HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

TƯỜNG AN

Dự kiến, Phiên họp thứ Mười bảy, UBTVQH cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở. Việc sửa đổi, bổ sung có ý nghĩa quan trọng, nhằm tiếp tục cụ thể hóa chính sách đối với kiều bào ở nước ngoài, khuyến khích, động viên kiều bào tham gia đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự án Luật cho thấy một số nội dung cần cân nhắc kỹ.

Dự án Luật sửa đổi quy định theo hướng bổ sung đối tượng người gốc Việt Nam là người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu, là người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước có quyền sở hữu nhà ở (không giới hạn số lượng) tại Việt Nam nhằm bảo đảm sự hài hòa, hợp lý trong vấn  đề sở hữu nhà ở so với cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 3.6.2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở  tại Việt Nam được quy định trong Nghị quyết số 19 chỉ là chính sách “thí điểm”. Mặt khác, ngoài việc giống nhau về cách thức quy định diện đối tượng (người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước), dự án Luật sửa đổi lần này đã quy định những nội dung mới mở rộng hơn so với Nghị quyết của QH (trong Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12, thời hạn được sở hữu nhà ở giới hạn tối đa là 50 năm; tại một thời điểm, cá nhân nước ngoài được sở hữu một căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại; Tổ chức, cá nhân nước ngoài để có thể là chủ sở hữu nhà ở tại Việt Nam còn phải tuân thủ những điều kiện khác chặt chẽ hơn về quyền, nghĩa vụ, điều kiện được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam). Bên cạnh đó, về mặt hiệu lực thời gian, Nghị quyết của QH được áp dụng thí điểm trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày có hiệu lực thi hành (1.1.2009).

Nhìn từ khía cạnh này, việc sớm luật hóa một nội dung từ chính sách mang tính thí điểm như đã nêu trên trong việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở lần này, phải gắn với yêu cầu tổng kết kết quả thực hiện Nghị quyết của QH (Điều 12 Nghị quyết quy định Chính phủ báo cáo QH kết quả thực hiện Nghị quyết khi kết thúc thời hạn thực hiện thí điểm). Trong khi đó, tính từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực (1.1.2009) cho đến thời điểm hiện nay thì vẫn còn quá sớm để đề cập đến tổng kết việc thực hiện Nghị quyết. Vì những lý do trên, việc dựa theo quy định thí điểm trong Nghị quyết này để luật hóa như quy định trong dự án Luật sửa đổi cần được cân nhắc kỹ. Điều đáng lưu ý là, nếu không quy định các đối tượng này tại điểm b khoản 1 Điều 126 của dự thảo Luật thì cũng chỉ là việc họ không được quyền sở hữu nhà ở với số lượng không hạn chế tại Việt Nam. Trong trường hợp này, họ có thể vẫn được quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 126 dự thảo Luật. Việc giải quyết theo hướng nêu trên cũng là lộ trình, bước đi thích hợp về mặt chính sách trong vấn đề này.

Continue reading

THẢM QUYỀN HUY BỎ GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THÀNH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading

LUẬT SƯ VIỆT NAM: “MẤT KHÁCH” NGAY TRÊN SÂN NHÀ

TRẦN HIẾU

Tính đến 31.12.2008, cả nước có 1.479 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có 1.284 văn phòng luật sư, 80 công ty luật hợp danh và 115 công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Riêng ở Hà Nội có 370 tổ chức hành nghề luật sư và TP HCM có 690 tổ chức. Có thể thấy thời gian qua các tổ chức hành nghề luật sư phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây lại là sự vắng bóng của các tổ chức và luật sư “nội” trong các vụ giải quyết tranh chấp thương mại.

Nhiều mà vẫn thiếu

Theo Luật sư Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Văn phòng Luật sư Tư vấn Độc Lập, Trọng tài viên PIAC, Việt Nam gia nhập WTO đã tạo một sân chơi lớn mang tính toàn cầu cho các doanh nghiệp trong nước. Nhưng do còn lạ lẫm với luật lệ mới bên cạnh cơ hội luôn tiềm ẩn nguy cơ và rủi ro.

Thực tế Việt Nam hội nhập WTO trong những năm qua cũng cho thấy, xu hướng phát sinh tranh chấp quốc tế ở Việt Nam rất đa dạng: tranh chấp liên quan đến các doanh nghiệp của Việt Nam có hoạt động ở nước ngoài như vụ kiện của Vietnam Airlines tại toà án Ý; Việc ông Bửu Huy, Phó giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Hải Sản An Giang bị bắt tại Bỉ; Tàu Cần Giờ của Công ty vận tải biển Sài Gòn bị bắt giữ tại Tanzania; Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản bị kiện chống bán phá giá tôm, cá… là những ví dụ cụ thể. Còn các tranh chấp đầu tư quốc tế thì có: vụ kiện của Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình theo Hiệp định bảo hộ đầu tư ký giữa Hà Lan và Việt Nam. Việc xử lý vụ ô nhiễm môi trường gần đây có liên quan đến công ty Vedan, vụ PCI… Và trong tương lai sẽ không tránh khỏi việc phát sinh tranh chấp liên quan đến các cơ quan hành chính, nhà nước của Việt Nam mà theo đó Chính phủ Việt Nam có thể sẽ phải giữ vai trò bất đắc dĩ như là một bên tranh chấp trước các tổ chức tài phán quốc tế theo các cam kết quốc tế.

Một thực tế đáng qua tâm ở đây là để cáng đáng những vụ việc như trên, trong số gần 1.500 tổ chức hành nghề luật sư của cả nước hiện nay thì chỉ có khoảng 10 tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài…

Doanh nghiệp nội thuê luật sư ngoại

Theo kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp trong năm 2008 thì 30% doanh nghiệp được hỏi đánh giá tốt về chất lượng dịch vụ của luật sư, 66,3% doanh nghiệp đánh giá trung bình và 3,7% doanh nghiệp đánh giá kém.

