QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỪNG NHƯ… CHA VỚI CON

NGUYÊN TẤN thực hiện

Cả hai trường hợp gần đây: chậm công bố hàm lượng đạm trong sữa và đề xuất tăng thuế nhập khẩu sữa đều là cách quản lý nhà nước không phù hợp. GS.TS. Nguyễn Vân Nam, Giám đốc Công ty Luật Nam Hùng, đã khẳng định như vậy với Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG) khi đề cập đến những tiêu chuẩn cơ bản trong hoạt động quản lý của một nhà nước pháp quyền hiện đại.

GS.TS. Nguyễn Vân Nam hiện là Giám đốc Công ty Luật Nam Hùng tại TPHCM. Ông từng giảng dạy bộ môn luật cạnh tranh và sở hữu trí tuệ tại Đại học Tự Do Tây Berlin và Đại học Humboldt ở Berlin. Bằng tiến sĩ đầu tiên của ông là về luật hành chính công, sau đó vào năm 2000 ông nhận bằng tiến sĩ khoa học về luật tổ chức nhà nước và công pháp quốc tế. Năm 2002, tại Đức, ông được phong hàm giáo sư.

TBKTSG: Nhưng trước hết xin ông cho biết hiểu thế nào là quản lý nhà nước trong một nhà nước pháp quyền? Sở dĩ đặt câu hỏi này là vì dường như ở ta đây vẫn còn là một vấn đề chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo. Thực tế cho thấy việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong nhiều lĩnh vực tỏ ra còn rất lúng túng, thay vì làm cái này lại làm cái khác và ngược lại.

Ông Nguyễn Vân Nam: Một nhà nước pháp quyền hiện đại là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Người dân trao cho nhà nước ấy quyền lực tối cao bao trùm xã hội và có tính cưỡng bức để hoàn thành những nhiệm vụ xác định. Về cơ bản đó là bảo đảm an sinh cộng đồng; giữ gìn an ninh trật tự; bảo đảm các quyền tự do của công dân; bảo đảm và phát triển phúc lợi xã hội; giữ gìn bản sắc dân tộc và hội nhập thành công.

Một trong những chức năng chủ yếu để hoàn thành các nhiệm vụ đó là chức năng quản lý của nhà nước. Bản chất hoạt động quản lý nhà nước là sử dụng quyền lực tối cao có tính cưỡng bức của nhà nước. Do đó, nhà nước pháp quyền không thể và không được phép quản lý xã hội công dân theo cái cách và với vai trò như một người cha quản lý con cái trong gia đình.

TBKTSG: Phải chăng, người cha ở đây là người cha theo tập quán Á Đông, có quyền áp đặt tất cả quyền năng lên con cái tùy theo ý thích của mình?

Continue reading

“LIỆU PHÁP” NÀO CHO HÀNG CHỤC VẠN ÁN DÂN SỰ TỒN ĐỌNG?

BÁ TUẤN – NGUYỄN THÁI

Trên dưới 300.000 vụ tồn đọng trong thi hành án dân sự (THADS) – một con số nhức nhối đến khó tin, tồn tại suốt nhiều năm qua bất chấp sự hô hào, chỉ đạo quyết liệt từ các cơ quan Nhà nước. Luật THADS sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 với nhiều quy định được kỳ vọng sẽ tạo đột phá cho công tác này. Vậy thực trạng, bất cập của công tác THADS hiện nay là gì? Liệu pháp nào để trị những nhức nhối đó…?

Bước sang năm 2009, "hành trang" lớn nhất của lực lượng THA cả nước là hơn 292.000 vụ việc tồn đọng. Con số không chỉ gây nhức nhối cho xã hội, mà đây càng là nỗi ám ảnh của những người tâm huyết đối với công tác này, đặc biệt là lực lượng làm công tác THADS khi mà Bộ Tư pháp đặt chỉ tiêu là phải giảm 10-15% án tồn trong năm 2009. Chỉ tiêu này là rất lớn nếu biết rằng trong nhiều năm trở lại đây lượng vụ việc tồn đọng hầu như vẫn chỉ dao động trong khoảng trên dưới 300.000 vụ, bất chấp mọi loại nỗ lực, quyết tâm.

