CẤM TRẺ ĐỂ RĂN NGƯỜI LỚN: BÀI HỌC VỀ CÁCH LÀM LUẬT

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cấm bán rượu, thuốc lá cho người chưa thành niên là biện pháp mà nhà lập pháp ở Pháp quyết định áp dụng trong các nỗ lực xây dựng (hay phục hồi) hình ảnh giới trẻ Pháp khoẻ mạnh, trong sáng

Với lệnh cấm này, những người bán rượu, thuốc lá từ nay phải cảnh giác khi đứng trước một khách hàng trẻ tuổi: tốt nhất là kiểm tra chứng minh thư để xem khách có đủ năng lực để mua những thứ cấm kỵ đó hay không, trước khi tiến hành giao dịch. Nhà chức trách, về phần mình, phải thiết lập một hệ thống kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm phát hiện vi phạm. Có vẻ như bảo đảm tính hữu hiệu của lệnh cấm này sẽ là chuyện rất tốn kém và không đơn giản.

Thực ra, người ta không hề ảo tưởng về việc cách ly tuyệt đối thiếu niên, nhi đồng với những chất kích thích độc hại ấy chỉ bằng một lệnh cấm. Vả lại, luật cấm mua bán đối với người chưa thành niên, nhưng không cấm người này tiêu dùng. Nói khác đi, miễn là không tự mình đi mua, trẻ em, thiếu niên, về mặt lý thuyết, vẫn có thể uống rượu, hút thuốc thoải mái, và điều đó hoàn toàn hợp pháp.

Song, không nên vội từ đó kết luận rằng, luật pháp quá sơ hở trong vụ này, và coi chừng, không khéo với lệnh cấm, nhà chức trách chỉ đi làm trò cười cho thiên hạ. Nếu cho rằng, người làm luật nhắm đến mục tiêu ngăn chặn sự cám dỗ của tệ nạn nghiện ngập đối với thế hệ trẻ, thì có thể thấy ngay vấn đề bật ra: trong hoàn cảnh nào, mà người chưa thành niên có khả năng tiếp xúc với rượu, thuốc lá?

Theo các kết quả điều tra trong khuôn khổ đánh giá tác động xã hội của điều luật, đa số những người chưa thành niên ở Pháp sống dưới sự chăm sóc, quản lý của cha mẹ, nói chung, của người thân thuộc đã trưởng thành. Nếu không được phép tự mình mua rượu, thuốc lá, họ hầu như chỉ có thể có được những thứ ấy thông qua vai trò của những người có quyền quản lý đối với mình.

Continue reading

NHÀ Ở VÀ “BÀN TAY NHÀ NƯỚC”

HUY ĐỨC

“Nhà ở xã hội” trở thành tin trang nhất trên các báo ra ngày 15.3.2009. Chương trình được nói là sẽ cung cấp nhà ở cho sinh viên, công nhân và những người có thu nhập thấp. Trước khi một chính sách lớn như vậy có thể “đi vào cuộc sống”, chắc chắn các dữ liệu còn được thu thập và các nhà hoạch định chính sách sẽ phải phân tích nhiều hơn. Bởi, đây là một quyết định không chỉ sử dụng rất nhiều tiền bạc, sẽ tác động xã hội lâu dài mà còn có ý nghĩa “kích cầu” trước mắt

Dự án 200.000 căn hộ thuộc chương trình nhà ở xã hội, nếu được thực hiện, chắc chắn, sẽ có tác động tới thị trường. Ít nhất là ở khía cạnh tiêu thụ một khối lượng sắt, thép, xi măng khổng lồ và thu hút hàng trăm nghìn công nhân xây dựng. Những doanh nghiệp được “chỉ định” thực hiện dự án cũng sẽ là những địa chỉ được hưởng lợi lớn vì họ được quyền quyết định giá bán các căn hộ sao cho đảm bảo cho mình “10% lợi nhuận”. Vấn đề là chưa biết Nhà nước sẽ lấy “đất sạch” từ đâu để giao cho các doanh nghiệp này xây dựng.

