TRANH CHẤP DIỆN THỪA KẾ: BIẾT KHAI SAI NHƯNG VẪN XÁC NHẬN

HỒNG TÚ

Gia đình có tám con nhưng cán bộ phường vẫn dễ dãi xác nhận chỉ có một con duy nhất. Gần tháng nay, bảy anh chị em của anh Lê Thành Điệp (phường 4, quận Gò Vấp, TP.HCM) đứng ngồi không yên vì bị người anh cả lập hồ sơ tự khai nhận là con duy nhất để truất phế quyền thừa kế của họ.

Lọt qua nhiều “cửa ải”

Cha mẹ anh Điệp có tất cả tám người con. Khi qua đời, cha mẹ anh có để lại một căn nhà ở phường 4, quận Gò Vấp. Các anh em thống nhất ủy quyền cho anh cả làm người đại diện thừa kế đứng tên trên giấy chủ quyền nhà đất.

Tranh chấp nảy sinh khi toàn bộ căn nhà nằm trong diện giải tỏa trắng để chính quyền xây dựng đường vành đai Tân Sơn Nhất-Bình Lợi. Khi chuẩn bị lập văn bản khai nhận di sản để cùng lãnh tiền bồi thường, các anh em của anh Điệp “thất kinh” khi nghe tin người anh cả đã được Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận giao trọn số tiền bồi thường (hơn 600 triệu đồng).

Thì ra để “mình ên” nhận tiền bồi thường, người anh cả của anh Điệp đã đến Phòng Công chứng số 1 TP.HCM lập thủ tục khai nhận di sản và tự nhận mình là người thừa kế duy nhất của người chết. Khi tiếp nhận yêu cầu của người anh cả, Phòng Công chứng số 1 đã có công văn đề nghị UBND phường 4 niêm yết văn bản khai nhận di sản tại phường trong thời hạn 30 ngày và cử một cán bộ liên hệ với UBND phường 4 để hoàn tất thủ tục niêm yết này. Ngày 18-12-2008, sau khi hết hạn niêm yết, Phòng Công chứng số 1 đã chứng nhận văn bản khai nhận di sản cho người anh cả.

Kế tiếp, bằng văn bản khai nhận di sản đã được công chứng trên, người anh cả đã liên hệ với Phòng Quản lý đô thị quận Gò Vấp làm thủ tục sang tên đối với căn nhà trên. Sau khi được UBND quận Gò Vấp cấp “giấy hồng” công nhận được quyền sở hữu riêng căn nhà, người anh cả đã liên hệ với Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận để nhận tiền bồi thường.

Continue reading

CÁC NGHỀ TƯ PHÁP Ở CỘNG HÒA PHÁP

TS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Cộng hòa Pháp là một trong những quốc gia có truyền thống lập pháp từ rất lâu đời. Cùng với sự hình thành sớm của hệ thống pháp luật thực định là sự ra đời của các nghề tư pháp (từ thời La Mã cổ đại). Những chủ thể này đã và đang chứng tỏ vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì công lý, xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Pháp.

Do khái niệm “các nghề tư pháp” đang còn là vấn đề gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu, nên trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin không đề cập đến nội hàm của khái niệm này mà chỉ tập trung giới thiệu các nghề sau đây ở Pháp: thẩm phán, thừa phát lại, công chứng viên, luật sư, giám định viên trên các phương diện: điều kiện tuyển dụng/bổ nhiệm, cơ chế quản lý, phương thức hành nghề, trách nhiệm pháp lý…

I. Nghề Thẩm phán:

Thuật ngữ “thẩm phán” ở Cộng hòa Pháp được hiểu bao gồm cả công tố viên (vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập kỹ trong phần cuối của mục này).