Những con số này phần nào thể hiện sự đánh giá tích cực của xã hội đối với những nỗ lực của các luật sư trong việc không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, chất lượng luật sư thì còn nhiều điều phải bàn. Đơn cử như trình độ ngoại ngữ. Theo thống kê, chỉ 1,2% trong tổng số gần 4.000 luật sư đang hành nghề có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh trong thương lượng, đàm phán và tranh tụng trực tiếp bằng tiếng Anh. Chính vì thế, trong nhiều vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, luật sư Việt Nam tham gia bị thua thiệt là điều khó tránh khỏi. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ doanh nghiệp đã từng thuê luật sư hỗ trợ trong các hoạt động kinh doanh thương mại chỉ là 47,27% . Và mức độ thuê cũng rất thấp: năm 2007, chỉ có 5% số doanh nghiệp thuê luật sư trên 7 lần và có tới 37,65% không thuê luật sư. 34,95% nhu cầu của doanh nghiệp khi thuê luật sư chủ yếu vẫn là tư vấn về các vấn đề pháp luật, 25,86% thuê để giải quyết tranh chấp, 13,13% thuê để thương lượng, đàm phán, ký kết hợp đồng.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 09 KHÔNG MÂU THUẪN VỚI CÁC VĂN BẢN LUẬT

TRẦN NGỌC TIẾN – Chi cục Tài chính doanh nghiệp TPHCM

Nhân đọc bài “Nghị định 09 có khả thi?” của tác giả Nguyễn Xuân Đang trên TBKTSG số 11-2009, ra ngày 5-3-2009, ông Trần Ngọc Tiến (Chi cục Tài chính doanh nghiệp TPHCM) muốn trao đổi lại một số điểm. Tòa soạn đăng tải để rộng đường dư luận. Sau khi Nghị định 09/2009 về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ra đời, đã có nhiều ý kiến thắc mắc chủ yếu xoay quanh vấn đề đối tượng áp dụng và thời gian hiệu lực của nghị định.

Về đối tượng áp dụng của Nghị định 09

Hiện nay có một số ý kiến cho rằng có sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật. Cụ thể, Nghị định 09 quy định đối tượng áp dụng là các công ty nhà nước độc lập, mà theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 2003, tại điều 3 thì: “Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của luật này. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước”.

Còn tại điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 (Luật DN) quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Từ đó, tác giả Nguyễn Xuân Đang có kết luận rằng nếu căn cứ theo Luật DNNN thì Nghị định 09 không áp dụng cho các doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ như Vietcombank, Vietinbank, còn căn cứ theo Luật DN thì kết quả ngược lại.

Do vậy, để hiểu đúng Nghị định 09 chúng ta cần phải phân biệt rõ định nghĩa “doanh nghiệp nhà nước” và “công ty nhà nước” trong các văn bản pháp luật.

Căn cứ theo điều 1, Luật DNNN 2003 thì “doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Như vậy theo quy định của luật này, doanh nghiệp nhà nước bao gồm các loại hình:

1. Công ty nhà nước (được định nghĩa theo điều 3 Luật DNNN nêu trên)

2. Công ty TNHH, bao gồm công ty TNHH nhà nước một thành viên mà nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; và công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên, trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

THS. ĐÀM HỒNG PHƯƠNG

Năm 2008 có rất nhiều khó khăn đối với hoạt động của ngành Ngân hàng. Đặc biệt là những tháng đầu năm lãi suất tăng cao; tỷ giá, giá vàng, thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng nhiều biện pháp để điều hành nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Thị trường tiền tệ diễn biến bất thường cùng với những tác động xấu của khủng hoảng tài chính thế giới và hiệu ứng của việc tăng trưởng tín dụng nóng, tăng qui mô và màng lưới hoạt động quá nhanh của những năm trước đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP). Đến cuối năm 2008, mặc dù một số chỉ tiêu cơ bản của các NHTMCP vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng, song tốc độ đã chậm lại. Hoạt động của các ngân hàng chủ yếu là tập trung huy động vốn để cân đối nguồn và đảm bảo khả năng thanh khoản, bảo đảm an toàn của từng ngân hàng và toàn hệ thống.

Đến 31/10/2008 so với 31/12/2007: Tổng tài sản của các NHTMCP đạt 228.497 tỷ đồng, tăng 5,5%; Nguồn vốn huy động đạt 154.087 tỷ đồng, tăng 35%; Dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 109.464 tỷ đồng, tăng 16,8%; Chênh lệch thu nhập – chi phí là 3.141 tỷ đồng, bằng 98,5% năm 2007. Hiện nay, các NHTMCP ở Hà Nội vẫn thực hiện tốt các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động. Tuy nhiên, hoạt động của các NHTMCP cũng đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại sau đây:

– Những ngân hàng hoạt động mạnh, “sống dựa” trên thị trường liên ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng sử dụng vốn thị trường 2 vào thị trường 1, khi có khó khăn, một số ngân hàng rút vốn làm cho các ngân hàng này bị động, lúng túng trong việc điều hành thanh khoản, vay mượn lẫn nhau làm cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm lên đến 40%/năm.

– Hoạt động ngân hàng bị tác động mạnh của thị trường tiền tệ, thay đổi nhiều về cơ cấu lãi suất. Do huy động vốn khó khăn, hầu hết các ngân hàng phải sử dụng nhiều biện pháp để hút và giữ nguồn vốn. Lãi suất huy động ngắn hạn cao hơn lãi suất huy động dài hạn. Nhiều ngân hàng ở một số thời điểm đã tăng lãi suất quá cao sát trần lãi suất cho vay, làm thị trường tiền tệ lộn xộn, khách hàng chuyển dịch tiền lòng vòng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và “làm giá” với ngân hàng.

Continue reading

QUI MÔ THƯƠNG MẠI THEO QUI ĐỊNH TRONG HIỆP ĐỊNH TRIPS VÀ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÔI NGUYÊN

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007. Kể từ thời điểm này, Việt Nam phải thực thi các cam kết của mình với WTO về các lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ cũng như các văn kiện của WTO trong đó có Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs).

Trong quá trình chuẩn bị và hoàn thiện pháp luật trong nước đáp ứng yêu cầu đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã nỗ lực cố gắng hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước cho phù hợp với quy định cũng như cam kết của Việt Nam với WTO, một trong những văn bản quan trọng đó là Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội ban hành vào năm 2005. Việc Quốc hội ban hành Luật Sở hữu trí tuệ ngoài việc đảm bảo tính phù hợp trong quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của Hiệp định TRIPs còn nhằm góp phần đưa hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đi vào nền nếp, phù hợp với các quy định chung của WTO.

