MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÍ THI HÀNH ÁN

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế

Phí thi hành án là khoản thu nhằm bổ sung một phần cho ngân sách nhà nước, nâng cao trách nhiệm của người được thi hành án, tạo động lực để các bên cẩn thận hơn trong các giao dịch dân sự, khuyến khích các bên nỗ lực hoà giải, thoả thuận với nhau để tự nguyện thi hành án và đồng thời cũng là để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay.

Chính vì vậy, tại Điều 20 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (PLTHADS) quy định: “Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án đối với khoản thi hành án có giá ngạch trên giá trị tài sản mà người đó thực nhận”.

Cụ thể hoá quy định trên, Thông tư 68/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 21 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ (thay thế Thông tư 43/2006/TTLT-BTC-BTP ngày 19/5/2006) đã quy định chi tiết chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số quy định trong Thông tư 68 cần phải được sửa đổi hoặc bãi bỏ.

Thứ nhất, việc ban hành quyết định thu phí thi hành án.

Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 mục II Thông tư 68 thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án là người có thẩm quyền ra quyết định thu phí thi hành án. Đối với vụ việc phải thu phí thi hành án nhiều lần thì mỗi lần thu phí Thủ trưởng Cơ quan thi hành án ra một quyết định thu phí thi hành án.

Khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án chưa phải nộp phí thi hành án. Cơ quan thu phí chỉ được thu phí thi hành án khi chi trả tiền hoặc tài sản được thi hành án cho người được thi hành án.

Trên cơ sở đó, Quyết định số 07/2007/QĐ-BTP ngày 12/7/2007 của Bộ Tư pháp về việc ban hành quy định về Biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án thì Quyết định thu phí (Biểu mẫu số 33) được ban hành căn cứ vào phiếu chi tiền hoặc biên bản giao nhận tài sản cho người được thi hành án.

Continue reading

MỘT SỐ VỤ VIỆC CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH DO CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH XỬ LÝ

Công ty Glaxo Group Limited khiếu nại về chỉ dẫn gây nhầm lẫn của Công ty Vidipha

Thời gian: Tháng 01-03/2006

Nội dung: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng giữa sản phẩm

Zinnat của Glaxo và Zaniat của Vidipha.

Hành vi: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Xử lý: Điều tra sơ bộ

Kết quả: Đình chỉ điều tra sơ bộ theo Quyết định số 19/QĐ-QLCT ngày 29/03/2007

 

Vụ việc khiếu nại về khẩu hiệu kinh doanh của Công ty Syngenta

Thời gian: Tháng 8-9/2007

Nội dung: Văn phòng Luật sư Investconsult đại diện Công ty Syngenta khiếu nại Công

ty An Nông sử dụng trái phép khẩu hiệu kinh doanh “Be bồ chứa lúa”

Hành vi: Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Xử lý: Trả lại hồ sơ

Kết quả: Trả lại hồ sơ khiếu nại do Bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ trong thời hạn quy định

 

Vụ việc Công ty CP Liên kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

Thời gian: Tháng 8-11/2007

Nội dung: Chi cục QLTT Hà Nội chuyển hồ sơ và biên bản ghi nhận Công ty CP Liên

kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

Hành vi: Bán hàng đa cấp bất chính

Xử lý: Điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh

Kết quả: Quyết định phạt tiền 85 triệu đồng

 

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ THEO HỢP ĐỒNG: PHIM ĐÁM CƯỚI BỊ HƯ, MỆT MỎI ĐÒI BỒI THƯỜNG

QUỐC VIỆT

Khi khách hàng khiếu nại, nhà hàng tổ chức tiệc cưới chỉ “ậm ừ” rồi treo luôn hai tháng nay. Anh Lê Văn Dương (phường Phú Trung, quận Tân Phú, TP.HCM) cho biết: Ngày 15-1-2009, anh đặt tiệc cưới tại nhà hàng Pacific Đầm Sen (phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú). Theo hợp đồng, nhà hàng đảm nhận luôn khâu chụp ảnh, quay phim tiệc cưới. Xong tiệc cưới, anh Dương đã thanh toán tiền đầy đủ. Nhưng…

Đĩa sọc ngang, sọc dọc

Lúc nhận đĩa DVD tiệc cưới, vợ chồng anh Dương bật lên xem rồi méo mặt bởi hình ảnh bị dị dạng, lằn sọc, lằn ngang giữa màn hình. Nguyên nhân đĩa bị lỗi, không thể xem được. Mặc dù anh Dương nhiều lần liên hệ, yêu cầu khắc phục sự cố nhưng phía nhà hàng Pacific Đầm Sen chỉ ậm ừ rồi “treo” luôn cho đến nay.