1. Bổ nhiệm thẩm phán:

Xuất phát từ quan niệm của Pháp coi thẩm phán là một loại nghề đặc biệt, nên việc bổ nhiệm thẩm phán phải tuân thủ những nguyên tắc chặt chẽ  như sau:

– Bổ nhiệm suốt đời, có nghĩa là về nguyên tắc, từ lúc bổ nhiệm đến khi nghỉ hưu[1]thì thẩm phán không thể bị miễn nhiệm, trừ khi có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Nguyên tắc này là nền tảng pháp lý đảm bảo cho thẩm phán có được tính độc lập trong hoạt động của mình;

– Không cho phép có thu nhập ngoài lương, có nghĩa là Nhà nước chỉ cho phép thẩm phán có thu nhập từ lương mà không được phép có bất kỳ một khoản thu nhập nào khác từ hoạt động kinh doanh, kể cả từ cổ phiếu (trừ khi được thừa kế). Nhà nước trả lương cho thẩm phán ngay khi mới được tuyển vào Trường đào tạo thẩm phán. Nguyên tắc này cũng nhằm bảo đảm cho thẩm phán toàn tâm, toàn ý với công việc, không chịu bất kỳ một sự tác động nào từ bên ngoài có thể làm ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động xét xử. Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, Nhà nước Pháp trả lương cho thẩm phán rất cao (theo chúng tôi được biết thì mức lương khởi điểm dành cho thẩm phán ở Pháp khi mới vào nghề là 1.400 euro, tương đương 28 triệu đồng Việt Nam/tháng);

– Tuyển chọn thông qua thi tuyển. Nguyên tắc này bảo đảm tính dân chủ, công bằng và độc lập trong việc tuyển chọn thẩm phán. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, Nhà nước cho phép tuyển chọn thẩm phán thông qua chế độ cử tuyển (chủ yếu trong trường hợp các giáo sư, luật sư có uy tín).

Continue reading

HAI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT COMMON LAW VÀ CIVIL LAW

NGUYỄN MINH TUẤN – NCS. Đại học Tổng hợp Saarland, Cộng hoà Liên bang Đức

Hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law là hai hệ thống pháp luật lớn và điển hình trên thế giới. Hai hệ thống này có những điểm đặc thù, tạo nên những "dòng họ" pháp luật, với những đặc trưng pháp lý riêng. Mặc dù ngày nay pháp luật ở các nước thuộc hai hệ thống này cũng có nhiều thay đổi theo hướng bổ khuyết những mặt hạn chế, tích hợp nhiều nội dung mới, nhưng về cơ bản sự thay đổi ấy vẫn không làm mất đi những đặc thù riêng, triết lý riêng, từng tạo nên "bản sắc" của hai hệ thống pháp luật này.

1. Hệ thống pháp luật lục địa (Continetal Law), hệ thống Luật dân sự (Civil Law), hay gọi đơn giản hơn là hệ thống pháp luật Pháp – Đức:

Đây là hệ thống pháp luật có nền tảng bắt nguồn từ hệ thống pháp luật của Pháp và pháp luật của một số nước lục địa Châu Âu. Trong đó pháp luật của Pháp là quan trọng nhất và có ảnh hưởng lớn tới pháp luật của các nước khác trong hệ thống pháp luật này. Hệ thống pháp luật của các nước này nhìn chung đều chịu ảnh hưởng của Luật La Mã. Ngày nay, phạm vi ảnh hưởng của hệ thống Civil Law tương đối rộng bao gồm các nước Châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia…), Quebec (Canada), Louisiana (Mỹ), Nhật Bản và một số nước Châu Mỹ Latinh (Brazin, Vênêduêla…).

Về mặt lịch sử hình thành, Khi những bộ tộc Đức (Germanic) xâm lăng các đế quốc Tây Âu, một số qui định của luật La Mã đã được thay thế bằng luật bộ tộc Đức. Tuy nhiên, vì tinh thần của luật Đức là căn cứ vào yếu tố cá nhân, không căn cứ vào yếu tố lãnh thổ, nên dân chúng của đế quốc La Mã cũ cùng con cháu họ vẫn được phép sử dụng luật La Mã. Giáo hội Công giáo La Mã cũng góp phần quan trọng trong việc duy trì luật pháp La Mã cũ vì giáo luật, tức là luật dùng trong các Toà án của giáo hội, đã được xây dựng theo luật La Mã. Vào thế kỷ thứ 11 và 12, khi tìm được nguyên văn Bộ Dân luật Corpus Juris Civilis, các học giả bắt đầu nghiên cứu và giải thích, hiện đại hóa những nội dung luật cũ cho phù hợp với tình hình xã hội thời đó . Họ mở trường luật ở Paris, Oxford, Prague, Heidelburg, Copenhague; họ làm luật sư cho giáo hội, cho các vua chúa, và cho các vùng lãnh thổ khắp Châu Âu. Nhờ cùng được đào tạo chung theo một nội dung , luật gia của các nước Châu Âu đã tạo nên những Bộ Dân Luật của nước họ xây dựng trên nền tảng chung là luật La Mã.

