NHỮNG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH, CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH QUANG – NGUYỄN BÁ LINH – Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt

Bối cảnh cạnh tranh trong ngành bảo hiểm

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

Trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, thời gian đầu, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam thực sự là doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trên thị trường. Trong bối cảnh lúc bấy giờ có thể hiểu là hầu hết không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Ngày 18/12/1993, với việc ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm nước ta. Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, cùng với việc mở cửa thị trường trong bối cảnh hội nhập, đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ra đời. Đến nay, trên thị trường đã có 37 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm (nếu tính cả 2 Công ty mới ra đời là Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Bảo Nông) và Công ty Bảo hiểm Quân đội (MIC) thì tổng số lên tới 39 công ty), trong đó có 1 công ty nhà nước, 18 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh… Điều đáng chú ý là thị trường bảo hiểm Việt Nam còn có sự góp mặt của 37 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 cho thấy những dấu hiệu phát triển khả quan đã tiếp tục tạo ra nhiều yếu tố tích cực cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Ngành bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%, mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Sự cạnh tranh này được dự báo sẽ còn diễn ra khốc liệt hơn vào những năm tiếp theo khi các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc trên thị trường bảo hiểm Việt Nam theo cam kết WTO.

Continue reading

BIỆN PHÁP TỰ VỆ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

KHÔI NGUYÊN

1. Biện pháp tự vệ

Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không được áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ. Mỗi nước nhập khẩu là thành viên của WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp dụng thì họ phải đảm bảo tuân theo các quy định của WTO về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần chú ý đến biện pháp này để yêu cầu Chính phủ sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình trước hàng hoá nhập khẩu của nước ngoài khi cần thiết.

2. Tại sao biện pháp tự vệ được thừa nhận trọng WTO?

Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế được sử dụng để “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh) nên về hình thức, các biện pháp tự vệ được coi là đi ngược lại chính sách tự do hoá thương mại của WTO. Tuy vậy, đây là biện pháp được thừa nhận trong khuôn khổ WTO với các điều kiện chặt chẽ để tránh bị lạm dụng. Lý do là trong hoàn cảnh buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, các biện pháp tự vệ chính là “van an toàn” mà hầu hết các nước nhập khẩu là thành viên WTO đều mong muốn thực hiện khi thấy cần thiết. Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu hàng hoá để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh những đổ vỡ trong một số trường hợp khó khăn.

Tuy nhiên, biện pháp tự vệ không phải là công cụ “miễn phí”. Biện pháp tự vệ được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng lại đi ngược lại mục tiêu “tự do hoá thương mại”, biện pháp tự vệ là một công cụ phải trả tiền. Điều đó có nghĩa là các nước được phép áp dụng nó bảo vệ ngành sản xuất trong nước của mình nhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với nước khác trong trường hợp kết quả điều tra kết luận việc nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ là quá mức cần thiết và không có cơ sở. Cụ thể, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định. Nếu nước này không tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa.

3. Điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ

Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời các điều kiện sau:

a. Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng

Continue reading

PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH NÀO CẦN ƯU TIÊN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU?

PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN – Quyền Viện trưởng, Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế và khủng khoảng kinh tế toàn cầu hiện nay đã có nhiều tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, phản ứng chính sách của chúng ta cần phải như thế nào? Chính sách nào nên được ưu tiên?

Nhận diện cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính lần này có nhiều điểm khác biệt với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông á cách đây 10 năm.

Thứ nhất, nó bắt nguồn từ những nền kinh tế hùng mạnh nhất, phát triển nhất như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản. Còn cuộc khủng hoảng Đông á (1997 – 1998) bắt nguồn và lan rộng chủ yếu trong phạm vi những nền kinh tế phát triển trung bình mới nổi – như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Nga, …

Thứ hai, cuộc khủng hoảng này "đánh sập" cả những “gã khổng lồ”, thậm chí là “khổng lồ nhất”, những "đại gia" có tuổi đời già dặn hằng thế kỷ, trong lĩnh vực tài chính lẫn lĩnh vực phi tài chính; những tập đoàn được coi là có cấu trúc vững chắc và quản trị hoàn hảo.

Thứ ba, đây là cuộc khủng hoảng có sức lan tỏa nhanh và mạnh, theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các nền kinh tế thuộc nhóm phát triển nhất lần lượt rơi vào suy thoái – từ Mỹ lan sang EU, tràn tới Nhật Bản, rồi "hạ gục" Xin-ga-po. Điều đáng lưu ý rằng, đó là những nền kinh tế thường xuyên đứng ở thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng sức cạnh tranh tăng trưởng toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng đó từ khu vực tài chính tràn sang khu vực "thực", chuyển thành suy thoái kinh tế. Cả hai thứ cộng hưởng với nhau, "công phá" toàn diện hệ thống kinh tế toàn cầu.