Tại hội nghị mới đây bàn về công tác THADS, lãnh đạo cơ quan THADS ở tỉnh Bến Tre đã khẳng định luôn là chỉ tiêu giảm án tồn trên sẽ bất khả thi đối với địa phương này. Phản ứng đó đã cho thấy phần nào sự bế tắc của công tác này hiện nay…

Án không thể thi hành, luật pháp "mất thiêng"

Có thể nói, THADS có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng, bởi bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Theo quy trình tố tụng, hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước…

Chính vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành".

Continue reading

GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAYE 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

THS. NGUYỄN BÁ BÌNH – Đại học Luật Hà Nội

Xen lẫn trong những câu chuyện kinh doanh của thời hội nhập, nuôi con nuôi quốc tế (International Adoption) – một nội dung trọng yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài – đang ngày càng trở nên gần gũi với người Việt Nam. Tuy thế, một khuôn khổ pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ được nhận nuôi dường như vẫn còn chưa đủ. Với tính chất quốc tế của loại hình cho và nhận con nuôi này, pháp luật quốc gia Việt Nam – dù đã có một loạt quy định điều chỉnh – cũng khó lòng vươn tới nơi xứ người để chở che cho con trẻ nước mình.

Sự lựa chọn tích cực và đầy hiệu lực cho những vấn đề toàn cầu, trong đó có con nuôi quốc tế chính là ký kết, tham gia những thỏa thuận song và đa phương. Gia nhập Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước Lahaye 1993), đang là một yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.

1. Tính cấp bách của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993

Thực trạng việc cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam

Về mặt lý thuyết, việc nuôi con nuôi quốc tế có thể diễn ra theo hai chiều: thứ nhất, cho người nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; thứ hai, công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Thực tiễn cho thấy, việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phổ biến hơn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tư pháp, chỉ trong 5 năm (từ 1994 -1999) có tới 9.322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi; trong đó số trẻ em làm con nuôi tại Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp (1). Tính trung bình cho đến nay, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi (2) và số trẻ em được nhận mỗi năm một tăng cao. Như vậy, rõ ràng nhu cầu về việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoài là rất lớn và đang tiếp tục phát triển. Xét về nguồn trẻ em, Việt Nam là một đất nước đông dân – với trên 85 triệu người – hiện có tới trên dưới 27% dân số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống)(3), trong đó, số lượng trẻ em ở vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi nương tựa… chiếm một tỉ lệ khá lớn. Nhu cầu về một mái ấm gia đình, về những điều kiện tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần cho những đứa trẻ là rất đáng quan tâm. Vì vậy, việc xem xét để giải quyết cho và nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không chỉ là đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài, mà hơn hết, chính là nhằm góp phần tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Việt Nam.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRƯỚC CƠN BÃO KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY

TRẦN HÙNG DŨNG – Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở Mỹ bắt đầu từ những tháng cuối năm 2007 đã lan rộng thành một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của nó ngày càng sâu rộng đến thị trường bảo hiểm ở Mỹ và toàn thế giới. Trước cơn bão tài chính đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang bị tác động như thế nào, và sẽ phải làm gì để hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của nó?

Những tháng cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bùng phát mạnh mẽ, buộc công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG rơi vào nguy cơ mất khả năng thanh toán trầm trọng. Công ty bảo hiểm nhân thọ Ya-ma-mo-to của Nhật Bản không được cứu nguy cho nên đã phải nộp đơn xin phá sản vào ngày 10-10-2008. Ủy ban Giám sát Bảo hiểm và trợ cấp nghề nghiệp của châu Âu thì vẫn đang sát sao theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thị trường,…

Những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến thị trường bảo hiểm Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước trên thế giới bị chững lại, suy thoái và nhiều nước trước đây có tốc độ tăng trưởng khá thì nay đã phải điều chỉnh tốc độ tăng trưởng giảm đi, trong đó có Việt Nam. Đây là vấn đề mấu chốt nhất có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm Việt Nam nói riêng.

