NHÌN NHẬN VỀ DỰ LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

“Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” là một chủ trương thường được nhắc tới trong nhiều văn kiện chính trị bàn về dân quyền ở Việt Nam. Để giúp người dân biết chính quyền đã và đang làm gì, một đạo luật về tự do thông tin đang được Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo. Người ta đã cho dịch và xuất bản các văn kiện pháp lý quốc tế và các đạo luật về tự do thông tin từ nhiều quốc gia trên thế giới, bước đầu xây dựng được một bản đề cương với 32 điều làm tư liệu thảo luận về dự luật này. Bài viết dưới đây góp phần nhìn nhận về nhu cầu, giới hạn và những tác động khả dĩ có được của dự luật này từ góc độ bảo vệ dân quyền.

Một đạo luật cần cho người dân, báo chí và chính quyền

Báo giới Việt Nam thường ráng né nhiều vấn đề được cho là nhạy cảm, song trên thực tế những vấn đề đó nếu được bàn luận tự do chưa chắc đã được số đông người dân quan tâm. Bình dân quan tâm đến việc an sinh thường ngày. Công việc, thu nhập, học hành, sức khoẻ và mọi sự tiện lợi trong giao lưu xã hội là những ưu tiên hàng đầu. Trong giao tiếp với chính quyền, người ta mong được đối xử công bằng và rõ ràng. Sự bất bình của dân chúng thường khởi nguồn từ những đối xử của chính quyền mà họ cảm thấy bất công. Thu hồi và sử dụng đất không đúng mục đích, đền bù không thoả đáng cho đất bị thu hồi, không được tạo việc làm và cơ hội chuyển nghề, sự bất lực của chính quyền trước ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và các bất an khác trong xã hội… thường là những mồi lửa tạo nên bất bình. Tích tụ lâu ngày, mồi lửa nhỏ cũng tạo nên đám cháy. Động loạn lớn đôi khi có nguyên căn từ vô cảm của chính quyền trước những lo toan nho nhỏ của người dân.
Tự do thông tin tốt cho người dân, báo giới và chính quyền: Một đạo luật bảo đảm quyền tự do thông tin của người dân nếu được ban hành sẽ giúp báo giới tự tin hơn khi khai thác quyền được biết, quyền được nói của người dân. Có biết, có dám tranh luận, rồi một ngày người dân mới học cách tập hợp lực lượng để phản biện lại, một cách hoà bình và văn minh, các chính sách của chính quyền khi cần thiết. Đạo luật này cũng giúp quan chức hành chính tự tin hơn khi tiết lộ thông tin cho dân chúng mà không sợ vi phạm các nghĩa vụ bảo mật. Thêm nữa, có được sự hiểu biết và thông cảm từ phía người dân các chính sách của Nhà nước cũng dễ thực hiện hơn. Tăng tự do thông tin cho người dân cũng nghĩa là tăng sức đề kháng, tăng cường ổn định, làm trong sạch, giúp bảo vệ chính quyền.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA SINH VIÊN VỀ SỐNG CHUNG TRƯỚC HÔN NHÂN

LÊ HỒNG NHẬT

Trong vài thập niên gần đây, rất nhiều những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện tượng liên quan đến tình dục của giới trẻ như “sống thử”, nạo thai, đang ngày càng phổ biến. Và điều đáng nói là cơn sốt “tình yêu” đó cũng đã ảnh hưởng tới giới sinh viên. Nên nhìn nhận vấn đề này thế nào? Đó chính là chủ đề nghiên cứu thu hút sự chú ý của nhóm các bạn sinh viên Khoa Kinh tế, ĐHQG TP HCM, gồm Hải Yến, Phương Hà, Ánh Hồng, Đan Thanh, và Lệ Thủy.

Dựa trên những nghiên cứu xã hội học và tâm lý học, các bạn đã phân chia các yếu tố chi phối ý muốn có quan hệ tình dục trong sinh viên thành hai nhóm chính sau: Thứ nhất là giáo dục và nhận thức. Điều này bao gồm các yếu tố chính như quan điểm cá nhân về tình dục trước hôn nhân và sự quan tâm của gia đình. Và thứ hai là điều kiện cá nhân. Bao gồm các điểm chính như hoàn cảnh kinh tế, điều kiện nhà ở, quan hệ yêu đương, giới tính, và nỗ lực học tập.