1. Quy định của Hiệp định TRIPs về “quy mô thương mại”

Điều 61 Hiệp định TRIPs quy định “Các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại (commercial scale). Các biện pháp chế tài theo quy định phải bao gồm cả phạt tù và/hoặc phạt tiền đủ để ngăn ngừa vi phạm, tương ứng với mức phạt được áp dụng cho các tội phạm có mức độ nghiêm trọng tương đương trong những trường hợp thích hợp, các biện pháp chế tài cũng bao gồm cả việc bắt giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá vi phạm, bất cứ vật liệu và phương tiện nào khác được sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm. Các thành viên có thể quy định các thủ tục hình sự và hình phạt áp dụng cho các trường hợp khác vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố tình vi phạm và vi phạm với quy mô thương mại”. Tuy nhiên, Hiệp định TRIPs cũng có quy định loại trừ tại Điều 60 khi hàng hoá được coi là nhập khẩu với số lượng nhỏ thì “các thành viên có thể không áp dụng các quy định của Hiệp định TRIPs đối với những hàng hoá phi thương mại với số lượng nhỏ, là hành lý cá nhân hoặc gửi với số lượng nhỏ.

Continue reading

XỬ LÝ DOANH NGHIỆP CỐ “ÔNG CHỦ” BỎ TRỐN: TỪ KHÓ . . . ĐẾN TẮC

MAI THẢO – HẢI VINH

Người lao động lao đao do nhiều công ty nước ngoài liên tục nợ lương, thậm chí có nơi ông chủ bỗng dưng “mất tích”. Ngay cả cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa tìm được biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này.

Trong một cuộc hòa giải tranh chấp lao động ở TPHCM trước đây, một ông giám đốc người Pháp sau khi trình bày các nỗ lực, thiện chí giải quyết của công ty, đột ngột buông ra một câu: “We are not the Korean company”- (chúng tôi không phải là công ty Hàn Quốc). Nghe thì rất đụng chạm nhưng nó cho thấy các công ty Hàn Quốc đã “mất điểm” như thế nào trong những vấn đề về quan hệ lao động với người lao động Việt Nam.

“Nợ tứ phía” rồi xù

Bảo hiểm xã hội TPHCM (BHXH) cho biết, tính đến cuối tháng 1/2009, trên địa bàn thành phố có 62 doanh nghiệp Hàn Quốc nợ BHXH với số tiền trên 30 tỷ đồng. Đặc biệt, trong đó có doanh nghiệp số nợ lên đến hàng tỷ đồng và thời gian nợ cũng kéo dài tới vài năm. Điển hình có công ty TNHH Kwang Nam (Q. Phú Nhuận) nợ BHXH từ tháng 12/2006 với số tiền trên 7 tỷ đồng. Hay trong vòng gần 1 năm, từ tháng 2/2007 đến cuối năm ngoái, công ty TNHH Giày AnJin trở thành con nợ của BHXH với hơn 6,5 tỷ đồng. Danh sách các công ty Hàn Quốc nợ lớn còn có công ty TNHH Sin B, công ty TNHH đồ chơi quốc tế Lucky …

Không chỉ nợ BHXH mà việc thực hiện pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc còn rất phức tạp. Như công ty TNHH Giày AnJin vừa nợ khoản trợ cấp thôi việc, vừa nợ trợ cấp thai sản của người lao động. Công ty TNHH Sin B cũng không có gì khá hơn, lao động vẫn chưa được lãnh lương từ tháng 12/2008. Tương tự, 236 lao động làm việc tại công ty Lucky đến nay vẫn chưa lãnh được tiền lương tháng 12/2008, thưởng cuối năm và tháng 1/2009.

Continue reading

MỘT SỐ QUI ĐỊNH MỚI VỀ KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA – Bộ Tư pháp

Luật thi hành án dân sự được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4, thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009 tiếp tục quy định những nội dung về kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự. Theo đó, Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.

Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã sửa đổi, bổ sung mới một số nội dung về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự thông qua việc sửa đổi, bổ sung quy định về kháng nghị và giải quyết kháng nghị về thi hành án dân sự, bao gồm:

Một là,bổ sung nội dung về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân. Trước đây theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân chỉ quy định kháng nghị đối với các quyết định thi hành án, cụ thể Điều 64 quy định như sau: "Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị đối với các quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân". Khắc phục hạn chế này của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 bổ sung quy định việc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân không chỉ đối với quyết định mà còn cả đối với hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới. Theo đó, khoản 1 Điều 160 Luật thi hành án dân sự về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định như sau: "Viện kiểm sát kháng nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân".

Hai là, bổ sung trách nhiệm thực hiện kháng nghị của các cơ quan thi hành án dân sự trong trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thực hiện kháng nghị nếu kháng nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận. Do đó, đoạn 2 khoản 1, Điều 161 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định bổ sung về trách nhiệm thực hiện kháng nghị như sau: "Trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát".

Continue reading

Vì sao người Việt Nam không thân thiện VỚI NGƯỜI TRUNG QUỐC

NGUYỄN HẢI HOÀNH (Lược dịch và giới thiệu theo Cư dân mạng Trung Quốc phân tích)

Hôm nay (17 tháng 2) là một ngày nhân dân hai nước Trung Quốc, Việt Nam đều không thể nào quên. Ngày này 30 năm trước, quân đội Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích” Việt Nam trên biên giới Trung Việt. Cuộc chiến tranh này đã trở thành vết thương khó có thể hàn gắn giữa nhân dân hai nước. Nếu bỏ qua cuộc chiến đó để xem xét “Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam” hiện nay, dù là quan hệ nhà nước hay nhân dân, thì sẽ là què quặt, cũng là phiến diện không hoàn chỉnh.

Ba quốc gia có liên quan trực tiếp nhiều nhất tới cuộc chiến đó là Trung Quốc, Việt Nam và Căm-pu-chia có cách nhìn khác hẳn nhau đối với cuộc chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam 30 năm trước. Phía Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam quấy rối biên cương Trung Quốc, cho nên Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích”. Phía Việt Nam cho rằng chính phủ Trung Quốc vì để ủng hộ chính quyền Khơ-me Đỏ mà phát động bành trướng xâm lược Việt Nam, thể hiện chiến tranh bá quyền. Phía Căm-pu-chia tuy không tỏ thái độ rõ ràng đối với cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nhưng ngày 7 tháng 1 năm nay đã tổ chức một cuộc mít tinh quy mô chưa từng có tại Pnông-pênh chúc mừng 30 năm ngày nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi ách thống trị của Khơ-me Đỏ. Tại cuộc mit tinh, Chủ tịch Thượng viện Căm-pu-chia Chia-xin cảm ơn Việt Nam “đã cứu Căm-pu-chia”, đánh giá cao bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh to lớn để tiêu diệt chính quyền Khơ-me Đỏ tàn sát nhân dân, và đã kịp thời ngăn chặn được số phận bất hạnh nhân dân Căm-pu-chia tiếp tục bị tàn sát.

