữ trong máy tính. Vì thế, nhiều khi họ có thể cung cấp ngay thông tin cho khách hàng khi có yêu cầu.

Doanh nghiệp của anh bạn này không hề có chức năng “điều tra” thông tin về nhân thân người khác. Sở Kế hoạch và đầu tư cũng không hề cấp giấy phép cho doanh nghiệp nào chuyên hoạt động với chức năng như vậy. Tuy nhiên, doanh nghiệp này, cũng như vài doanh nghiệp khác, vẫn hoạt động “chui”, “núp bóng” một số chức năng “gần gũi” có ghi trong giấy phép kinh doanh. Được biết, đã có một vài tổ chức hoạt động thám tử tư cũng “kiêm” luôn chức năng này.

Hàng triệu địa chỉ email, số điện thoại được rao bán

Nhân viên của một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gọi cho tôi mời mua bảo hiểm, qua trao đổi, người đang đối thoại biết khá rõ về công việc (và có thể là cả mức thu nhập) của tôi. Khi tôi đang còn chưa hết bỡ ngỡ về điều này, bất ngờ tìm được trên một trang mạng rao vặt mẩu tin: “Có danh sách database (thông tin cá nhân) khoảng 7 triệu số điện thoại di động, bao gồm tất cả các mạng ở Việt Nam cần bán. Cá nhân đơn vị quan tâm vui lòng liên hệ qua email: xxx.khn@gmail.com”. Cũng bằng cách này, một người bạn của tôi, vốn thích cá cược bóng đá, thường nhận được những tin nhắn mời tham dự cá cược, còn vợ của anh, chỉ nhận được những tin nhắn về các chương trình khuyến mãi. Những tin nhắn đến rất đúng đối tượng!

Continue reading

MÔ HÌNH CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ TÀI SẢN

TAPCHIKETOAN – Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình cải cách DNNN thì nợ và tài sản tồn kho ứ đọng là một cản ngại rất lớn đến hiệu quả hoạt động SXKD, hiệu quả sử dụng vốn của DN nói riêng và của toàn xã hội nói chung.

Mặc dù Chính phủ đã đưa ra những biện pháp giải quyết nhưng tất cả chỉ mang tính tình thế cục bộ chưa cương quyết và còn tạo ra tâm lý ỷ lại của các DN vào Nhà nước … Vì vậy, nợ và tài sản ứ đọng tại các DNNN càng ngày càng là gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó bên cạnh việc cần phải hoàn thiện cơ chế xử lý nợ tại các các doanh nghiệp thì cần phải tạo một công cụ thích hợp để hỗ trợ cho các DN chủ động giải quyết những tồn tại về nợ và tài sản ứ đọng.
Giải pháp cho vấn đề này là việc thiết lập mô hình công ty quản lý nợ và tài sản để xử lý nợ và tài sản tồn đọng cho các doanh nghiệp là cần thiết.

Công ty quản lý nợ và tài sản

Công ty quản lý nợ và tài sản (QLN&TS) là một định chế đặc biệt và công cụ hữu ích để hỗ trợ phục hồi nền kinh tế do bị ảnh hưởng của nợ và tái thiết lại hệ thống ngân hàng. Các công ty QLN&TS ra đời, được giao những quyền hạn đặc biệt để hoàn thành sứ mệnh của nó trong một thời gian ngắn, cụ thể là: xử lý nợ khó đòi, tồn đọng bằng cách mua, quản lý, xử lý… nhằm tối đa hoá giá trị của những khoản nợ hoặc tài sản để bán và thu hồi vốn.
Công ty QLN&TS được thành lập và hoạt động theo những cơ chế riêng đôi khi các quyền hạn này không bị giới hạn bởi luật pháp hiện hành và có thể các qui chế của hoạt động của loại công ty này không tuân theo những điều khoản của một số luật đang tồn tại. Các nhân viên của công ty quản lý nợ và tài sản đôi khi được qui định miễn trừ truy tố và được pháp luật bảo vệ. Vì vậy để tránh lạm quyền hoạt động của công ty này phải được sự giám sát rất chặt chẽ của uỷ ban giám sát, hội đồng quản trị. Xuất phát từ mục đích hoạt động của công ty quản lý nợ và tài sản là mua lại các tài sản có vấn đề từ các trung gian tài chính và tối đa hoá giá trị những tài sản đã mua do đó công ty phải có nguồn vốn lớn và có kỹ năng chuyên môn giỏi.
Từ tình hình thực tế về nợ của các DNNN tại Việt Nam, từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới nên việc xây dựng mô hình công ty quản lý nợ và tài sản là cần thiết, như là một công cụ tài chính đắc lực thúc đẩy tiến trình cải cách nền kinh tế của Việt Nam nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội và DN nói riêng.

Vai trò

Công ty QLN&TS giúp Nhà nước giải quyết những tồn tại về mặt tài chính trong hệ thống DNNN trong quá trình sắp xếp lại các DNNN nhằm giảm đến mức thấp nhất các tổn thất về phía Nhà nước.
° Tạo thêm hàng hoá cho thị trường chứng khoán thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường vốn ở Việt Nam.
° Công ty QLN&TS tạo ra một công cụ tài chính nhằm định hướng cho một số hoạt động tài chính mang tính chất chuyên nghiệp ra đời như các công ty mua bán nợ, công ty làm dịch vụ đòi nợ, công ty đầu tư tài chính… Như vậy, sẽ giải quyết được áp lực và tách bạch được các hoạt động mang tính chất quản lý của NN và hoạt động mang tính chất kinh doanh.

Continue reading