Hệ quả của quá trình lan tỏa suy thoái là sự chao đảo của cả hệ thống kinh tế toàn cầu. Cho đến nay, chưa ai nói chắc đâu là giới hạn của sức lan tỏa. Chiều hướng tác động tiêu cực đang tiếp tục mở rộng, sức tác động đang gia tăng.

Tuy chưa đầy đủ, song mức độ nghiêm trọng của tình hình ngày càng lộ rõ và có thể nhận biết đại thể qua một vài con số. Đó là số tiền hàng ngàn tỉ USD mà các chính phủ đã phải bỏ ra để thực hiện cuộc giải cứu lịch sử này, là mức sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng GDP, là con số các “đại gia” bị phá sản với lượng tài sản lên tới hàng chục ngàn tỉ USD. Và những con số này hiện vẫn chưa dừng lại.

Continue reading

NỘI LUẬT HÓA CÁC CAM KẾT GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

THS. HÀ THỊ THANH BÌNH – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được gần hai năm (1). Trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này và trong thời gian kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước theo hướng làm cho pháp luật quốc nội của mình tương thích với các quy định của WTO cũng như để thực hiện những cam kết khi gia nhập tổ chức này.

Tuy nhiên đến nay, quá trình đó vẫn chưa hoàn tất. Việc tiếp tục chuyển hóa các cam kết với WTO thành các quy định pháp luật nội địa là một yêu cầu khách quan không chỉ nhằm mục đích thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế mà còn giúp khai thác và hiện thực hóa các quyền lợi thành viên của tổ chức này. Bài viết trao đổi một số quan điểm liên quan tới yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.

1. Cơ sở pháp lý và thực tiễn đặt ra yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO nói chung và cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng

a) Cơ sở pháp lý

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71/2006/QHXI phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam (Nghị quyết 71/2006/QHXI). Nghị quyết này đã quy định nguyên tắc áp dụng các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, theo đó (i) nếu các cam kết trong các văn kiện gia nhập WTO đã đủ rõ, đủ chi tiết thì áp dụng trực tiếp các cam kết đó (bao gồm các cam kết được liệt kê trong phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết 71/2006/QHXI và các cam kết khác trên cơ sở rà soát của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2)); (ii) thực hiện việc rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam để đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO. Ngoài ra, Nghị quyết 71/2006/QHXI khẳng định nguyên tắc giải quyết xung đột giữa quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật nội địa như sau: trong trường hợp pháp luật Việt Nam không phù hợp với Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm thì sẽ áp dụng các quy định của Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm. Như vậy, Nghị quyết 71/2006/QHXI đã tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 6 Luật Điều ước quốc tế số 41/2005/QHXI ngày 14/6/2005 (Luật Điều ước quốc tế 2005). Theo đó, dù là các quy định của Điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết thì vẫn cần một văn bản thể hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc áp dụng trực tiếp các quy định đó sau khi thực hiện việc rà soát; các trường hợp còn lại (đối với các cam kết chưa đủ rõ, chưa đủ chi tiết hoặc pháp luật nội địa chưa phù hợp) thì cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và ban hành mới các văn bản pháp luật trong nước để thực hiện các Điều ước quốc tế (3). Như vậy, để thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói chung và các cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng, phải thực hiện việc nội luật hóa các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này, hay nói cách khác là phải chuyển hóa các cam kết quốc tế thành pháp luật nội địa.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: TÒA ÁN GIÚP CHÁU NỘI CHIẾM NHÀ CỦA ÔNG BÀ

NGUYỄN TRUNG HIẾU

Cháu nội đưa đơn yêu cầu cơ quan thi hành án, cưỡng chế ông bà mình để chiếm ngôi nhà do họ sở hữu hợp pháp. Cơ quan thi hành án "kiên quyết" buộc cưỡng chế giao nhà trước 20.3. Hai cụ già hơn 80 tuổi, đang tất tả chạy kêu cứu khắp nơi. Sự kiện oái oăm này tiếc thay, khởi nguồn từ một phán quyết trái pháp luật trong phiên toà xét xử ly hôn do TAND quận Hải Châu thụ lý. Đó là trường hợp của vợ chồng ông Lưu Quý Thảo, hiện sống tại 122, đường Núi Thành – TP.Đà Nẵng.