Continue reading

BA “ĐỜI” CHỦ TỊCH THÀNH PHỐ CHƯA “CỨU” ĐƯỢC MỘT NHÀ NGUY HIỂM

image TUANVIETNAM – Trong khi chung cư C7 Giảng Võ bị quyết liệt "đẩy" đi thì cách đó vài trăm mét, chung cư B6 vẫn "ung dung tự tại" cho dù mức độ hiểm nguy chẳng thua kém, thậm chí dấu hiệu nguy hiểm ở toà nhà này được phát hiện trước đó rất lâu.

Cùng tại Hà Nội, cùng quận Ba Đình, cùng khu Giảng Võ – trong khi chung cư C7 bị quyết liệt "đẩy" đi thì cách đó vài trăm mét, chung cư B6 vẫn "ung dung tự tại" dù mức độ hiểm nguy chẳng thua kém gì, thậm chí những dấu hiệu nguy hiểm của toà nhà này đã được phát hiện trước đó rất lâu. Không ít hơn 3 "đời" Chủ tịch Thành phố đã được thông báo về việc này.

Nhà nguy hiểm? "Giao bóng" cho doanh nghiệp!

Trong tay chúng tôi có tài liệu "cũ mèm" từ những năm 90 thế kỷ trước. Trong đó nói rõ tập thể lắp ghép 5 tầng B6 Giảng Võ đã được xếp vào top 32 nhà nguy hiểm nhất trên địa bàn thành phố và thuộc sự quản lý của Công ty Kinh doanh nhà số 1 (Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội). Theo tài liệu còn lưu trữ và trí nhớ của những người từng tham gia công tác quản lý nhà đất ngày ấy, cứ mỗi cuộc họp hành, hội thảo về sửa chữa nhà nguy hiểm hoặc mỗi mùa mưa bão, B6 Giảng Võ lại được nhắc đến như một "điển hình" đáng chú ý, không bao giờ "vắng mặt" trong các báo cáo, danh sách về công trình nguy hiểm tại Thủ đô!

Năm 1999, (trước khi có Tiêu chuẩn đánh giá mới), nhà B6 Giảng Võ tiếp tục được Đoàn kiểm tra liên ngành Thành phố xếp loại nguy hiểm ký hiệu A3-C3. Năm 2000, Giám đốc Cty Kinh doanh nhà số 1 Nguyễn Gia Quỹ đã "khẩn thiết rung chuông" cảnh báo về sự nguy hiểm của B6 Giảng Võ với Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội.

Ngày 6/11/2003, Giám đốc Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội lúc đó là ông Phạm Cao Nguyên mới chính thức có Tờ trình gửi UBND TP đề nghị giao B6 Giảng Võ cho doanh nghiệp "lo"! Lúc này đang là nhiệm kỳ Chủ tịch UBND TP Hà Nội Hoàng Văn Nghiên.

Nhiều người chỉ trích, ngay từ khi phát hiện ra nhà "điển hình nguy hiểm" B6 Giảng Võ, nhưng chính quyền các cấp vẫn chưa rốt ráo chủ động xử lý.

Continue reading

CẦN SỬA ĐỔI MỨC THU LỆ PHÍ CHỨNG THỰC GIAO DỊCH, HỢP ĐỒNG

THANH XUÂN

Ủy ban nhân dân các cấp (xã, huyện) là cơ quan có thẩm quyền chứng thực các giao dịch, hợp đồng của công dân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật. Khoản 2, Điều 2, Nghị định 75 về công chứng, chứng thực quy định UBND cấp xã, huyện có thẩm quyền chứng thực các việc như xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho thực hiện các giao dịch trong hoạt động dân sự của công dân.

Cũng theo quy định của Nghị định 75 thì người yêu cầu công chứng, chứng thực phải nộp lệ phí công chứng, chứng thực, khi yêu cầu công chứng, chứng thực đã được thực hiện. Trước đây, mức thu lệ phí công chứng, chứng thực được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC-BTP ngày 21/11/2001 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí công chứng, chứng thực.

