10 LÝ DO ĐỂ TẠO DỰNG MỘT VĂN HÓA CÔNG TY TỐT HƠN

MINH HÀ (Dịch từ HBS Working Knowledge)

Các tổ chức với những văn hóa lành mạnh, dễ thích ứng có được những lợi thế về chi phí lao động, nhân viên giỏi, sự trung thành của khách hàng và nền tảng tốt hơn trong sự thành công về lãnh đạo. Sau đây chúng tôi xin trích đăng một phần trong cuốn sách “The Ownership Quotient: Putting the Service Profit Chain to Work for Unbeatable Competitive Advantage” của Jim Heskett và đồng tác giả W. Earl Sasser – cả hai đều là giáo sư Trường Kinh doanh Harvard, với những khái niệm chính sau.

Các tổ chức với những văn hóa được hệ thống hóa rõ ràng thường trở thành những nơi làm việc tốt hơn.

Chiến lược điều hành dựa trên văn hóa vững chắc, hiệu quả là sự chọn lựa lý tưởng cho các khách hàng triển vọng.

– Các tổ chức thực hiện hiệu quả cao đều xem xét và xác nhận lại các giá trị cốt lõi cùng những hành vi liên đới của mình một cách định kỳ.

Tại sao chúng ta thường thấy nhiều công ty hay xuất hiện lại cùng nhau trong các danh sách về những nơi làm việc tốt nhất, nhà cung cấp dịch vụ khách hàng tốt nhất và có lợi nhuận cao nhất trong ngành của mình? Để trả lời cho câu hỏi này, trong cuốn sách mới của mình – “The Ownership Quotient” – các giáo sư Trường Kinh doanh Harvard, Jim Heskett và đồng tác giả W. Earl Sasser, đã xác nhận rằng cốt lõi của vấn đề chính là những văn hóa lành mạnh, dễ thích ứng mới có thể thúc đẩy và cổ vũ cho sự đổi mới, năng suất và ý nghĩa của quyền sở hữu giữa những người lao động cũng như các khách hàng – những điều luôn “sống” lâu hơn bất kỳ một vị lãnh đạo có sức lôi cuốn và uy tín nào.

Nhưng làm sao bạn có thể như một nhà quản lý tạo ra và nuôi dưỡng được văn hóa đặc biệt đó? Chính trong cuốn sách của mình, các tác giả đã đưa ra mười bài học hàng đầu về những nhà thực hành tốt nhất, từ ING Direct tới Build-A-Bear Workshop rồi đến Harrah’s Entertainment.

Chúng ta có thể học được rất nhiều từ các tổ chức mà những văn hóa về quyền sở hữu lành mạnh và thích ứng tốt đã mang lại cho chúng sự sắc bén trong cạnh tranh đầy hùng mạnh. Đây chính là mười bài học hàng đầu đó:

1. Sự lãnh đạo đóng vai trò then chốt trong việc hệ thống hóa và duy trì mục đích, các giá trị và tầm nhìn của một tổ chức. Các nhà lãnh đạo phải làm gương bằng cách làm sống được các yếu tố văn hóa: giá trị, hành vi, biện pháp và hành động. Mọi giá trị đều trở nên vô nghĩa nếu không hội tụ được đủ những yếu tố này.

Continue reading

TRANH CHẤP GIAO DỊCH DÂN SỰ: XUNG QUANH QUYẾT ĐỊNH TRẢ LẠI NHÀ 28 QUANG TRUNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI, VƯỚNG TỪ ĐÂU?

DOISONG&PHAPLUAT – "Bình đẳng" là một trong những nguyên tắc cơ bản trong giao dịch dân sự, được thể hiện bằng sự tự do trao đổi, thỏa thuận giữa các bên. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp loại quan hệ này cũng phải dựa trên tinh thần ấy. Thế nhưng, trên thực tế khi giải quyết các giao dịch dân sự có một bên tham gia là cơ quan Nhà nước, sự bình đẳng có thực sự được tôn trọng (?)