Đến khi anh Dương gửi đơn đến tư pháp, công an phường nhờ can thiệp thì quản lý nhà hàng hứa sẽ trả lại chi phí quay phim trong hợp đồng là một triệu đồng. “Sự cố rủi ro không ai muốn, chúng tôi cũng không thể tổ chức cưới lần nữa nhưng phía nhà hàng quá xem thường khách, không thèm một lời xin lỗi, không giải quyết mà cứ đùn đẩy trách nhiệm…” – anh Dương bức xúc.

Trao đổi với phóng viên, ông Ngô Duy Hiếu, Giám đốc nhà hàng Pacific Đầm Sen, cho biết: “Trong hợp đồng tiệc cưới tại nhà hàng, anh Dương có yêu cầu quay phim. Tuy nhiên sau đó phim bị lỗi, không khắc phục được. Nếu anh Dương có khiếu nại đòi trả lại khoản tiền trên, chúng tôi sẵn sàng trả lại để giữ uy tín cho nhà hàng. Sở dĩ chúng tôi chậm trả lại tiền cho anh là do cô quản lý đã nghỉ việc, còn nhân viên quản lý mới cho rằng đây là trách nhiệm của quản lý cũ (?)… Trong khi đó, cô Ngọc, nhân viên quản lý cũ của nhà hàng Pacific Đầm Sen, lại nói: “Mọi khoản hợp đồng trong tiệc cưới do quản lý đứng ra tổ chức, chịu trách nhiệm và số tiền thanh toán hợp đồng quản lý đều nộp cho kế toán nhà hàng. Trong trường hợp này, theo tôi, ban giám đốc, cụ thể là ông Hiếu phải chịu trách nhiệm giải quyết cho khách hàng”.

Continue reading

NÂNG CAO VÀI TRÒ DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT KINH DOANH

HỒ HƯỜNG – THỦY NGUYÊN – NAM PHƯƠNG – BÍCH NGỌC

Doanh nghiệp có quyền được tham vấn khi cơ quan nhà nước tiến hành hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh đã được thể chế hóa trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, vai trò góp ý, xây dựng chính sách pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

Để tăng cường năng lực góp ý xây dựng pháp luật của doanh nghiệp, được sự hỗ trợ của Star Việt Nam và Quỹ GE, sáng nay (24/3/2009) VCCI tổ chức Hội thảo “Nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật kinh doanh”. Thông qua kinh nghiệm tham vấn chính sách của VCCI và kinh nghiệm quốc tế, hội thảo sẽ trang bị thông tin về quyền của doanh nghiệp và những công cụ, kỹ năng cần thiết cho doanh nghiệp, hiệp hội trong quá trình góp ý hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật.

Đến tham dự buổi hội thảo sáng nay có đại diện của các vị lãnh đạo, các Hiệp hội doanh nghiệp và đông đảo các doanh nghiệp…

Phát biểu khai mạc, TS Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, buổi hội thảo hôm nay sẽ bàn về vấn đề tham gia của các doanh nghiệp và Hiệp hội doanh nghiệp vào quá trình xây dựng các chính sách do VCCI tiến hành lấy ý kiến tham vấn. Đây là buổi trao đổi kinh nghiệm, tăng cường giao lưu hợp tác của các doanh nghiệp.

Để phát huy hiệu quả công tác tham vấn, theo TS Vũ Tiến Lộc, cần phải đề cao năng lực và tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp với VCCI và giữa VCCI với các Cơ quan chính phủ, với Quốc hội. Từ đó nhằm nâng cao vai trò của các doanh nghiệp và đưa tiếng nói của doanh nghiệp tới được với các Cơ quan của chính phủ. Do đó, cần tập trung vào vấn đề nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật kinh doanh.

Tiếp theo phát biểu của TS Vũ Tiến Lộc, ông Trần Hữu Huỳnh – Trưởng Ban Pháp chế VCCI đã điểm qua một vài vấn đề trong quá trình xây dựng – thi hành pháp luật và vai trò của VCCI. Theo ông Huỳnh, quá trình này bao gồm 4 nội dung: Quá trình xây dựng và góp ý Dự thảo; Ban hành văn bản QPPL và Phổ biến PL; Bản án và Bình luận bản án; Thi hành và Giải quyết vướng mắc doanh nghiệp; Thi hành và Kiến nghị xây dựng pháp luật.

Continue reading

MỘT SỐ SỰ KIỆN LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG NĂM 2008

THU TRANG

m 2008 là m c doanh nghiệp đã phải trải qua giai đoạn khó khăn nhất trong suốt một thập kỷ phát triển tương đối ổn định kể từ cuộc khủng hoảng khu vực năm 1997. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn đó, nhiều chiến lược kinh doanh có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh đã xuất hiện và có nguy cơ trở thành một xu hướng nếu không kịp thời chấn chỉnh. Trong khuôn khổ bài viết này, “Cạnh tranh và Người tiêu dùng” xin đưa ra 2 sự kiện điển hình về một số chiến lược kinh doanh nói trên nhằm giúp các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng nhận diện một số hành vi phản cạnh tranh và định hình chiến lược kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật.