Tuy nhiên, “sản phẩm” mới là câu chuyện rất cần được bàn. Cho dù: được miễn tiền sử dụng đất; được phép tăng mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất 1,5 lần; được áp dụng thuế suất VAT là 0%… Giá thành, theo ước tính của bộ Xây dựng, “không quá” 7 triệu đồng/m2, khiến cho giá một căn hộ loại nhỏ nhất, 30m2, cũng lên tới hơn 200 triệu đồng. Trong khi, đối tượng mà chương trình này nhắm đến là “3 triệu sinh viên đại học; 2,5 triệu lao động ở 194 KCN” mà theo bộ Xây dựng, mới “chỉ có khoảng 20% có nhà ở với 2% được ở trong các nhà trọ đàng hoàng…”. Liệu công nhân KCN, có thể mua nhà 200 triệu đồng hay bỏ ra một khoản tiền, nếu tính đủ phải hơn hai triệu đồng/tháng, để thuê nhà xã hội?

Một trong những điều kiện thắng lợi của chính sách kích cầu là phải biết rõ đường đi của từng đồng bạc và tốt nhất là đồng tiền ấy được đưa thẳng tới người tiêu dùng. Nhà ở cho công nhân trong các nhà máy, trong các KCN lẽ ra phải được quan tâm từ lâu và nó, vừa phải nhất quán vừa phải được thể hiện đồng thời trong nhiều chính sách. Không chỉ có người lao động, các “ông chủ” của họ cũng có quyền lợi và sẽ tích cực xây nhà ở cho công nhân nếu: những khoản đầu tư này được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp; được tài trợ lãi suất từ các quỹ tín dụng đầu tư… Không thể nghĩ về căn hộ cho công nhân KCN một cách quan liêu. Công nhân đang phải sống khoảng 10 người trong một căn phòng rất nhỏ.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

NGUYỄN TRẦN BẠT – Chủ tịch/Tổng GĐ INVESTCONSULT GROUP

Những sai lầm trên quy mô hệ thống

Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế. Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế. Tuy nhiên đã có thời không ít người, đặc biệt là các nhà lý luận theo mô hình Xô Viết lên án kinh tế tư nhân và chủ trương xóa bỏ nó. Họ coi kinh tế tư nhân là trở ngại chủ yếu cho việc xây dựng xã hội mới, nhưng thực tế đã minh chứng ngược lại, trong khi Chủ nghĩa Xã hội kiểu Xô Viết sụp đổ thì kinh tế tư nhân lại phát triển không ngừng và càng ngày càng thể hiện ưu thế và sức mạnh to lớn của nó. Hiện tượng lịch sử trên cho thấy kinh tế tư nhân không chỉ liên quan đến sự thành bại của một quốc gia, mà nó còn có tác động rất quan trọng tới tiến trình phát triển của toàn nhân loại.

Nhưng kinh tế tư nhân không chỉ là bài học lịch sử, nghiên cứu về kinh tế tư nhân sẽ không chỉ nhằm giải thích hiện tượng lịch sử quan trọng như sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, mà quan trọng hơn nhận thức được con đường đi tới tương lai.
Thể chế kinh tế quyết định chế độ xã hội hay là sự tuyệt đối hóa vai trò của sở hữu

Vì sao Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết sụp đổ? Đó là câu hỏi lớn cần có lời giải đáp. Ngày nay trong chúng ta có quá nhiều học giả mắc căn bệnh "mặc nhiên thừa nhận". Khi mô hình Liên Xô áp dụng tràn lan, họ coi những vấn đề lý luận của mô hình này như một thứ khuôn vàng thước ngọc để tuân thủ, rập khuôn vô điều kiện, nhưng khi Liên Xô và các nước Đông âu sụp đổ họ né tránh hoặc làm ngơ và cũng "thừa nhận mặc nhiên". Chúng ta cần đi sâu phân tích để thấy được bản chất của sự thật lịch sử này. Những phân tích của chúng ta không nhằm mục đích kết tội hay lên án bất kỳ ai mà điều quan trọng là chúng ta có được một cơ sở lý luận đúng đắn để xử lý những vấn đề mà cuộc sống hiện tại đang đặt ra trước mắt.

Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Liên Xô sụp đổ vì nền kinh tế kế hoạch tập trung của nó đã thất bại trong cạnh tranh với nền kinh tế thị trường. Cần thấy rằng nền kinh tế kế hoạch như một toà lâu đài được xây dựng trên nền móng là thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa, cụ thể là chế độ sở hữu nhà nước và chế độ sở hữu tập thể. Chính đây mới là nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm cho kinh tế Xã hội chủ nghĩa không năng động và kém hiệu quả Thậm chí hy vọng về sự bình đẳng cho con người thông qua hình thức "phân phối theo lao động" do chế độ công hữu tạo ra cũng chỉ là ảo tưởng. Trên thực tế phương thức phân phối theo lao động bị bóp méo và hoàn toàn không có khả năng kích thích trở lại sản xuất.

Continue reading

TRANH CHẤP THỪA KẾ: ĐAU VÌ … ĐẤT

HÀ VŨ

Đất đai mang lại hoa thơm quả ngọt cho đời. Đời người sinh ra từ đất, lớn lên trên mặt đất rồi khi chết cũng lại trở về với đất. Nhưng cũng từ đất, đã có biết bao nhiêu tấn bi kịch xảy ra. Trong những tấn bi kịch đầy đau đớn ấy, tất nhiên đất không có tội mà tội lỗi sinh ra từ lòng tham tự trong chính mỗi con người. Một câu chuyện đau lòng vừa xẩy ra ở ngay thủ đô Hà Nội, nguyên do phát sinh cũng từ đất mà hai chị em ruột suýt lâm cảnh "nồi da nấu thịt "…

Phán quyết chưa công bằng…

Theo tìm hiểu của ĐS &PL tại địa phương, thực hiện chính sách giãn dân, năm 1976, HTX nông nghiệp Đại Mỗ đã cấp cho 2 vợ chồng cụ là Nguyễn Văn Sửu và Lê Thị Mứt (ở xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm – Hà Nội) được 351m2 đất ở thuộc thửa 381, 383 tờ bản đồ số 3. Sau đó, vợ chồng cụ Sửu cùng các con đã xây dựng một căn nhà cấp 4. Tiếp theo đó, năm 1986, vợ chồng cụ Sửu đã cho người con trai thứ của mình là ông Nguyễn Gia Sơn đứng tên chủ sử dụng đất trong trích lục bản đồ của UBND xã Đại Mỗ. Từ năm 1992 tới 1997 hai vợ chồng cụ Sửu mất đột ngột nên không để lại di chúc. Tuy nhiên, để ổn định cuộc sống và mảnh đất của cha mẹ để lại, năm 2005, vợ chồng ông Sơn làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng đăng ký đất đai xã Đại Mỗ đã tổ chức xét duyệt và ngày 19.5.2005, mảnh đất trên được UBND huyện Từ Liêm chính thức cấp sổ đỏ mang tên bà Nguyễn Thị Bảo (vợ ông Sơn).

Tuy nhiên, theo ông Sơn trình bày thì cuộc sống của gia đình đang bình yên, bất ngờ tháng 5.2007, không hiểu lý do gì bà Nguyễn Thị Tài (chị gái ruột của ông Sơn), đã đâm đơn khởi kiện em trai mình và yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà và mảnh đất trên của ông Sơn.