Năm 1966, ngôi nhà 28 phố Quang Trung, quận Hoàn Kiếm, TP.Hà Nội (thuộc quyền sở hữu của ông Trần Khắc Viên và vợ là bà Lý Thị Sinh) là một trong những ngôi nhà được chính quyền thông báo nằm trong khu vực thành phố quyết định sẽ xây dựng công trình chỉ đạo phòng không chiến đấu (ngôi nhà này, ông bà Viên đã cho Bệnh viện C thuê từ năm 1959, còn ông bà thì tự đi thuê 2 buồng 42 m2 tại tầng 2 nhà 42B Trần Xuân Soạn để ở – PV). Trước yêu cầu khẩn cấp của TP.Hà Nội và vì lợi ích dân tộc, ông bà đã phải chấp nhận cho TP. thuê toàn bộ ngôi nhà của mình để phục vụ cho chiến tranh. Tuy nhiên, sau khi thuê nhà 28 Quang Trung, TP. đã không sử dụng vào mục đích quốc phòng như thông báo mà lại cho một số cơ quan vào làm việc tạm thời trong thời gian chiến tranh, sau đó sắp xếp cho một số hộ gia đình đến ở.

Từ năm 1976, ông bà Viên đã nhiều lần viết đơn đề nghị UBND TP.Hà Nội trả lại nhà 28 Quang Trung cho gia đình vì chiến tranh đã chấm dứt, nhưng không có kết quả.

Ngày 29.5.1982, UBND TP.Hà Nội ra Quyết định số 2015/QĐ-UB chuyển đổi ngôi nhà 28 Quang Trung bằng ngôi nhà 42B Trần Xuân Soạn để trả cho ông bà Viên, với lý do: nhà 28 Quang Trung vẫn nằm trong khu vực trực chiến phòng không của TP. Vì lợi ích quốc gia, ông bà Viên buộc phải chấp nhận yêu cầu này của UBND TP.Hà Nội. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, nhà 42B Trần Xuân Soạn đang có một số hộ ở thuê và các hộ này không chịu dời đi nên UBND TP.Hà Nội đã không thể bàn giao được nhà 42B Trần Xuân Soạn theo tinh thần của Quyết định số 2015/QĐ-UB cho gia đình ông Viên.

Để đảm bảo diện tích tạm sinh hoạt cho gia đình ông Viên và để có thể tiếp tục thực hiện việc đổi nhà, UBND TP.Hà Nội đã đẩy trách nhiệm thu hồi căn nhà 42B Trần Xuân Soạn cho gia đình ông bằng cách: cho gia đình thuê hai căn hộ số 203 nhà M6B Trương Định và số 401B8b Kim Liên để gia đình ông dùng chính hai căn hộ này mà tự thương lượng đổi nhà với các hộ đang thuê ở 42B Trần Xuân Soạn. Với sự sắp đặt này, gia đình ông Viên đã phải tiến hành đàm phán nhiều lần với các hộ thuê nhà 42B Trần Xuân Soạn nhưng các hộ này vẫn không chịu di chuyển. Sau đó, UBND TP.Hà Nội lại bán nhà cho những hộ đang thuê ở 42B Trần Xuân Soạn theo Nghị định 61/CP! Để tạo ra điều kiện tương đương cho việc đổi nhà 42B Trần Xuân Soạn, năm 2005, ông bà Viên đã phải tiến hành mua lại căn hộ ở Kim Liên theo Nghị định 61/CP để tiếp tục việc đổi nhà với các hộ ở 42B Trần Xuân Soạn. Tuy nhiên, việc đổi nhà với các hộ ở 42B Trần Xuân Soạn vẫn không thực hiện được. Quyết định số 2015/QĐ – UB vì thế không thể và không có khả năng thực hiện. Gia đình ông Viên lại tiếp tục viết đơn gửi UBND TP.Hà Nội, các cơ quan chức năng yêu cầu hủy bỏ thỏa thuận đổi nhà trước đây.

Continue reading

19 NĂM ĐÒI CÔNG NHẬN QUYỀN CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

LÊ HUÂN

Suốt 19 năm qua, kỹ sư đường sắt Lê Khắc Linh đòi bản quyền tác giả, đòi được công nhận sáng kiến với đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ về "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất".  Để rộng đường dư luận trả lời cho câu hỏi, vì sao suốt 19 năm qua kỹ sư Lê Khắc Linh vẫn kiên trì trong cuộc hành trình tìm đến sự công bằng, Lao Động đã vào cuộc.