Vinapco đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu cho JPA

Ngày 01/4/2008, các hành khách của Hãng hàng không Jetsrar Pacific Airlines (JPA) không khỏi ngạc nhiên và bức xúc khi nhận được thông báo tất cả các chuyến bay nội địa của Hãng đều không thể cất cánh được

theo lịch bay do Công ty xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco), nhà cung cấp nhiên liệu hàng không cho JPA, đã đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu cho các chuyến bay của JPA từ 0 giờ ngày 01/4/2008. Các chuyến bay của JPA được cất cánh trở lại chỉ sau khi Bộ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải chỉ đạo yêu cầu Vinapco cung cấp lại nhiên liệu cho JPA.

Nguyên nhân của sự việc này là do JPA và Vinapco đã không đạt được sự thống nhất về việc tăng mức phí dịch vụ cung cấp nhiên liệu hàng không mới do phía Vinapco đưa ra. Trước thời điểm diễn ra sự việc nêu trên, Vinapco và JPA đang thực hiện hợp đồng mua bán xăng dầu và cung

cấp dịch vụ tra nạp nhiên liệu hàng không năm 2008 ký giữa hai bên, theo đó mức phí tra nạp nhiên liệu hàng không là 593.000 đồng/tấn (năm 2007 là 565.000 đồng/tấn). Sau một thời gian thực hiện hợp đồng, đến giữa tháng 3/2008, Vinapco gửi công văn cho JPA đề nghị tăng mức phí nạp xăng dầu lên 750.000 đồng/tấn kể từ ngày 01/4/2008. Trong các thương lượng về mức phí mới với Vinapco, JPA yêu cầu Vinapco phải đối xử công bằng giữa JPA và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) và JPA chỉ có thể chấp nhận mức giá mới nếu mức giá đó cũng áp dụng đối với VNA. Trong khi hai bên chưa đạt được sự thống nhất, ngày 01/4/2008, Vinapco đã đột ngột ngừng cung cấp nhiên liệu cho JPA.

Continue reading

VIỆN QUỐC TẾ VỀ NHẤT THỂ HÓA LUẬT TƯ (UNIDROIT): CHÍNH SÁCH VÀ THÀNH TỰU LẬP PHÁP

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tiếp theo bài đã đăng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT), chúng tôi xin giới thiệu bài thứ hai về chính sách và thành tựu lập pháp của Tổ chức này. UNIDROIT, trong lịch sử 61 năm tồn tại và phát triển của mình , với chức năng là một thiết chế nghiên cứu và thực hiện các hoạt động hiện đại hoá, hài hoà hoá pháp luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốc gia, đã soạn thảo và trình Hội nghị Ngoại giao thông qua khá nhiều Công ước quốc tế và Luật mẫu trong lĩnh vực thương mại.

Thành tựu lập pháp của UNIDROIT đã được không chỉ các quốc gia thành viên, mà còn rất nhiều nước khác chưa gia nhập Tổ chức này (trong đó có Việt Nam) quan tâm và áp dụng.

Tính chất của các văn bản pháp luật do UNIDROIT soạn thảo

Mục đích chính của UNIDROIT là chuẩn bị các quy định hiện đại, thống nhất, hài hoà, của luật tư theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, khái niệm “luật tư” ở đây cũng chỉ mang tính tương đối, bởi thực tế công tác lập pháp của UNIDROIT và các tổ chức quốc tế khác, cũng như hoạt động thương mại quốc tế  trên thực tiễn cho thấy cần thiết phải kết hợp giữa công pháp và tư pháp, đặc biệt là trong các lĩnh vực pháp luật mà ranh giới giữa tư pháp và công pháp khó phân biệt, hoặc khi luật tố tụng và luật thực định hoà quyện vào nhau. Các quy tắc thống nhất do UNIDROIT soạn thảo liên quan đến các quy định của luật thực định; các luật này chỉ chứa đựng quy định về xung đột pháp luật một cách ngẫu nhiên. 

Với địa vị độc lập trong số các tổ chức liên chính phủ, UNIDROIT đã lựa chọn cách tiếp cận với lĩnh vực pháp luật đặc thù (luật tư) và phương pháp làm việc riêng. Chính vì vậy, tổ chức này đã trở thành một diễn đàn đặc biệt phù hợp cho việc giải quyết những vấn đề thiên về tính kỹ thuật và ít mang tính chính trị. 