Theo bản án sơ thẩm số 30/2007/DS-ST ngày 28.9.2007 của TAND huyện Từ Liêm, HĐXX chấp nhận "tuốt tuột" hầu hết yêu cầu của bà Tài. Tòa sơ thẩm còn nhận định bà Bảo đã tự ý kê khai cấp "sổ đỏ" và cho rằng việc bà Bảo làm "sổ đỏ" bà Tài không biết (?). Phán quyết cuối cùng của Tòa là nhà đất có diện tích 351m2 thuộc thửa 16, tờ bản đồ 6 tại thôn Chợ là tài sản chung của vợ chồng cụ Sửu nên phải chia đều cho 6 người con, trong đó có bà Tài và ông Sơn, mỗi kỷ phần là 43, 8m2. Ngoài ra ngôi nhà cấp 4 cũng là tài sản chung (trị giá khoảng 27, 5 triệu đồng) cũng được chia làm 6 phần.

Continue reading

VI PHẠM CHÍNH SÁCH DÂN SỐ: CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÓ THỂ BỊ THUỘC THÔI VIỆC

QUẾ NGÂN

Sau một thời gian ngắn chúng ta lơi là với các biện pháp xử lý vi phạm Pháp lệnh Dân số, năm 2008 đã có gần 140.000 trường hợp sinh con thứ ba. Đó là số liệu thống kê chưa đầy đủ. Số tỉnh có số sinh con thứ ba tăng nhiều hơn so với những năm trước, điển hình là Sơn La tăng 57,7%, Bắc Ninh tăng 14,1%…

Hiện nay đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ tập trung ở những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa, gia đình có con một bề mà đã xuất hiện ở một bộ phận của những gia đình khá giả làm nghề tự do và cả cán bộ công chức, viên chức, đảng viên. Để giảm thiểu gia tăng dân số, Pháp lệnh Dân số sửa đổi vừa được ban hành, hy vọng sẽ kiên quyết xử lý được các vi phạm. Cùng với Pháp lệnh, hiện nay, Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình, Bộ Y tế đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định Quy định việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách dân số.

Số đảng viên, cán bộ công chức sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều nhưng không được xem xét xử lý nghiêm nên đang ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Sự tăng dân số nhanh đã ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Việc bùng nổ sinh con thứ 3, nhìn nhận ở nhiều góc độ, chúng ta phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Dân số vẫn còn những kẽ hở để nhiều cặp vợ chồng, thậm chí là công chức lợi dụng lách luật. Từ đầu năm 2009 đến nay, dù Pháp lệnh Dân số sửa đổi có hiệu lực nhưng tại một số tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng sinh con thứ 3 vẫn diễn ra khá phổ biến. ở Hậu Giang mới chỉ 3 tháng đầu năm đã có hơn 360 trường hợp cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3. Tại Tiền Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau cũng xảy ra tình trạng này nhưng với số lượng ít hơn.

Tiến sỹ Dương Quốc Trọng – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình – Bộ Y tế cho biết: Việc sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số đã thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong cuộc vận động dân số, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản. Bởi một em bé được sinh ra sẽ kéo theo một loạt vấn đề về an sinh xã hội, đất đai, dịch vụ y tế, giáo dục, cơ hội việc làm… Có thể đối với một gia đình cụ thể, khá giả điều đó là bình thường nhưng sự bình thường đó không thể nhìn nhận ở góc độ nhà quản lý xã hội được.

Continue reading

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC

LÊ VĂN HẢO – Đại học Nha Trang

Phát triển tài chính đại học là một trong các vấn đề chủ yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục đại học nào trên thế giới trong quá trình chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng. Bài viết này nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu trên thế giới về các xu thế chung của giáo dục đại học và các mô hình phát triển tài chính đại học, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một vài đề xuất có liên quan đến việc phát triển nguồn tài chính đại học của Việt Nam.