Giờ đây chính phủ Trung Quốc đang ra sức làm mờ nhạt cuộc chiến 30 năm trước ấy, không tổ chức bất kỳ bất kỳ hoạt động kỷ niệm chính thức nào. Tại Việt Nam, chính phủ và nhân dân đều tổ chức hoạt động tưởng niệm với quy mô lớn (?) những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến đó, giáo dục người Việt Nam chớ quên cuộc chiến này. Rốt cục trong cuộc chiến tranh ấy ai phải ai trái, ở đây tác giả không muốn bàn thảo. Bao giờ các tài liệu mật được dần dần công khai, sau khi nhìn thấy chân tướng, tự nhiên người ta sẽ hiểu rõ.

Tác giả muốn nhân dịp hôm nay ngày đặc biệt này để nói qua về một số cảm nhận của mình tại Việt Nam, hy vọng qua đó người trong nước sẽ hiểu được tại sao đa số người Việt Nam có thái độ không hữu hảo với Trung Quốc. Để nhìn nhận Việt Nam một cách khách quan, chúng ta nên xuất phát nhiều hơn từ góc độ của mình mà suy nghĩ. Ngoài việc cuộc chiến đó cần thời gian để hàn gắn vết thương giữa nhân dân hai nước ra, hiện nay vấn đề người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc chủ yếu có mấy mặt sau đây đáng để người nước ta cảnh giác và suy nghĩ.

Continue reading

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG THÂN THIỆN VỚI NGƯỜI TRUNG QUỐC

NGUYỄN HẢI HOÀNH ( Lược dịch và giới thiệu theo Cư dân mạng Trung Quốc phân tích)

Hôm nay (17 tháng 2) là một ngày nhân dân hai nước Trung Quốc, Việt Nam đều không thể nào quên. Ngày này 30 năm trước, quân đội Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích” Việt Nam trên biên giới Trung Việt. Cuộc chiến tranh này đã trở thành vết thương khó có thể hàn gắn giữa nhân dân hai nước. Nếu bỏ qua cuộc chiến đó để xem xét “Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam” hiện nay, dù là quan hệ nhà nước hay nhân dân, thì sẽ là què quặt, cũng là phiến diện không hoàn chỉnh. 

Ba quốc gia có liên quan trực tiếp nhiều nhất tới cuộc chiến đó là Trung Quốc, Việt Nam và Căm-pu-chia có cách nhìn khác hẳn nhau đối với cuộc chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam 30 năm trước. Phía Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam quấy rối biên cương Trung Quốc, cho nên Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích”. Phía Việt Nam cho rằng chính phủ Trung Quốc vì để ủng hộ chính quyền Khơ-me Đỏ mà phát động bành trướng xâm lược Việt Nam, thể hiện chiến tranh bá quyền. Phía Căm-pu-chia tuy không tỏ thái độ rõ ràng đối với cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nhưng ngày 7 tháng 1 năm nay đã tổ chức một cuộc mít tinh quy mô chưa từng có tại Pnông-pênh chúc mừng 30 năm ngày nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi ách thống trị của Khơ-me Đỏ. Tại cuộc mit tinh, Chủ tịch Thượng viện Căm-pu-chia Chia-xin cảm ơn Việt Nam “đã cứu Căm-pu-chia”, đánh giá cao bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh to lớn để tiêu diệt chính quyền Khơ-me Đỏ tàn sát nhân dân, và đã kịp thời ngăn chặn được số phận bất hạnh nhân dân Căm-pu-chia tiếp tục bị tàn sát.

Giờ đây chính phủ Trung Quốc đang ra sức làm mờ nhạt cuộc chiến 30 năm trước ấy, không tổ chức bất kỳ bất kỳ hoạt động kỷ niệm chính thức nào. Tại Việt Nam, chính phủ và nhân dân đều tổ chức hoạt động tưởng niệm với quy mô lớn (?) những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến đó, giáo dục người Việt Nam chớ quên cuộc chiến này. Rốt cục trong cuộc chiến tranh ấy ai phải ai trái, ở đây tác giả không muốn bàn thảo. Bao giờ các tài liệu mật được dần dần công khai, sau khi nhìn thấy chân tướng, tự nhiên người ta sẽ hiểu rõ.

Tác giả muốn nhân dịp hôm nay ngày đặc biệt này để nói qua về một số cảm nhận của mình tại Việt Nam, hy vọng qua đó người trong nước sẽ hiểu được tại sao đa số người Việt Nam có thái độ không hữu hảo với Trung Quốc. Để nhìn nhận Việt Nam một cách khách quan, chúng ta nên xuất phát nhiều hơn từ góc độ của mình mà suy nghĩ. Ngoài việc cuộc chiến đó cần thời gian để hàn gắn vết thương giữa nhân dân hai nước ra, hiện nay vấn đề người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc chủ yếu có mấy mặt sau đây đáng để người nước ta cảnh giác và suy nghĩ.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA CAM KẾT VỚI WTO, LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2006/QH11

TS. PHAN HUY HỒNG – PGS.TS. NGUYỄN THÁI PHÚC

Sự vênh nhau giữa quy định của Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam với các cam kết của Việt Nam nêu tại Đoạn 502, 503 Báo cáo của Ban Công tác đã gây ra sự lúng túng trên diện rộng trong áp dụng pháp luật và hoạt động giảng dạy luật. Chúng tôi phân tích các quan điểm liên quan và nêu quan điểm riêng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cẩn trọng trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc quán triệt các nguyên tắc cơ bản về áp dụng pháp luật.