Đối với nhóm nhân tố thứ nhất, nổi lên rõ rệt nhất là nhận thức hay quan điểm của sinh viên về vấn đề sống chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân. Trong xã hội Việt nam, khi mà việc cha mẹ chỉ bảo con cái về quan hệ yêu đương, và việc giảng dạy trên học đường về hôn nhân, gia đình, còn có phần nào hạn chế, thì giới trẻ tự trang bị cho mình kiến thức về lĩnh vực đó qua nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, xem phim ảnh, tạp chí về yêu đương và gia đình, và cả các trang web về tình dục. Và cũng như ở mọi xã hội, quan điểm của giới trẻ chia thành 3 cấp độ: cho rằng đó là việc không nên làm, bình thường – không phê phán, cũng không hùa theo, và cuối cùng là có cái nhìn thoáng. Ngay ở điểm cuối cùng này cũng phức tạp hơn chúng ta nghĩ. Cái nhìn thoáng có thể là do bạn trẻ tò mò, hoặc thả mình theo kiểu thích “sống thử”, để sau này khỏi phải bị nhầm khi sống thật. Cũng có thể xuất phát từ sự nhận thức khá chín chắn. Chẳng hạn như một số sinh viên cho rằng, “sống chung là một cách thử nghiệm hội nhập vợ chồng, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ của nhau, cùng quyết định chi tiêu, cùng nhượng bộ chấp nhận lẫn nhau và bày tỏ mong muốn của mình, quan hệ tình dục, vân vân, khi mà trinh tiết người con gái không phải là cái gì giữ ngọc gìn vàng" [theo tamlyhoc.net]. Thật sự, nếu với ý nghĩa như thế thì "sống thử" không hẳn là đáng chê trách mà còn có các khía cạnh tốt. Và tình dục ở đây chỉ là một điểm, dù là rất quan trọng, nhưng không phải là tất cả của việc sống thử. Điều này càng có ý nghĩa hơn, nếu ta nhìn nhận được rằng đó là một hành động có ý thức, bao hàm cả việc giữ gìn cái vô giá của tình yêu – sự hy sinh, và sự tự chủ bản thân, chứ không phải là một sự thỏa mãn, lợi dụng nhau về xác thịt hay tiền bạc.

Continue reading

TÁC QUYỀN ÂM NHẠC: VẪN BỊ LỜ ĐI!

NHỊ HÀ

Sự “vô tư”, “vô tâm” của không ít người đang làm giàu từ kinh doanh âm nhạc đã khiến các nhạc sĩ phải gánh chịu nhiều nỗi ngậm ngùi… Nhạc sĩ Phó Đức Phương – Giám đốc Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), có lần đã phải ngậm ngùi chia sẻ với chúng tôi: “Chỉ có gỗ đá mới vô tri trước việc làm vạn bất đắc dĩ (đòi tác quyền- PV) của những người đã sản sinh ra những ca khúc bất hủ, ngân nga suốt thế kỷ qua tại Việt Nam”.

Đại gia cũng không “chơi đẹp”

Lẽ ra, theo thông lệ quốc tế, các tổ chức sử dụng tác phẩm âm nhạc phải trích 3-15% tổng kinh phí đầu tư và doanh thu quảng cáo để lập quỹ nhuận bút cho các tác giả và việc trả tác quyền cho nhạc sĩ được tính theo tần suất sử dụng tác phẩm. Quyền tác giả phải được bảo vệ tới 50 năm sau khi tác giả mất (dự thảo Luật sửa đổi sắp trình Quốc hội còn quy định thời hạn này lên tới 75 năm) ở mọi lĩnh vực sử dụng tác phẩm với mục đích kinh doanh. Nhưng để có được sự công bằng đó, còn phải tranh đấu dài dài!

