SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG XUẤT BẢN: TẢN MÁT VÀ VƯỚNG VÍU

DOANH NHÂN – Từ năm nay, các tập đoàn xuất bản nước ngoài được tổ chức tự phát hành sách của mình thông qua một công ty mở tại Việt Nam. Khi đó, không cần bán tác quyền họ vẫn có thể tổ chức dịch, phát hành trên toàn Việt Nam. Lĩnh vực xuất bản vốn rất nhạy cảm với vấn đề sở hữu trí tuệ. Luật thì đã có từ lâu. Nhưng thực tế, tình hình vi phạm bản quyền trong lĩnh vực này vẫn chưa được cải thiện là bao!

Những kẽ hở … "đau"

Năm 2008, vụ tranh chấp về quyền tài sản giữa công ty Phan Thị và công ty Lê Linh đối với hình vẽ nhân vật Long Tinh trong bộ truyện tranh Long Thánh khi bộ sách này được công bố đã khiến dư luận chú ý. Xuất phát từ cùng một tác giả là họa sĩ Lê Linh, hai mẫu hình nhân vật truyện tranh: Trạng Tý (trong “Thần đồng đất Việt” của công ty Phan Thị) và Long Tinh (trong “Long Thánh”của công ty Lê Linh) được cáo buộc là có những nét giống nhau, với đơn khiếu kiện từ Phan Thị cho rằng: Lê Linh đã sử dụng hình ảnh Trạng Tý để làm ra tác phẩm phái sinh là Long Tinh. Theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, đây là hành vi vi phạm quyền tài sản đối với công ty Phan Thị. Tuy nhiên, phía Lê Linh lại cho rằng, do cùng một tác giả nên Long Tinh chỉ giống Trạng Tý về phong cách vẽ, và hình mẫu Long Tinh cũng đã được đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả.
Ở khía cạnh khác, khi có một vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, phía nguyên đơn còn có thể khiếu kiện theo các điều luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Luật cạnh tranh. Trong khi đó, theo giáo sư, tiến sĩ, luật sư Nguyễn Vân Nam thì Luật cạnh tranh của Việt Nam không định nghĩa thế nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Điều này tạo ra khả năng các bên bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vì quyền lợi liên quan đến kinh doanh sẽ sử dụng Luật Cạnh tranh để kiện bên vi phạm.
Trong khi đó, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng có những chỗ chưa chặt chẽ, chẳng hạn không nêu ra định nghĩa về “chủ sở hữu quyền tác giả”, trong khi đó Luật quy định quyền tác quyền tài sản. Luật lại cũng không định nghĩa thế nào là quyền tài sản, mà chỉ quy định 6 loại hình quyền tài sản. Điều này khiến cho trong một số trường hợp, các đồng tác giả xung đột nhau về quyền tài sản, về vai trò chủ sở hữu quyền tác giả mà không biết dựa vào điều luật nào để được bảo hộ.

Continue reading

DOANH NGHIỆP ĐÃ ĐƯỢC TÒA ÁN QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN: “CHẾT TREO”?!

HOÀNG QUỐC VIỆT

Đó là cách gọi nôm cho những doanh nghiệp đã được tòa án quyết định mở thủ tục phá sản, song chưa nhận được hay đúng hơn là không biết đến bao giờ mới nhận được tuyên bố phá sản.

Báo cáo năm 2008 của Tòa Kinh tế về phá sản doanh nghiệp cho thấy một tỷ lệ rất khả quan là 100% trong tổng số 136 vụ việc đã được giải quyết. Mấu chốt vấn đề nằm ở khái niệm “đã được giải quyết” không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục về phá sản, đã có thể chấm dứt mọi khoản nợ nần liên quan tới doanh nghiệp.

Có luật vẫn “treo”

Theo thuật ngữ chuyên môn trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp thì “đã giải quyết” có nghĩa là đã quyết định mở thủ tục phá sản, quyết định không mở thủ tục phá sản hoặc trả lại hồ sơ. Trong năm 2008, 131 trường hợp đã được tòa án quyết định mở thủ tục phá sản.

Tuy nhiên, theo bà Bùi Thị Hải, Phó tòa Kinh tế, quãng thời gian từ lúc doanh nghiệp nhận được quyết định mở thủ tục phá sản đến khi nhận được tuyên bố phá sản có thể là vài tháng, có thể là vài năm. “Đã có những doanh nghiệp chờ đợi đến 20 – 30 năm vẫn chưa “chết” được”, bà Bùi Thị Hải nói.

Như vậy, có thể thấy tỷ lệ các DN chính thức phá sản rất thấp. Nếu như nhìn vào con số thực hiện của TP.HCM trong quãng thời gian từ năm 2004 đến giữa năm 2008 mới có 4 DN nhận được tuyên bố phá sản trong số 27 trường hợp tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, thì 131 trường hợp của năm 2008 khó có thể có được sự đột biến nào.