I. MƯỜI XU THẾ CHUNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Mười xu thế chung của giáo dục đại học được trình bày dưới đây được tổng hợp bởi một nhóm chuyên gia quốc tế cao cấp về giáo dục đại học (Michael & Kretovics, 2005):
1. Nhu cầu học tập ở đại học không ngừng gia tăng (Greater Participation)

Số người có nhu cầu học tập ở đại học không ngừng gia tăng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự gia tăng này không chỉ do sự gia tăng cơ học của dân số ở mỗi quốc gia mà còn thể hiện nhu cầu được hiểu biết, được tiếp cận những công việc mang lại thu nhập tốt hơn trong thời đại nền kinh tế tri thức đang ngày càng chiếm lĩnh ưu thế.

2. Hệ thống trường học ngày càng phát triển (Greater Institutional Diversification)

Đi đôi với sự gia tăng số trường đại học là sự xuất hiện ngày càng nhiều các trường đào tạo chuyên ngành, chẳng hạn các trường đại học kỹ thuật, kinh tế, y khoa, … Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận giáo dục đại học, nhiều quốc gia đã quan tâm phát triển hệ thống các trường cao đẳng/đại học cộng đồng, các hình thức đào tạo tại chức/từ xa/qua mạng.

3. Đối tượng người học ngày càng đa dạng (Greater Student Diversity)

Cùng với sự gia tăng số người học đại học là sự phát triển của đối tượng người học không/phi chính quy, từ các quốc gia khác đến, từ các cộng đồng thiểu số, và từ các tầng lớp xã hội khác nhau. Ở một số quốc gia, tỷ lệ người học là nữ cũng đang tăng lên nhanh chóng.

4. Nguồn tài chính đại học ngày càng phong phú (Greater Diversification of Sources of Funding)

Mặc dù chính phủ là nhà đầu tư chủ yếu cho giáo dục đại học ở hầu hết các quốc gia, ngày càng có nhiều nguồn tài chính khác giúp chia sẻ chi phí này: người học, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội/phi chính phủ trong và ngoài nước, sự tài trợ của quốc tế, … Bản thân các trường đại học cũng đang ngày càng nâng cao khả năng tăng nguồn thu thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ cộng đồng, …

Continue reading

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ TÀI SẢN SAU KHI KÊ BIÊN

LÊ LANH – Thi hành án TP. Tuy Hòa, Phú Yên

Trong hoạt động thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được bản án, quyết định của Toà án ghi nhận. Quyền tự định đoạt cũng như nội dung, phương thức thoả thuận đó của đương sự phải tuân thủ quy định pháp luật và không được trái với đạo đức xã hội hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác.

Chính vì thế, Pháp luật quy định khi bản án, quyết định của Toà án được đưa ra thi hành thì người phải thi hành án phải tự nguyện thi hành. Nếu không tự nguyện thi hành khi có đủ điều kiện thi hành và đã hết thời gian tự nguyện theo quy định tại khoản 3, điều 6 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì đương nhiên phải bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo điều 37 Pháp lệnh.