1. Sự việc

Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), có thành viên Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban Công tác) đã bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc một số điều khoản của Luật Doanh nghiệp năm 2005 sẽ ảnh hưởng như thế nào tới khả năng của một cổ đông đa số (tức là sở hữu ít nhất 51% nhưng không quá 65% hoặc 75%) trong việc kiểm soát đầu tư và đưa ra những quyết định cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp. Các điều khoản về công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên và các điều khoản về công ty cổ phần đã quy định các quyết định cơ bản trong một doanh nghiệp sẽ được đưa ra như thế nào bằng việc quy định những vấn đề cơ bản này sẽ phải được Hội đồng Thành viên hay Đại hội Cổ đông thông qua và quy định rõ tỷ lệ phiếu tối thiểu cần có để Hội đồng Thành viên hoặc Đại hội Cổ đông có thể đưa ra một quyết định như vậy. Theo những điều khoản này, việc đưa ra các quyết định cơ bản về doanh nghiệp đòi hỏi phải đạt tỷ lệ đa số ít nhất là 65% của Hội đồng Thành viên trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn trên một thành viên, và 75% của Đại hội Cổ đông trong trường hợp công ty cổ phần.[1]

Đại diện của Việt Nam thừa nhận tính hợp lý của những quan ngại đó, và đã nhân nhượng bằng các cam kết được ghi nhận tại đoạn 502 và 503 Báo cáo của Ban Công tác. Theo đó, kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bảo đảm rằng, dù đã có những yêu cầu tại Luật Doanh nghiệp năm 2005, các nhà đầu tư thiết lập hiện diện thương mại dưới hình thức liên doanh theo các cam kết trong Biểu Cam kết dịch vụ của Việt Nam sẽ có quyền xác định, trong Điều lệ doanh nghiệp, tất cả những loại quyết định cần phải đệ trình xin phê duyệt của Hội đồng Thành viên hay Đại hội Cổ đông; các quy định về số đại biểu cần thiết, nếu có, trong quy trình bỏ phiếu; và tỷ lệ đa số phiếu chính xác cần có để đưa ra tất cả các quyết định, bao gồm cả tỷ lệ đa số đơn giản là 51%. Đại diện của Việt Nam xác nhận thêm rằng, Việt Nam sẽ đảm bảo những quy định trong Điều lệ doanh nghiệp như vậy sẽ có hiệu lực pháp lý. Bên cạnh đó, trước khi gia nhập, Việt Nam sẽ bảo đảm các nghĩa vụ trong đoạn này có hiệu lực thông qua các biện pháp pháp lý phù hợp. Về vấn đề này, đại diện của Việt Nam lưu ý rằng Điều 3.3 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định rằng các điều ước sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác biệt giữa các điều khoản của Luật này với các cam kết trong điều ước, và xác nhận rằng, theo Điều 6.3 của Luật Điều ước, khi phê chuẩn Nghị định thư gia nhập, Việt Nam sẽ xác định sự tồn tại của những khác biệt đó và quyết định chúng sẽ được giải quyết thông qua việc áp dụng trực tiếp điều ước hay thông qua việc sửa luật[2].

Continue reading

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Đại hội đồng Liên hợp quốc,

Căn cứ Nghị quyết 56/168 ra ngày 19/12/2001 của Liên hợp quốc quyết định thành lập Uỷ ban đặc biệt để soạn thảo Công ước quốc tế toàn diện và lồng ghép nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền và nhân phẩm của người khuyết tật, để ngỏ cho tất cả các quốc gia thành viên và các quan sát viên của Liên hợp quốc, dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện từ các hoạt động trong các lĩnh vực phát triển xã hội, nhân quyền và chống phân biệt đối xử đã được thực hiện và có tính đến các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền và Ủy ban Phát triển xã hội,

Căn cứ các Nghị quyết có liên quan trước đây của Liên hợp quốc và Nghị quyết gần đây nhất là Nghị quyết 60/232 ra ngày 23/12/2005 và các Nghị quyết có liên quan của Ủy ban Phát triển xã hội và Ủy ban Nhân quyền,   

Hoan nghênh những đóng góp quý báu của các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu nhân quyền của các quốc gia cho các hoạt động của Uỷ ban đặc biệt,

1. Bày tỏ sự đánh giá cao của Liên hợp quốc đối với những nỗ lực của Uỷ ban đặc biệt để hoàn thiện Dự thảo Công ước quốc tế về người khuyết tật và Dự thảo Nghị định thư không bắt buộc của Công ước;  

2. Thông qua Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật và Nghị định thư không bắt buộc của Công ước đính kèm với Nghị quyết này sẽ được để ngỏ cho các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc tham gia ký kết tại trụ sở chính của Liên hợp quốc tại New York từ ngày 30/03/2007;    

3. Kêu gọi các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc xem xét việc ký kết và phê chuẩn Công ước và Nghị định thư không bắt buộc như là một trong những vấn đề ưu tiên, và bày tỏ hi vọng Công ước và Nghị định thư sẽ sớm có hiệu lực vào thời gian sớm nhất;  

Continue reading

KINH NGHIỆM BẢO VỆ TRẺ EM CỦA THỤY ĐIỂN

ĐẶNG NAM

Trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em của Thuỵ Điển đã đạt được nhiều thành quả. Vấn đề này, nước ta và Thuỵ Điển đã hợp tác và mở ra triển vọng khả quan. Tháng 5/2004, Việt Nam và Thụy Điển đã kí hiệp định song phương về con nuôi. Trung tâm nhận con nuôi quốc tế Adotion Centre (AC) của Thuỵ Điển đã mở văn phòng đại diện Dự án tại thành phố Hồ Chí Minh, có cộng tác viên tại Hà Nội, và hợp tác với 10 tỉnh. Con nuôi Việt Nam đầu tiên đến Thụy Điển vào năm 1990, đến nay tại Thuỵ Điển đã có 1.200 trẻ em các nước được nhận làm con nuôi.

AC đang hợp tác với Việt Nam thông qua các dự án được triển khai 15 năm qua: a) Phòng ngừa trẻ em bị tách khỏi cha mẹ; b) Giáo dục trẻ em và thanh niên đang sống tại các Trung tâm (dự án 5 năm về dạy nghề cho 100 trẻ em tại Trung tâm Ba Vì); c) Cải thiện điều kiện sống tại các trung tâm nuôi trẻ tập trung (tập huấn cán bộ, hỗ trợ thức ăn, xây nhà, nâng cấp cơ sở vật chất, khám xét nghiệm HIV/AIDS, chăm sóc sức khoẻ).