Chuyện 13 năm trước

Báo Lao Động ra ngày 14.9.1995 đăng bài: "Tác giả của một sáng kiến có hiệu quả vẫn đang bị lãng quên?". Nội dung bài báo đề cập đến hành trình dài dằng dặc của những chuyến tàu Thống Nhất. Mặc dù hành trình chạy tới 72 tiếng, nhưng việc tàu chạy chậm thêm từ 6 đến 10 tiếng là chuyện… xảy ra hàng ngày. Việc rút ngắn hành trình chạy tàu là đòi hỏi của hành khách, là sự trăn trở của của không ít CBCNV ngành đường sắt, trong đó có KS Lê Khắc Linh – nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học và Công nghệ – Bộ GTVT.
Năm 1982, KS Lê Khắc Linh đã trình Bộ GTVT và Tổng cục Đường sắt đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ về "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất". Bộ trưởng Bộ GTVT Đồng Sĩ Nguyên chấp nhận và trực tiếp chỉ đạo TC Đường sắt (TCĐS) triển khai sáng kiến của KS Lê Khắc Linh. Đến năm 1989, TCĐS đã tiến hành áp dụng lần lượt tất cả 7 giải pháp. Hành trình tàu Thống Nhất Bắc – Nam đã được rút ngắn từ 72 tiếng xuống 48 tiếng, rồi đến mốc đỉnh cao – 2005 hành trình tàu Thống Nhất được rút xuống thời gian chạy tàu nhanh nhất là 29 tiếng 30 phút. KS Lê Khắc Linh đã lập hồ sơ sáng kiến sáng chế trình Bộ GTVT và Hội đồng sáng kiến của bộ.
Ngày 8.12.2008 – 13 năm sau khi đăng bài viết "Tác giả của một sáng kiến có hiệu quả vẫn đang bị lãng quên", Báo Lao Động lại nhận được thư khiếu nại của KS Lê Khắc Linh. Ông viết: "Tôi – người đề xuất 7 giải pháp hữu ích đồng bộ, cải tiến tốc độ chạy tàu, được áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thế nhưng vì sao sáng kiến của tôi lại không được công nhận?".

Bị lãng quên hay cố tình phủ nhận

Ông Nguyễn Tuấn Bình – nguyên Phó Tổng cục trưởng TCĐS – đã nhấn mạnh rằng: Đây là một vấn đề lớn về sở hữu trí tuệ. Ông khẳng định, tàu Thống Nhất chạy rút ngắn thời gian, làm lợi lớn, nhưng người đề xuất sáng kiến lại bị phủ nhận. Ông cho biết: Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên đặc biệt quan tâm vấn đề rút ngắn thời gian chạy tàu trên tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc – Nam, đã gọi tôi lên cơ quan bộ, trực tiếp giao nhiệm vụ tiếp thu, nghiên cứu và từng bước triển khai sáng kiến của tác giả Lê Khắc Linh. Nghiêm chỉnh chấp hành ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Đồng Sĩ Nguyên, ngày 12.1.1983 ngành đường sắt đã tổ chức hội nghị chuyên đề khoa học kỹ thuật "Rút ngắn thời gian chạy tàu khách trên tuyến đường sắt Thống Nhất" do tôi chủ trì để KS Lê Khắc Linh trình bày sáng kiến "Tách tốc độ cho tàu khách chạy nhanh hơn tàu hàng và các giải pháp hỗ trợ khác nhằm rút ngắn thời gian chạy tàu khách Thống Nhất". Rút ngắn thời gian chạy tàu khách là ý chí, nguyện vọng của các nhà khoa học tham gia hội nghị.
Song  "vạn sự khởi đầu nan" – ông Bình nhớ lại – lúc đầu đối với vấn đề "tách tốc độ" có một vài cán bộ quản lý còn e ngại và tại thời điểm năm 1983 do điều kiện "cần và đủ" chưa đủ chín muồi, nên dù thấy hay, có lợi nhưng chưa thực hiện được ngay việc "tách tốc độ" mà mới chỉ bắt đầu triển khai áp dụng một số giải pháp kỹ thuật hỗ trợ. Phải qua 5 năm "thai nghén", đến năm 1988 ngành đường sắt đã quyết định cho thực hiện sáng kiến "tách tốc độ tàu". Và ngày 29.11.1988, ngành đường sắt đã ban hành "Lệnh tốc độ chạy tàu năm 1989" – áp dụng từ 0 giờ ngày 1.1.1989 có hai tốc độ chạy tàu (tàu khách và tàu hàng) "khác biệt" hẳn với lệnh tốc độ chạy tàu của các năm về trước, kể từ khi thành lập Tổng cục Đường sắt.
Thế là, sáng kiến "tách tốc độ" chính thức được triển khai thực hiện đồng bộ từ năm 1989 đến nay. Nguyên Tổng cục phó TCĐS vẫn ngậm ngùi:  "Có thể nói không quá lời là "Lệnh tốc độ chạy tàu năm 1989" là một mốc son làm thay đổi quy phạm khai thác kỹ thuật đường sắt VN, tạo ra tư duy mới, hành động mới, góp phần vào quá trình đổi mới ngành đường sắt những năm tiếp theo. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ là từ trước thời điểm ban hành "Lệnh chạy tàu 1989" với sự lao động, sáng tạo không ngừng nghỉ của tập thể hơn 4 vạn CBCNV ngành đường sắt, có sự đóng góp của KS Lê Khắc Linh và các cộng sự, trải qua 5 năm (1983 – 1988), suy nghĩ và hành động áp dụng các giải pháp kỹ thuật hỗ trợ, ngành đường sắt đã rút ngắn thời gian chạy tàu khách Thống Nhất… Lẽ ra sáng kiến "Tách tốc độ…" phải được công nhận và khen thưởng từ năm 1989. Thế nhưng khi Tổng cục trưởng TCĐS Nguyễn Văn Tư được sự phân công của T.Ư Đảng chuyển sang làm Chủ tịch Tổng LĐLĐVN thì… sáng kiến của KS Lê Khắc Linh bị… lãng quên từ đó cho đến nay.