Trong  sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án, biện pháp kê biên, xử lý tài sản thường được áp dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, giai đoạn  tiến hành kê biên tài sản thường gặp nhiều khó khăn và phức tạp, khi kê biên xong là chiếm tỉ lệ được hơn 50% công đoạn của quá trình kết thúc thi hành án. Nhưng kê biên được rồi ! xử lý tài sản lại là vấn đề phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn, có khi không xử lý được tài sản. Nhất là, trong thời cuộc mà cả thế giới đang gánh chịu sự khủng hoảng tài chính toàn cầu, thì vấn đề xử lý, bán tài sản, (nhà ở, đất đai, tàu thuyền…) rất chậm và không có người mua. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến không xử lý được tài sản sau khi đã hoàn tất giai đoạn kê biên. Xoáy quanh vấn đề này, tác giả bài viết muốn nêu lên một số trường hợp mà trong thực tế thi hành án dân sự gặp phải và rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Có những trường hợp sau khi kê biên nhà ở (tài sản thế chấp Ngân hàng), và tiến hành định giá theo quy định pháp luật và được uỷ quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá để bán, thông bán nhiều lần nhưng không có người nào đến hỏi thăm. Tiếp tục định giá theo hướng giảm giá (Điều 48 pháp lệnh THADS năm 2004) lần 1, lần 2 và tiếp tục uỷ quyền Trung tâm bán đấu giá để bán, vẫn không một lời nào hỏi thăm những ngôi nhà đăng ký bán. Nếu chúng ta, tính toán trị giá tài sản nhà và đất sau khi giảm giá lần 2 so sánh với giá cả thị trường việc  mua đất và vật liệu để xây dựng nên một căn nhà như thế thì không đủ chi phí hoàn thiện ngôi nhà như cũ. Vậy mà không có người mua tài sản đấu giá. Phải chăng? do thời cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến việc mua bán nhà, đất đai và tài sản? hay do thị trường bất động sản đang khựng lại và kéo theo những người có nhu cầu mua không đủ tiền để mua, tuy họ rất muốn được sở hữu một căn nhà đấy… Vì thế, kê biên  được tài sản chỉ là một giai đoạn ban đầu, xử lý tài sản mới là quan trọng, bởi nó chấm dứt được giai đoạn cuối của quá trình thi hành án dân sự và đi đến kết thúc một vụ việc thi hành án.

Continue reading

THỦ TỤC GIA NHẬP (UNIDROIT) VÀ QUYỀN LỢI CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC NÀY

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, bộ Tư pháp

Tiếp theo 02 bài đã đăng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) cũng như chính sách và thành tựu lập pháp của Viện, chúng tôi xin giới thiệu bài thứ 3, trình bày thủ tục gia nhập UNIDROIT và phân tích quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên tổ chức này. Hy vọng những ý kiến của tác giả sẽ phần nào được các cơ quan có liên quan của Việt Nam cân nhắc, tham khảo trong quá trình nghiên cứu gia nhập các tổ chức quốc tế về pháp luật và tư pháp, trong đó có Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư.

1. Thủ tục gia nhập UNIDROIT:

Thủ tục gia nhập UNIDROIT được quy định tại Điều 20 của Điều lệ của tổ chức này, cụ thể là:

– Quốc gia muốn gia nhập UNIDROIT phải gửi một thông báo bằng văn bản tới Chính phủ Italia về việc gia nhập của mình;

– Việc gia nhập có hiệu lực 06 năm và đương nhiên được kéo dài thêm một thời hạn là 6 năm nữa, nếu không có tuyên bố bãi ước bằng văn bản ít nhất một năm trước ngày gia hạn thời hạn mới.

– Thông báo gia nhập và thông báo bãi ước phải được Chính phủ Italia thông báo tới Chính phủ các nước thành viên.

2. Quyền lợi của nước thành viên UNIDROIT:

Được tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình làm việc của UNIDROIT;

– Được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế.

– Các nước thành viên được chỉ định một thư viện trong nước và thư viện này được nhận mọi ấn phẩm của UNDROIT.

3. Quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên UNIDROIT

Việc gia nhập UNIDROIT sẽ mang lại thuận lợi cho nước ta ở 3 phương diện sau:

– Với tư cách là một nước thành viên, chúng ta được quyền tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình, Kế hoạch làm việc lâu dài và hàng năm của UNIDROIT. Cụ thể, chúng ta có thể chủ động đưa những nhu cầu nghiên cứu, nhu cầu về thống nhất và hài hoà hoá pháp luật tư vào Chương trình làm việc của UNIDROIT. Bên cạnh đó, với quyền được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế, chúng ta có thể chủ động thể hiện các quan điểm của Việt Nam vào Dự thảo các Công ước quốc tế do UNIDROIT chuẩn bị.

Continue reading