AC phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ ở một số địa phương trong các hoạt động: Dạy nghề, giáo dục, làm kinh tế, đào tạo lãnh đạo phụ nữ. Đã có 38.000 phụ nữ được đào tạo trực tiếp và gián tiếp, 300.000 trẻ em được hưởng lợi, 15 trẻ em tìm được việc làm. Dưới đây xin giới thiệu một số điều luật, biện pháp và mô hình bảo vệ trẻ em của Thuỵ Điển.

Tư pháp người chưa thành niên

Trẻ dưới 12 tuổi gây lỗi, gây hại thì bố mẹ không phải bồi hoàn nếu đã đóng bảo hiểm. Nếu không có bảo hiểm, trẻ bị ghi lỗi và phải bồi hoàn khi trưởng thành. Trẻ dưới 15 tuổi không bị xét xử tại toà. Thuỵ Điển có các toà Hình sự, Dân sự  (2 toà có quyền ra bản án) và toà Hành chính (không ra bản án mà ra các quyết định). Không có thẩm phán chuyên trách từng vấn đề mà họ được luân chuyển về các toà sau thời gian nhất định. Không có toà án chuyên về trẻ em nhưng có các thẩm phán chuyên biệt về các vụ trẻ em. Với trẻ em dưới 12 tuổi, các hành vi phạm pháp chỉ coi là các hành vi xã hội và sử dụng biện pháp giáo dục nên cảnh sát không tham gia quá trình điều tra mà do cán bộ xã hội thực hiện. Họ tìm hiểu những vấn đề liên quan đến trẻ (gia đình, xã hội, nhà trường) và đưa ra kế hoạch giáo dục để điều chỉnh hành vi của đứa trẻ.

Có hai bộ luật xã hội cơ bản, chiểu theo 2 luật này không có các bản án mà chỉ ra các quyết định: a) Luật về hệ thống dịch vụ xã hội, áp dụng cho trẻ em, người già, người khuyết tật. Biện pháp áp dụng là các kế hoạch và các quyết định điều chỉnh liên quan đến nhiều đối tượng thi hành và nhiều biện pháp được áp dụng. Ví dụ, chăm sóc thay thế cho trẻ em, giám sát quá trình chăm sóc thay thế… b) Luật chăm sóc trẻ em và người trẻ tuổi.

Continue reading

XUẤT HIỆN NHIỀU HÌNH THÁI GIA ĐÌNH MỚI

LAN HƯƠNG

Cuộc điều tra toàn quốc về gia đình Việt Nam lần đầu tiên được công bố đã cho những kết quả bất ngờ. Đáng chú ý là đã có một tỷ lệ không nhỏ ông bố, bà mẹ không quan tâm đến các con, bạo lực gia đình vẫn chiếm tỷ lệ cao…

Mức độ bình đẳng giới ngày càng tăng

Đây là cuộc điều tra do Vụ Gia đình của Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em trước đây, nay trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, phối hợp với Tổng cục thống kê, Viện nghiên cứu gia đình của Australia và Viện nghiên cứu gia đình và giới tiến hành từ năm 2006 với sự hỗ trợ của Unicef.

Cuộc điều tra đã phỏng vấn 9.300 hộ gia đình, gồm các đối tượng người lớn, trẻ vị thành niên và các bậc cao tuổi ở tất cả 64 tỉnh, thành. Kết quả chỉ ra rằng chủ hộ của các gia đình hiện đại ở Việt Nam giờ đây là người vợ, người chồng hay cả hai.

Điều đó cho thấy mức độ bình đẳng giới trong mỗi gia đình ngày càng tăng. Đại đa số những người trả lời phỏng vấn phản đối quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Đặc biệt nhóm người cao tuổi và vị thành niên phản đối nhiều nhất, chỉ có dưới 2% tán thành.

Nhưng song song với tín hiệu tốt lành đó thì tình trạng bạo lực gia đình vẫn là vấn đề nghiêm trọng, nó chiếm tỷ lệ trên 20% trong các gia đình.

Các hình thức bạo lực đó là: đánh, mắng chửi, nhục mạ và bị ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn. Có 3,4% số nam giới đánh vợ trong khi có 0,6% phụ nữ đánh chồng. 15,1% người chồng chửi mắng vợ trong khi tỷ lệ vợ mắng chửi chồng là 8,5%.

Nạn nhân chủ yếu là người phụ nữ và con cái trong gia đình. Theo ý kiến của những người được phỏng vấn thì say rượu ở nam giới, các quyết định kinh doanh sai lầm, mâu thuẫn trong sinh hoạt, vấn đề tiền bạc, ngoại tình và cờ bạc là nguyên nhân của mâu thuẫn và xung đột.

Continue reading

VỤ DÙNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN TRƯỜNG ĐUA PHÚ THỌ, TP HCM: THÂN NÀI TRÊN LƯNG NGỰA

ANH ĐỨC – PHAN VŨ

1. THÂN NÀI TRÊN LƯNG NGỰA

Cứ mỗi chiều thứ Bảy, Chủ nhật hằng tuần giới cá cược lại đổ về trường đua Phú Thọ – TP.HCM để khóc cười theo từng bước nhảy của ngựa đua. Trên lưng ngựa, có những em bé “không được lớn” đang phải oằn mình vì cuộc mưu sinh và thất học là “thành quả đạt được” sau khi giải nghệ…

Trẻ không muốn lớn

Tới trường đua Phú Thọ, điều đầu tiên chúng tôi cảm nhận được là cảnh bát nháo, thiếu tính chuyên nghiệp của môn thể thao được coi là quí tộc này. Ngoài chủ ngựa, nài ngựa và một số ít người yêu thích đua ngựa, thì đa số những người còn lại đến đây hầu như là dân lao động nghèo, làm nghề tự do, buôn bán thậm chí không nghề nghiệp nhưng có cùng một sở thích là đam mê cá cược hơn là giải trí thuần túy.

Từ trong nhà cân, các nài ngựa xếp hàng và lần lượt được đọc tên lên bàn cân; đây là thủ tục bắt buộc để các nài bắt đầu đợt đua. Dàn cờ được chuẩn bị sẵn sàng, các “chiến mã” chờ cờ lệnh xuất phát. Cửa chuồng mở, vòng đua bắt đầu, những con  ngựa tung mình lao về phía trước theo tiếng hò reo của khán giả. Trên lưng ngựa, những nài ngựa nhỏ thó với khuôn mặt non choẹt cúi rạp mình, quất roi thúc giục ngựa lao về đích. Những nài ngựa này đều có độ tuổi từ 10 đến 17 và cuộc đời làm nài được bắt đầu từ những hoàn cảnh thật đặc biệt.