Bản án trái pháp luật

Tháng 3.2007, ông bà Lưu Quý Thảo, trú tại 122 Núi Thành đột ngột nhận được án lệnh phải bàn giao ngôi nhà mình đang ở, có sở hữu hợp pháp cho cháu nội của mình là Lưu Hoàng Mỹ. Ông bà vội tìm đến cơ quan toà án thì mới hay từ tháng 1.2004, phán quyết của cơ quan tư pháp đã giao quyền sở hữu, quản lý sử dụng ngôi nhà 122 Núi Thành cho cháu nội của ông bà. Nguyên tháng 12.2003, TAND quận Hải Châu thụ lý vụ ly hôn, chia tài sản giữa anh Lưu Hoàng Long, là con ruột vợ chồng ông Lưu Quý Thảo và chị Phạm Thị Hoàng Yến (dâu).
Một tháng sau, toà ban hành bản án, chấp nhận thuận tình ly hôn và phán quyết, vợ (chị Yến) nuôi con là Lưu Hoàng Mỹ (SN 1991), đồng thời theo ý nguyện của 2 bên, giao quyền sở hữu và sử dụng ngôi nhà 122 Núi Thành, hiện gia đình đang ở chung với ông bà nội cho cháu Mỹ khi cháu đủ 18 tuổi.
Điều hết sức hy hữu ở đây là ngôi nhà 122 Núi Thành lúc bấy giờ và cho đến hiện nay vẫn do vợ chồng ông Lưu Quý Thảo sở hữu và sử dụng hợp pháp và gia đình Long, Yến cùng con là Mỹ chỉ là người ở cùng. Và hơn thế, bản án ly hôn chia tài sản này được giữ "bí mật" suốt hơn 3 năm trời cho đến khi khổ chủ nhận án lệnh phải rời nhà để giao cho cháu nội của mình.

Kêu không thấu "trời"

Tất nhiên ông bà Lưu Quý Thảo không thể nào chịu đựng nổi oan ức như vậy và hành trình đi tìm lẽ công bằng của hai cụ già hơn 80 tuổi bắt đầu. Do bản án ly hôn chia tài sản này được TAND quận Hải Châu "bảo mật" kỹ quá, nên khi ông bà Thảo hay tin tài sản của mình bị giao cho người khác, thì đã quá hạn phúc thẩm từ lâu và quá cả thời hiệu kiến nghị giám đốc thẩm. Tháng 3.2007, ông bà gửi đơn đến Viện KSND thành phố Đà Nẵng đề nghị kháng nghị theo trình tự tái thẩm.

Continue reading

THỰC THI PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG: TRÁI LUẬT NHƯNG PHÙ HỢP VỚI NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI DÂN

HỒ QUANG HUY

Trong khuôn khổ hỗ trợ của dự án JICA, tháng 3/2009, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng đã tổ chức khảo sát về công tác đăng ký bất động sản tại TP Đà Năng. Qua trao đổi, làm việc với đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng của TP Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy, việc thực thi pháp luật về đăng ký quyền sở hữu nhà ở tại TP Đà Nẵng có nhiều vấn đề cần các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật suy ngẫm.

         1. Không cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005  

          Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2005 thì “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại khoản này được gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở” (khoản 1 Điều 11 Luật Nhà ở) và “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại Luật này là cơ sở pháp lý để chủ sở hữu nhà ở thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà ở đó theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 13 Luật Nhà ở).

          Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Xây dựng TP Đà Nẵng tại buổi làm việc với Đoàn khảo sát thì tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn TP Đà Nẵng vẫn không triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựngcho tổ chức, cá nhân. Thực tế trên cho thấy, sau gần 3 năm kể từ ngày Luật Nhà ở năm 2005 có hiệu lực thi hành (từ 01/7/2006 đến nay), các quy phạm pháp luật liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở vẫn chưa đi vào cuộc sống. Phải chăng nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên không chỉ xuất phát từ ý thức chấp hành pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở TP Đà Nẵng?

          2. Giải pháp không được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại phù hợp với nguyện vọng của người dân

Theo kết quả khảo sát tại Đà Nẵng, UBND thành phố Đà Nẵng đã “xé rào” khi cho phép các cơ quan chức năng thuộc hệ thống Tài nguyên và Môi trường ghi nhận hiện trạng và công nhận quyền sở hữu đối với tài sản gắn với đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất căn cứ vào nhiều yếu tố, ví dụ: căn cứ vào người yêu cầu có đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy phép xây dựng hay không, căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án, căn cứ vào hiện trạng sử dụng, thỏa thuận giữa các bên, xác nhận của UBND địa phương về việc đất và nhà ở ổn định lâu dài, không có tranh chấp… Tài sản gắn liền với đất được Nhà nước công nhận quyền sở hữu không chỉ có nhà ở, mà còn bao gồm nhà xưởng, khách sạn và các công trình kiến trúc khác gắn liền với đất. Bản vẽ bất động sản được kê khai có thể được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc không được thể hiện tùy theo sự thực hiện của từng cơ quan địa phương.

Continue reading