Mấy năm trước, không chỉ một số đơn vị sản xuất, phát hành băng đĩa nhạc ở TPHCM bị phát hiện “chỉ trả tác quyền cho một số tác giả quen biết, còn các tác giả khác khi nào đòi mới được trả tác quyền, còn không đòi thì lờ đi”; mà nhiều “đại gia” truyền thông cũng bị phản ứng. Mức chi trả tác quyền cho từng thể loại tác phẩm âm nhạc (bao gồm nhạc có lời và nhạc không lời) cũng hết sức tùy tiện. Lần đầu tiên 371 nhạc sĩ sau một thời gian dài chỉ được nhận những đồng tiền tác quyền có tính tượng trưng, an ủi đã phải đồng loạt lên tiếng về tình trạng “thanh toán nhỏ giọt” tiền tác quyền âm nhạc trong bối cảnh mỗi năm hàng trăm chương trình ca nhạc lớn nhỏ được lên sóng phát đi phát lại. “Luật pháp Việt Nam cũng như quốc tế đã có quy định rõ ràng về vấn đề tác quyền, chúng tôi chỉ làm đúng theo chủ trương và mong muốn sức lao động của mình được tôn trọng”, nhạc sĩ Huy Thục bày tỏ.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DO SÚC VẬT GÂY THIỆT HẠI: TRÂU ĐIÊN HÚC 6 NGƯỜI BỊ THƯƠNG

HOÀNG ANH

Một con trâu điên chưa rõ chủ đã bất ngờ lồng lên húc làm nhiều người bị thương nặng…

Con trâu điên lồng lên lúc 8 giờ sáng ngày 17/3 đã húc phải bà Lữ Thị Phương, trú tại thôn Phước Lơi, xã Tam Tiến, huyện Núi Thành (Quảng Nam) làm bà bị thương nặng, được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa TP. Tam Kỳ

Sau khi bà Phương bị trâu húc bị thương nặng, nhiều người dân chứng kiến đã truy đuổi con trâu điên.

Ngay liền sau đó, con trâu điên đã húc 5 người trong thôn đang trên đường ra đồng gồm bà Nguyễn Thị Hằng, anh Nguyễn Văn Hướng, chị Lê Thị Lệ, chị Phạm Thị Mùi, anh Nguyễn Văn Luận bị thương nặng. Tuy nhiên, 5 người này không bị nguy hiểm đến tính mạng.

Sau khi húc 6 người bị thương, con trâu điên đã chạy vào địa phận xã Tam Hoà, huyện Núi Thành.

Lực lượng công an, xã đội xã Tam Tiến truy đuổi, nhưng không dám bắn con trâu vì sợ đạn lạc gây thương tích cho người dân.

Khi con trâu điên chạy vào đến địa phận xã Tam Hoà đã bị những người dân tại đây dùng dây thừng gài bẫy bắt được.

Ngay sau khi bắt được con trâu điên gây thương tích cho nhiều người, UBND xã Tam Tiến đã bàn giao con trâu điên cho xã Tam Hoà đưa đi tiêu huỷ.

Chủ tịch UBND huyện Núi Thành Nguyễn Văn Tiến cho biết, ngay sau khi con trâu điên bị người dân Tam Hoà chăng dây bắt được vào khoảng 10 giờ sáng, huyện đã báo cho ngành thú y đến lập biên bản và cho tiêu huỷ.

Được biết, sau khi vụ việc xảy ra, con trâu điên này không có người nhận làm chủ.

SOURCE: VIETNAMNET

Trích dẫn từ: http://vietnamnet.vn/xahoi/2009/03/836559/

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN

NGUYỄN CÔNG LONG – Phó Vụ trưởng Vụ tư pháp, Văn phòng quốc hội

Thi hành án (THA) là hoạt động có khả năng gây thiệt hại tương đối phổ biến. Trong quá trình tổ chức THA, việc áp dụng các quyết định cũng như thực hiện hành vi của người có thẩm quyền đều có nguy cơ gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, các quy định về giải quyết bồi thường thiệt hại do cơ quan nhà nước nói chung, trong đó có thiệt hại do cơ quan THA gây ra đã bộc lộ nhiều bất cập. Việc ban hành Luật Bồi thường nhà nước (BTNN) nhằm giải quyết thực trạng này là cần thiết. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu mong muốn, thì nhiều nội dung của dự thảo Luật, trong đó có các quy định về BTNN trong lĩnh vực THA cần được cân nhắc thêm.