Các yếu tố để xác định lĩnh vực pháp luật cần hài hoà hoá

Công nghệ mới, thực tiễn thương mại v.v… đòi hỏi phải có các giải pháp mới, và khi các giao dịch ngày càng mang tính xuyên quốc gia thì đó phải là các giải pháp mang tính hài hoà và được chấp nhận rộng rãi. Nói chung, công việc hài hoà hoá hoặc nhất thể hoá sẽ phụ thuộc nhiều vào việc các quốc gia có muốn chấp nhận thay đổi pháp luật trong nước của mình cho phù hợp với giải pháp quốc tế mới hay không. Lập luận về pháp lý và các lập luận khác ủng hộ hài hoà hoá đối với một vấn đề cần phải được cân nhắc thận trọng với sự phụ thuộc nói trên. Cần phải có rất nhiều cân nhắc trong quá trình xác định lĩnh vực nào cần phải được điều chỉnh bởi các quy định đã được hài hoà hoá, và liệu có phải việc hài hoà hoá chỉ hạn chế đối với những trường hợp hoặc quan hệ xuyên quốc gia, hay được mở rộng để bao gồm cả các trường hợp hoặc quan hệ thuần tuý quốc tế.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 50/2009/TT – BTC NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Căn cứ Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán như sau
:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định về nguyên tắc, thủ tục tổ chức giao dịch điện tử trong hoạt động giao dịch chứng khoán trực tuyến, hoạt động trao đổi thông tin điện tử liên quan đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

2. Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh bao gồm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK), tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, công ty đại chúng, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian khác lựa chọn giao dịch trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán bằng phương tiện điện tử.

3. Giải thích từ ngữ

3.1. Giao dịch điện tử trong lĩnh vực chứng khoán là các giao dịch trong hoạt động, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện bằng phương tiện điện tử, bao gồm: hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, lưu ký chứng khoán, niêm yết chứng khoán; hoạt động quản lý công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; hoạt động công bố thông tin và các hoạt động khác liên quan đến thị trường chứng khoán theo quy định tại Luật Chứng khoán.

Continue reading

CÔNG NHẬN NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ, SAO KHÔNG?

THỤY CHẤU

Gần đây, các cơ quan công chứng tại TP.HCM rất “khó xử” khi tiếp nhận các yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế do cha mẹ nuôi chết để lại. Đó là những trường hợp đã được nhận làm con nuôi từ trước giải phóng nhưng không lập thủ tục nhận con nuôi.

Công chứng viên bối rối

Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Thanh Sang thuộc một trong số các trường hợp éo le trên. Trước đây, ông được bà X. nhận làm con nuôi. Năm 2002, bà X. mua một căn nhà tại khu Văn Thánh Bắc (phường 25, quận Bình Thạnh) và đến năm 2007 thì bà qua đời.

Sinh thời, bà X. sống độc thân, không chồng con, không anh chị em và chỉ có nghệ sĩ Thanh Sang là người thân duy nhất. Khi nghệ sĩ nộp hồ sơ khai nhận di sản thừa kế, phòng công chứng nọ đã không biết giải quyết sao vì trước đây bà X. không làm thủ tục nhận ông làm con nuôi.

Nghệ sĩ Thanh Sang đã phải xuất trình các bản hộ khẩu có được từ năm 1989 đến thời điểm mẹ nuôi mất, trong đó ghi rõ hai bên là mẹ – con nuôi. Tháng 4-2008, nhiều nghệ sĩ cải lương tài danh (như NSND Thanh Tòng, các NSƯT Thanh Điền, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ…) cùng ký giấy xác nhận bà X. là mẹ nuôi của nghệ sĩ Thanh Sang từ trước giải phóng. Tiếp đó, Sở Văn hóa và Thông tin TP.HCM, UBND phường 25 (quận Bình Thạnh) cũng đóng dấu xác nhận quan hệ mẹ – con nuôi giữa bà X. và nghệ sĩ Thanh Sang.

Ấy vậy, hồ sơ khai nhận nêu trên cũng phải mất hơn một năm trời “loanh quanh” mới được công chứng. Cách đây chừng một tháng, nghệ sĩ Thanh Sang mới có thể thở phào nhẹ nhõm khi được UBND quận Bình Thạnh cấp “giấy hồng” cho căn nhà được thừa kế nêu trên.

Cơ quan cấp giấy băn khoăn

Tương tự, ông Phan M. (phường 17, quận Phú Nhuận) cũng được mẹ nuôi để lại một căn nhà thừa kế. Người mẹ nuôi ấy đã nhận ông làm con nuôi từ năm 1962 nhưng không làm giấy tờ gì. Quan hệ mẹ nuôi – con nuôi của họ chỉ được thể hiện trong sổ hộ khẩu và được bà con chòm xóm ký xác nhận. Nếu việc thừa kế nhà của nghệ sĩ Thanh Sang gặp khó ở giai đoạn đầu (công chứng) thì ông M. lại bị “mắc kẹt” ở giai đoạn sau (cấp “giấy hồng”).

Continue reading