SOURCE: BÁO LAO ĐỘNG

Trích dẫn từ: http://thuvienphapluat.com/?CT=NW&NID=21962

QUY ĐỊNH HƯỚNG DẪN TƯ VẤN, KIỂM TRA SỨC KHỎE CHO NGƯỜI HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SỐNG; HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SAU KHI CHẾT VÀ NGƯỜI HIẾN XÁC

QUY ĐỊNH

HƯỚNG DẪN TƯ VẤN, KIỂM TRA SỨC KHỎE CHO NGƯỜI HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SỐNG; HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ Ở NGƯỜI SAU KHI CHẾT VÀ NGƯỜI HIẾN XÁC
(Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BYT ngày 12 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác phải được tư vấn về các thông tin liên quan đến hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác.

2. Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết được kiểm tra sức khỏe sau khi đăng ký hiến.

3. Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống được kiểm tra các thông số sinh học trước khi tiến hành lấy mô, bộ phận cơ thể.

4. Việc tư vấn có thể thực hiện một lần hay nhiều lần nếu người hiến có yêu cầu được tư vấn rõ hơn về nội dung cụ thể.

5. Kinh phí cho hoạt động tư vấn và kiểm tra sức khỏe cho người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác do giám đốc cơ sở y tế bố trí trong nguồn kinh phí của đơn vị.

II. HƯỚNG DẪN TƯ VẤN

1. Mục đích, yêu cầu của tư vấn

a) Xác định tính tự nguyện của bản thân người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác;

b) Xác định mục đích của việc hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và hiến xác: vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hay vì mục đích nào khác;

c) Giải thích sự ảnh hưởng về sức khỏe, tâm lý có thể xảy ra ở người sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống;

d) Khẳng định quyền lợi của người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người.

2. Nguyên tắc chung của tư vấn

a) Người tư vấn phải trực tiếp gặp người đăng ký hiến để tư vấn;

b) Bảo đảm tính bí mật;

c) Tư vấn tại không gian thuận lợi, tạo sự thoải mái, tin cậy giữa người tư vấn và người được tư vấn;

d) Sử dụng ngôn ngữ phù hợp, đơn giản, dễ hiểu;

đ) Hạn chế dùng các từ ngữ, thuật ngữ chuyên môn đối với người được tư vấn không phải là cán bộ y tế;

e) Người tư vấn biết lắng nghe, quan tâm và thấu hiểu ý kiến của người được tư vấn.