1. Pháp luật hiện hành về bồi thường nhà nước trong thi hành án

1.1. Bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chấp hành viên trong hoạt động thi hành án dân sự (THADS) được hình thành trên cơ sở Pháp lệnh THADS năm 1989. Trong Pháp lệnh không quy định trực tiếp vấn đề này, nhưng Điều 18 của Quy chế chấp hành viên được ban hành kèm theo Nghị định số 68-HĐBT ngày 06/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có nêu: chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, vi phạm phẩm chất đạo đức, thì bị xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, miễn nhiệm, buộc thôi việc, chịu trách nhiệm về vật chất) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại các Pháp lệnh THADS năm 1993 và 2004, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chấp hành viên tiếp tục được cụ thể hóa. Theo Điều 14, Điều 47 của PLTHADS năm 1993, chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, trì hoãn việc THA, áp dụng biện pháp cưỡng chế THA trái pháp luật; vi phạm phẩm chất đạo đức của người chấp hành viên, thì bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Khoản 4, Điều 67 của PLTHADS năm 2004 cũng quy định, thủ trưởng cơ quan THA cố ý không ra quyết định THA hoặc ra các quyết định về THA trái pháp luật; chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, áp dụng biện pháp cưỡng chế THA trái pháp luật, vi phạm quy chế chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Như vậy, theo các văn bản pháp luật này, trong THADS chưa xác định chế độ trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước gây thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan THADS gây ra được cá thể hóa thành trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền trực tiếp gây ra thiệt hại. Về phạm vi, trách nhiệm bồi thường phát sinh trên cơ sở các sai phạm của cá nhân chấp hành viên trong trình tự, thủ tục THA và cả các vi phạm về phẩm chất, đạo đức mà thực tế các sai phạm đó gây ra thiệt hại.

Continue reading

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN BAN HÀNH 11 THÁNG 01 NĂM 1994, CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 13/01/1994

(Bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003; bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Điều 2

Trong Luật các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người tiêu dùng” là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng.

2. “Doanh nghiệp kinh doanh” là những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hoá, hoặc cung cấp dịch vụ.

3. “Quan hệ tiêu dùng” là quan hệ pháp lý phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh trong trong quá trình mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.

4. “Tranh chấp trong tiêu dùng” là tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh.

5. “Vụ kiện trong tiêu dùng” là việc kiện tụng phát sinh do tranh chấp trong tiêu dùng được khởi kiện tại Tòa án.

6. “Nhóm bảo vệ người tiêu dùng” là nhóm người đại diện hợp pháp hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng được thành lập phù hợp với các quy định pháp luật.

7. “Điều khoản hàng loạt của Hợp đồng” là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn. Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác.

Continue reading

CĂNG THẲNG BIỂN ĐÔNG VÀ LỰA CHỌN CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN TRỌNG BÌNH

Căng thẳng biển Đông

Trong những ngày gần đây việc tranh chấp tại vùng biển Ðông và những quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại trở nên một đề tài nóng. Tàu không vũ trang Impeccable của Mỹ chạm trán với hải quân Trung Quốc và nay Mỹ phải điều động hạm đội đến vùng biển; Tổng thống Philippinnes vừa ban hành luật lãnh hải tuyên bố chủ quyền trên nhóm đảo Scarborough và Trung Quốc tổ chức các chuyến du lịch trên đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm toàn bộ quần đảo từ năm 1974 từ Việt Nam.

Hiện nay, trong ngôn ngữ gặp trên một số báo chí văn thư hay có thói quen gọi khu vực biển có tranh chấp ở Đông Nam Á là “biển Nam Trung Hoa” (South China Sea hay La Mer de Chine du Sud), có lẽ vì Trung Quốc được lấy làm vị trí chuẩn, chứ không mang ý nghĩa công pháp quốc tế là biển này thuộc Trung Quốc.

Vì vậy, Việt Nam đã gọi biển này là biển Đông cũng có ý nghĩa lấy Việt Nam làm vị trí chuẩn và biển này là cửa ngõ chính của Việt Nam nhìn ra biển lớn.
Biển Đông không những là nơi có nhiều nguồn tài nguyên về mỏ năng lượng (như dầu mỏ) mà còn cung cấp nguồn hải sản cho các nước quanh vùng.
Hơn thế nữa, biển Ðông còn là hành lang của các hải thuyền quốc tế qua lại tấp nập từ vùng biển Ấn Độ Dương lên Ðông Bắc châu Á.

Cho đến gần đây, theo luật và theo thông lệ quốc tế, các nước quanh vùng biển này được coi như có chủ quyền lãnh hải như vẽ trong bản đồ (lằn xanh) và khu hải phận quốc tế tàu bè vẫn được tự do qua lại. Tuy nhiên gần đây Trung Quốc công bố bản đồ chủ quyền là vùng lãnh hải hầu như độc quyền chiếm hết đảo và biển của vùng này (xem bản đồ, lằn đỏ) .

image

Lập trường các bên

Continue reading