Nài L.T.C đến với nghề này từ năm 2006, khi đó em mới 13 tuổi. L.T.C tâm sự: “Vì gia đình em nghèo nên em phải nghỉ học từ năm lớp 5 và theo nghề nài ngựa này. Hằng ngày em đi quần ngựa mướn cho chủ và luyện tập cưỡi ngựa”.

Theo lời L.T.C, mỗi đợt đua vào những ngày cuối tuần, nếu thắng có thể đem về nhà từ 1 đến 2 triệu đồng. Còn nếu thua thì cũng có tiền nhưng ít hơn, khoảng từ 100.000 đến 200.000 đồng, được gọi là tiền “tử” khi bước chân lên lưng ngựa.

Tổ ấm của L.T.C là căn nhà lá tồi tàn “thiếu trước, hụt sau” nằm cuối con đường đất ngoằn nghoèo chạy dài từ lộ lớn thuộc xã Đức Lập, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Mẹ nài L.T.C dáng người khắc khổ èo uột với căn bệnh đau dạ dày hành hạ nhiều năm ra đón chúng tôi, bà cho biết: “Nhà có 4 đứa con, thằng L.T.C là út, nhưng nó là đứa gồng gánh, lo toan và là thu nhập chính cho gia đình. Tôi và ba nó thì không thể lao động được vì sức khỏe yếu quá”.

Continue reading

TÍCH TỰ RUỘNG ĐẤT: HÃY BIẾN NÔNG DÂN THÀNH CỔ ĐÔNG

HUỲNH LỘC – VĨNH SƠN

Nên lập các công ty nông nghiệp, trong đó nông dân là người góp đất, góp vốn, công sức và được ăn chia sòng phẳng. Tích tụ ruộng đất vào tay ai và nông dân sẽ giữ vai trò thế nào trong chủ trương này? Ý kiến dưới đây của ông Nguyễn Văn Hơn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy An Giang.

Công ty cổ phần phải khác hợp tác xã

Để tránh nông dân thất nghiệp khi mất đất thì không gì khác hơn là phải tích tụ theo hướng góp vốn cổ phần. Tức là nhà nước khuyến khích nông dân thành lập các công ty cổ phần sản xuất nông nghiệp trên cơ sở ai có tiền hùn tiền, có đất hùn đất, có công cụ lao động hùn công cụ lao động…

Tuy nhiên, mô hình công ty này đặc biệt lưu ý là phải khác với các hợp tác xã ngày xưa. Bộ máy lãnh đạo công ty được bầu bán trên cơ sở ý kiến thống nhất của tập thể nông dân, hoàn toàn dân chủ và sản xuất, ăn chia lợi nhuận theo quy chế công ty, phù hợp với pháp luật của nhà nước.

Khi ấy, tài sản mà nông dân hùn vào công ty sẽ được định ra bằng tiền, tính theo giá cả thị trường tại thời điểm góp vốn. Như vậy, nông dân nào tham gia góp vốn thì được ăn chia sòng phẳng. Còn ai không có vốn, lỡ bán hết đất thì vào làm công cho các công ty cổ phần. Công ty cổ phần sản xuất nông nghiệp, theo tôi nghĩ sẽ có cả một quy trình khép kín, từ sản xuất cho đến chế biến. Chỉ mỗi việc tiêu thụ là do nhà nước làm. Ví dụ, một công ty chọn việc trồng lúa để làm kinh tế chủ lực thì ở công ty phải thiết lập cho được hạ tầng cơ sở có đầy đủ các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất ra hạt lúa. Công ty cũng cần có nhà máy xay xát lúa gạo, chuyên xay và lau bóng gạo để cho vào kho dự trữ. Khi nào giá thị trường thế giới tăng, Chính phủ khuyến khích xuất khẩu thì các công ty bán cho những công ty lương thực của nhà nước. Thậm chí, mỗi công ty đều cần có bộ phận tín dụng ngân hàng chuyên lo vấn đề vốn. Nhìn tổng thể, mô hình công ty cổ phần sản xuất nông nghiệp như một xã hội thu nhỏ. Ở đó cũng sẽ có các bộ phận làm lộ giao thông để vận chuyển vật tư cho canh tác cho một diện tích lớn. Đồng thời, cũng có người phải đào kênh, xẻ ruộng làm thủy lợi nội đồng…

Continue reading

LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ VÀ CÂU CHUYỆN AN SINH XÃ HỘI

TS. DIỆP VĂN SƠN

Việc xây dựng Luật BHYT trong bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn, vấn đề an sinh xã hội trong đó có cơ hội tiếp cận y tế của người nghèo đang được đặt ra gay gắt, đã thu hút được mối quan tâm lớn. Ts. Diệp Văn Sơn bàn thêm về Luật BHYT. 

Khiếm khuyết cơ chế

Từ việc khám, chữa bệnh (KCB) được bao cấp hoàn toàn sang KCB tự chi trả đến KCB được bảo hiểm y tế chi trả là cả một bước tiến trong quá trình xây dựng đời sống có an sinh xã hội văn minh, bền vững và hợp lý.

Tuy nhiên, qua hơn 10 năm, kể từ khi xuất hiện BHYT, dư luận xã hội vẫn râm ran, phàn nàn về chuyện dài BHYT.
Xem ra giữa “3 nhà”: người bệnh, người cung cấp dịch vụ y tế (bác sĩ – bệnh viện) và người quản lý quỹ BHYT không hài lòng lẫn nhau, không có tiếng nói chung và cuối cùng trở thành mâu thuẫn gây gắt.

Chuyện phải đến sẽ đến. Dư luận đã từng phản ứng mạnh mẽ và gay gắt trước những quy định quá lạc hậu của Nghị định 58/CP, Thông tư 14/TTLB, đặc biệt là khi được quỹ BHYT có lúc kết dư 2.000 tỷ đồng trong khi kinh phí dành cho điều trị thiếu đủ thứ.