Theo đó, thông tư có quy định cụ thể mức thu lệ phí, chứng thực áp dụng đối với UBND cấp huyện trong đó có mức thu các loại hợp đồng, giao dịch như hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất (tính trên giá trị tài sản); chứng thực hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh (tính trên giá trị ghi trong hợp đồng); chứng thực hợp đồng vay tiền có hoặc không có cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh; hoặc chỉ chứng thực hợp đồng cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh (tính trên số tiền vay ghi trong hợp đồng vay). Nhưng Thông tư 93 lại không quy định mức thu lệ phí của UBND các cấp các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất… dẫn đến khó khăn cho cán bộ thực hiện việc chứng thực và công dân khi có yêu cầu chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch trên. Cụ thể, đầu tháng 3/2009 bà Huỳnh Thị N. đến UBDN xã T.T yêu cầu chứng thực hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, sau khi chứng thực hợp đồng cán bộ thụ lý không biết căn cứ vào mục nào để thu lệ phí chứng thực vì theo Thông tư liên tịch số 93 không quy định mức thu lệ phí đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nói trên.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì chỉ có UBND cấp xã và Phòng Công chứng mới có thẩm quyền công chứng hay chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất theo các quy định của Thông tư liên tịch số 04 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Vì vậy, các quy định của Thông tư 93 về thu lệ phí chứng thực không còn phù hợp với các quy định của Luật Đất đai hiện hành vì quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mới đã được mở rộng.

Continue reading

VIỆT NAM CÓ CẦN NGÂN HÀNG NHỎ?

TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG

Dẫn nhập

Trong tháng 12/2008 vừa qua, chúng ta đã chứng kiến những ngân hàng cuối cùng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bước vào tháng cuối cùng của lộ trình phải tăng vốn điều lệ lên con số 1.000 tỷ đồng như theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP. Nếu căn cứ vào tiêu chí quy mô vốn điều lệ, chúng ta có thể tạm gọi danh sách 9 ngân hàng cuối cùng phải tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng là các ngân hàng nhỏ(1), nhưng có thể thấy trên thực tế, tất cả các ngân hàng cổ phần tại Việt Nam đều không muốn nhỏ nữa. Trong niềm hứng khởi của thời gian đầu gia nhập WTO, các cơ quan giám sát ngân hàng đã mong muốn rằng các ngân hàng phải nâng cao tầm vóc của mình, để có thể nâng cao vị thế trong cạnh tranh và hội nhập. Thậm chí, đã xuất hiện những ý kiến cực đoan trên báo chí, cho rằng, vào WTO có nghĩa là các ngân hàng nhỏ của Việt Nam sẽ chết hết (?!). Có phải chăng, các nền kinh tế nói chung, và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, các ngân hàng nhỏ là không cần thiết, và chúng ta chỉ cần đến sự hiện diện và vai trò của các ngân hàng lớn?

Ngân hàng nhỏ – Bối cảnh Việt Nam

Lúc đó, trên các phương tiện thông tin đại chúng, đã xuất hiện những lo ngại cho rằng không phải dễ dàng mà tất cả 9 ngân hàng nói trên đều có thể đạt được mức vốn 1.000 tỷ đồng vào ngày 31-12-2008. Dù cuối cùng, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tất cả các ngân hàng đã đạt mức vốn điều lệ tối thiểu 1000 tỷ đồng theo lộ trình, nhưng viễn cảnh phải tăng lên mức vốn điều lệ tối thiểu lên 3000 tỷ đồng vào thời điểm 31/12/2010 lại đặt ra một thách thức mới cho các ngân hàng nói trên. Trong bối cảnh sụt giảm thê thảm giá cổ phiếu ngân hàng, trong tình trạng khủng hoảng và đình trệ kinh tế trong và ngoài nước, việc chào bán các cổ phiếu cho các cổ đông cũ, chào bán riêng lẻ các tổ chức kinh tế trong nước, việc tìm kiếm các đối tác chiến lược nước ngoài xem ra không còn là một việc thuận lợi như cách đây ba năm nữa.

Continue reading