3. Quy trình tư vấn cho người khi đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết; người đăng ký hiến xác

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP NGÀY 3 THÁNG 4 NĂM 2008 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO-VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO-BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH-BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ- BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân; Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

A. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I. CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN (QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 4 ĐIỀU 25 VÀ KHOẢN 2 ĐIỀU 29 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ)

1. Các tranh chấp về quyền tác giả

a) Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm phái sinh;

b) Tranh chấp giữa các đồng tác giả về phân chia quyền đồng tác giả;

c) Tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm;

d) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với tác giả về tiền nhuận bút, tiền thù lao cho tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng;

đ) Tranh chấp về thực hiện quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

e) Tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu giữa người cung cấp tài chính và các điều kiện vật chất có tính chất quyết định cho việc xây dựng, phát triển chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu với người thiết kế, xây dựng chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

g) Tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu giữa người đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu với người tham gia sáng tạo và người sản xuất ra tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu hoặc tranh chấp giữa họ với nhau về tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác;

h) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm;

i) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do người sử dụng không trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

Continue reading

QUY CHẾ TỔ CHỨC THI HOA HẬU, HOA KHÔI, NGƯỜI ĐẸP (BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 87/2008/QĐ-BVHTTDL NGÀY 30 THÁNG 12 NĂM 2008)

QUY CHẾ

TỔ CHỨC THI HOA HẬU, HOA KHÔI, NGƯỜI ĐẸP
(ban hành kèm theo Quyết định số 87/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Phạm vi điều chỉnh:

a. Tổ chức cuộc thi Hoa hậu toàn quốc và quốc tế;

b. Tổ chức cuộc thi Hoa khôi vùng; ngành; đoàn thể chính trị – xã hội trên phạm vi toàn quốc;

c. Tổ chức cuộc thi Người đẹp cấp tỉnh;

d. Đưa thí sinh dự thi quốc tế;

e. Hoạt động bình chọn người đẹp trong các cuộc liên hoan, lễ hội; bình chọn qua ảnh hoặc trong các hoạt động văn hóa, xã hội khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này.

2. Đối tượng áp dụng:

a. Đơn vị Việt Nam tổ chức thi Hoa hậu, Hoa khôi, Người đẹp trong nước;

b. Đơn vị Việt Nam phối hợp với đối tác nước ngoài tổ chức thi Hoa hậu quốc tế tại Việt Nam;

c. Đơn vị Việt Nam đưa thí sinh đạt danh hiệu tại các cuộc thi trong nước dự thi quốc tế;

d. Thí sinh dự thi trong nước và quốc tế.

Điều 2. Tên gọi, danh hiệu và số lượng các cuộc thi trong năm

1. Tổ chức thi Hoa hậu, Hoa khôi, Người đẹp là hoạt động văn hóa nhằm tuyển chọn người phụ nữ có đạo đức tốt, có hiểu biết về văn hóa, xã hội, có hình thể cân đối và có khuôn mặt đẹp tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam để trao tặng danh hiệu.

Continue reading

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM

I. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM

1. Khái quát chung

Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, điều này được thể hiện trong tất cả nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng các cấp, các kỳ Đại hội. Quan điểm nhất quán này được khẳng định cụ thể trong Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Bảo đảm an toàn thực phẩm là một nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân, nên cũng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc, điều này đã được thể hiện cụ thể bằng hành động cụ thể: Thành lập Cục quản lý chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm (tiền thân của Cục ATVSTP ngày nay) năm 1999. Ngay trong năm này, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 08 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm CLVSATTP; năm 2000 đã phê duyệt chương trình bảo đảm VSATTP là một trong 10 chương trình mục tiêu quốc gia của Bộ Y tế; năm 2003 đã ban hành Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm ; năm 2004 ban hành Nghị định số 163/2004/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh VSATTP; năm 2006 phê duyệt chương trình hành động bảo đảm VSATTP giai đoạn 2006-2010 theo hướng trở thành chương trình mục tiêu quốc gia độc lập; năm 2007, phê duyệt 6 dự án nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm VSATTP giai đoạn đến 2010 với tổng kinh phí khoảng 1300 tỷ đồng. Năm 2008, ban hành Nghị định số 79/2008/NĐ-CP về hệ thống tổ chức quản lý và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo, giám sát chặt chẽ công tác bảo đảm VSATTP; đã tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác bảo đảm VSATTP vào tháng 01/2007 và lần 2 vào tháng 3/2008; ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg về việc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; chỉ đạo các bộ ngành liên quan đề xuất xây dựng dự án luật an toàn thực phẩm để trình Quốc hội vào năm 2009. Các Bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành hàng loạt các Quyết định, Thông tư, Thông tư liên tịch … để hướng dẫn chi tiết thi hành các nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ cho lĩnh vực quản lý mới, đặc biệt quan trọng này.

Continue reading