Điều bất hợp lý ở đây là khi tiền mua BHYT tăng gấp đôi nhưng BHYT được chi trả vẫn giữ nguyên. Đây không còn là quan hệ xin – cho mà là quan hệ sòng phẳng giữa người mua và người bán.
Việc quy định danh mục chi trả về thuốc, kỹ thuật chuẩn đoán, điều trị, mức trần chi trả, tỷ lệ đồng chi trả 80/20%… đưa đến những tình huống phi lý, thương tâm, rất thiếu y đức.
Từ cơ chế chi trả bất hợp lý, không sòng phẳng như vậy tất yếu dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử giữa hai đối tượng người có thẻ BHYT và người tự chi trả theo giá của bệnh viện yêu cầu là lẽ đương nhiên khó tránh khỏi.
Ở đây khó có thể cải thiện tình hình bằng cách kêu gọi lương tâm, y đức, tinh thần trách nhiệm… Cái gì khiếm khuyết từ cơ chế phải xử lý bằng cơ chế!

Continue reading

TRANH CHẤP THI CÓ GIẢI: TRÚNG THƯỞNG ĐẤU GIÁ VÀ MỘT NĂM “KHỐN KHỔ” ĐÒI NỢ GIẢI

A.Q

Nhận được tin báo thắng phiên đấu giá với giải thưởng là Nokia 7500 Prism trị giá 3.559.000 đồng, anh Trung nhanh chóng chuyển đủ tiền cho đơn vị tổ chức với hy vọng sớm nhận giải. Tuy nhiên, sau 1 năm trời liên lạc, gọi điện…, anh mới được đối tác trả số tiền tương đương sản phẩm trúng đấu giá.

Phần thưởng bỗng dưng… "mọc cánh"

Theo đơn trình bày của anh Nguyễn Đăng Trung (thị trấn Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội), ngày 22/3/2008, anh ra giá 454.000 đồng cho sản phẩm máy điện thoại Nokia 7500 Prism trị giá 3.559.000 đồng (giá thời điểm đó) tại phiên đấu giá số 64 trong chương trình Đấu giá ngược trên kênh Info TV, do Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Hà Thành (HTD Telecoms) tổ chức, và trở thành người trúng giải.

image

Giải thưởng trong chương trình "Đấu giá ngược" của HTD Telecoms trong phiên đấu giá P64 (Ảnh minh họa)

Theo hướng dẫn của chương trình, anh đã gọi điện thoại đến tổng đài 19001548 của HTD Telecoms để xác nhận người trúng giải và chuyển số tiền 454.000 đồng vào tài khoản của Công ty HTD Telecoms để nhận được lời hứa sẽ “rinh” về giải thưởng trong 1 tháng.

“Qua 1 tháng, tôi không thấy người của Công ty liên lạc nên chủ động gọi vào tổng đài 19001548 thì chỉ nhận được lời hẹn của nhân viên tổng đài là sẽ chuyển đến người có trách nhiệm. Sau đó, sự việc chìm vào im lặng, tôi hoàn toàn không nhận được thông tin gì nữa”, anh Trung bức xúc.

Bất bình với cách làm việc “tiền hậu bất nhất” nói trên, anh Trung đã kiên nhẫn gọi thêm vài lần nữa, nhưng anh cũng chỉ nhận được câu trả lời tương tự từ nhân viên tổng đài, sau khi phải trình bày lại toàn bộ sự việc. Các nhân viên trực tổng đài khất lần lữa với lý do họ “chỉ làm việc bán thời gian nên không biết gì hết” (!?).

Cách làm việc "đem con bỏ chợ"

“Lúc đó, tôi đã rất nản chí và không muốn tiếp tục gọi để nhận thưởng nhưng nghĩ lại nếu mình không làm rõ thì nhỡ có nhiều người khác cũng rơi vào tình cảnh như mình thì sao? Bởi chương trình này diễn ra hàng tuần”, anh Trung cho biết

Continue reading

RẮC RỐI CÂU CHỮ TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

HÀ THANH

Bỏ ra hàng chục triệu đồng để mua bảo hiểm, ai cũng mong quyền lợi của mình được bảo đảm khi xảy ra rủi ro. Tuy nhiên, đã có không ít trường hợp phát sinh tranh chấp giữa người mua và công ty bảo hiểm từ những cạm bẫy trong câu chữ của hợp đồng…

Cơn mưa chiều 1.8.2008 kết hợp với triều cường khiến nhiều tuyến đường trong TP.HCM biến thành sông. Nước ngập đường Hồ Hảo Hớn (Q.1), tràn vào tòa nhà Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Tín (số 75 Hồ Hảo Hớn), làm tầng hầm đang chứa đầy xe bị ngập nước. Trong đó có chiếc xe Mercedes biển số 52P – 1980 bị hư hỏng nặng.

Theo tường trình của Ngân hàng Đại Tín tại UBND P.Cô Giang, Q.1 thì khoảng 16 giờ ngày 1.8.2008 cơn mưa bắt đầu. Nửa tiếng sau, nước tràn vào tầng hầm trụ sở. Đến 17 giờ, tầng hầm bị ngập trong nước hơn 0,5m. Toàn bộ nhân viên của ngân hàng đã tập trung xử lý để hạn chế thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, do mực nước dâng cao và độ dốc của đường hầm khá lớn nên không thể đem xe ra khỏi tầng hầm. Mực nước tiếp tục dâng cao hơn 1m làm ngập hệ thống dẫn điện vào tòa nhà. Toàn bộ nhân viên của ngân hàng phải sơ tán khỏi tòa nhà để tránh tai nạn về điện.

Sáng 2.8.2008, Ngân hàng Đại Tín đã thông báo tai nạn cho Bảo hiểm AAA qua điện thoại và dịch vụ cứu hộ mang xe đi giám định thiệt hại. Kết quả làm việc của các bên cho biết ngân hàng bị thiệt hại gần 400 triệu đồng do các hư hỏng của xe Mercedes 52P-1980.

Trước đó, Ngân hàng Đại Tín có ký kết hợp đồng số P080 – 710 – 08/0046 với Bảo hiểm AAA. Theo hợp đồng thì phạm vi bảo hiểm: âm va, lật đổ; hỏa hoạn, cháy nổ; bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh, động đất, mưa đá; mất toàn bộ xe; tai nạn rủi ro bất ngờ khác ngoài những điểm loại trừ. Sau khi nhận thấy trường hợp chiếc xe Mercedes nằm trong phạm vi tai nạn rủi ro bất ngờ, Ngân hàng Đại Tín đã yêu cầu AAA trả tiền bảo hiểm.

Continue reading