Những ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất đến thị trường bảo hiểm Việt Nam phải kể đến là:

Thứ nhất, vốn đầu tư xã hội, vốn FDI và vốn ODA đang có dấu hiệu chững lại. Số dự án FDI đăng ký mới trong tháng 10-2008 là 68 dự án, với tổng số vốn là 2,02 tỉ USD, thấp hơn nhiều so với các tháng đầu năm. Khả năng giải ngân vốn FDI và vốn ODA trong cả năm 2008 cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của cuộc khủng hoảng. Bên cạnh đó, do tình hình lạm phát diễn biến phức tạp nên đã có hơn 1.600 dự án bị hoãn lại hoặc cắt bỏ. Nhiều dự án lớn, do khó khăn về vốn, đã không bảo đảm đúng tiến độ, thời gian hoàn thành dự án bị kéo dài. Thực trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng khai thác để tăng doanh thu phí bảo hiểm, đến công tác quản lý rủi ro của các doanh nghiệp bảo hiểm đối với một loạt nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu như: bảo hiểm xây dựng và xây lắp, bảo hiểm thiết bị máy móc, bảo hiểm hỏa hoạn và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,…

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ĐẤT “BIẾN” ĐI ĐÂU?

HOÀNG LAM

Tòa dựa vào giấy chuyển nhượng để buộc bị đơn phải giao trả đủ diện tích đất cho nguyên đơn trong khi diện tích đất thực tế chỉ khoảng phân nửa. Năm 1944, cha của ông T. chuyển nhượng cho cha của ông N. 5.000 m2 đất tọa lạc tại thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Sau khi hai người cha qua đời, ông T. và ông N. tiếp tục sử dụng đất. Trong hai năm 1990 và 1991, gia đình hai ông đều được UBND thị xã Tây Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất. Mãi đến năm 2005, cho rằng phần đất đang sử dụng trên thực tế bị thiếu rất nhiều so với diện tích được công nhận trên giấy, ông N. đã khởi kiện yêu cầu ông T. trả lại hơn 1.300 m2.

Thiếu đất mà không biết

Ông T. không chấp nhận yêu cầu này với lý do cha ông có 10.000 m2 đất và đã chuyển nhượng cho cha của ông N. một nửa. Sau khi chuyển nhượng, hai bên gia đình vẫn sử dụng đất ổn định mà không hề tranh chấp. Tứ cận phần đất của các bên vẫn như cũ, không bên nào mua thêm hoặc bán bớt.

Cuối năm 2006, TAND thị xã Tây Ninh xử sơ thẩm vụ án và tuyên buộc ông T. trả đất cho ông N. vì cho rằng “ông T. lấn đất của ông N.”. Ngay sau đó, VKSND thị xã Tây Ninh đã kháng nghị bản án sơ thẩm và yêu cầu TAND tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm vụ án. Theo viện, diện tích đất các đương sự đang ở thực tế bị thiếu so với diện tích được cấp mà chính họ cũng không biết.

Cụ thể, diện tích ghi trên giấy của phía ông T. là 5.000 m2 nhưng thực tế đo được chỉ gần 3.000 m2. Tương tự, diện tích ghi trên giấy của ông N. là 4.000 m2 nhưng thực tế sử dụng chỉ hơn 2.000 m2. Tổng diện tích mà hai bên thực sự sử dụng chỉ có hơn 5.200 m2. So với diện tích ghi trên giấy chứng nhận được cấp, phần đất thiếu gần 4.000 m2. Nếu so với lời khai của bị đơn rằng đất ban đầu là 10.000 m2 thì diện tích thiếu lên đến gần 5.000 m2.

VKSND tỉnh Tây Ninh cho rằng đất của hai bên đều bị thiếu nên không thể xác định ông T. lấn đất của ông N. Mặt khác, ông N. cũng chỉ đóng thuế cho phần diện tích mình thực tế sử dụng nên cách xét xử của cấp sơ thẩm là không đúng.

Tháng 4-2007, TAND tỉnh Tây Ninh mở phiên xử phúc thẩm và đã hủy án, trả hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại từ đầu. Lý do: cấp sơ thẩm không định giá phần đất tranh chấp để tính án phí, việc chứng minh và thu thập chứng cứ không thực hiện đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung.

Continue reading