Nguyên tắc bảo mật thông tin theo quy định khiến việc tiếp cận với các doanh nghiệp ngắc ngoải chờ chết này rất khó, song theo nhận định của bà Hải thì những trường hợp này đang làm đau đầu tất cả những người liên quan, từ bản thân doanh nghiệp đang chờ được phá sản, các chủ nợ, con nợ cho đến các cơ quan hành chính, tòa án… Nhiều hồ sơ thụ lý các vụ việc này đã được truyền tay qua nhiều người sau khi các cán bộ thụ lý đầu tiên đã nghỉ hưu theo chế độ.

Continue reading

DỰ THẢO QUẢN LÝ XE ÔM: “TRÓI CẲNG CHIM TRỜI”?!

VIETNAMNET – Thông tư (dự thảo) của Bộ GTVT hướng dẫn hoạt động kinh doanh xe 2 bánh phải có giấy phép kinh doanh đang gây xôn xao dư luận không chỉ khó khả thi, mà còn đi ngược lại chủ trương của Chính phủ, của chính Bộ GTVT! 

"Trói cẳng chim trời"!

Ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Giám đốc Sở GTVT Hà Nội cho biết, ông chưa nhận được bản dự thảo này, tuy nhiên, ông hoàn toàn bất ngờ khi biết nội dung này qua báo chí.

Ông Linh nói, hơn 10 năm trước, Sở GTVT cũng đã giao Thanh tra Sở GTVT siết chặt quản lý hoạt động xe ôm tại các bến xe, nhà ga bằng việc thành lập các đội xe ôm tự quản, có đăng ký với thanh tra sở, được sở này chấp thuận và cấp phép.

Tuy nhiên, đến năm 2000, khi có Quyết định số 19/2000 của Thủ tướng cùng Nghị định số 02/2000 về hướng dẫn đăng ký kinh doanh, trong đó có việc loại bỏ trên 100 "giấy phép con" gây phiền hà cho doanh nghiệp, thì Sở GTVT Hà Nội cũng đã "buông" quản lý hoạt động xe ôm từ ngày đó.

Cũng theo ông Linh, năm 2002, Bộ GTVT từng có Thông tư 03 về quy chế quản lí xe ôm, trong đó cũng nêu những điều kiện tương tự bắt buộc, nhưng không có điều kiện là phải có giấy phép kinh doanh như bây giờ. Song, thông tư này cũng bị phản đối và không đi vào cuộc sống.

"Nhưng không hiểu sao, sau 7 năm, những nội dung ấy lại được bê nguyên gần như hoàn toàn và nói là "dự thảo lần 3" – ông Linh nói.

Điều 3 dự thảo này quy định: người muốn tham gia kinh doanh xe ôm phải có hộ khẩu thường trú hoặc giấy tạm trú do chính quyền địa phương cấp. Có sức khỏe, có đơn xin tham gia vận tải hành khách…

Hiệu lực của đơn xin kinh doanh đối với người có hộ khẩu là một năm, với người có giấy tạm trú tối đa không quá một năm.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THI HÀNH ÁN TP. ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRÁI PHÁP LUẬT?

PHÚC ÂN

Mới đây, gia đình bà Lê Thị Tý, ngụ tại 17/7 Yết Kiêu, phường 6, TP Đà Lạt đã gửi đơn tố cáo đến các cơ quan chức năng Trung ương và địa phương về việc cán bộ cơ quan Thi hành án Dân sự (THA) TP Đà Lạt cố tình ra Quyết định THA trái ngược với Bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Lâm Đồng. Vụ việc này hiện đang được dư luận địa phương hết sức quan tâm. Thực hư ra sao?

Từ phán quyết của toà

Gia đình bà Lê Thị Tý là nguyên đơn dân sự trong vụ án "tranh chấp hợp đồng mua bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất" với ông Phạm Mùi, được TAND TP. Đà Lạt xét xử bằng Bản án sơ thẩm số 30 ngày 20.6.2007, và đã được TAND tỉnh Lâm Đồng xử phúc thẩm bằng Bản án số 34/2008/DSPT ngày 28.02.2008 với phán quyết: "Huỷ hợp đồng đặt cọc mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại số 17 Mai Hắc Đế, phường 6, TP Đà Lạt lập ngày 15.5.2003 giữa ông Phạm Mùi với ông Lê Văn Nghi, bà Lê Thị Tý. Buộc bà Tý, bà Lan, bà Hương, ông Khánh, bà Vân, bà Lộc, ông Phong, bà Thịnh, ông Phú, bà Hoa, bà Phượng phải chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Phạm Mùi 1.242.557.295đ. Buộc ông Phạm Mùi và bà Lê Thị Minh Nhi phải hoàn trả lại nhà, đất tại 17 Mai Hắc Đế, phường 6, Đà Lạt cho bà Tý, bà Lan, bà Hương, ông Khánh, bà Vân, bà Lộc, ông Phong, bà Thịnh, ông Phú, bà Hoa, bà Phượng. Căn cứ khoản 2 điều 305 Bộ luật Dân sự, kể từ ngày ông Mùi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Tý, bà Lan, bà Hương, ông Khánh, ông Phong, ông Phú, bà Phượng, bà Vân, bà Lộc, bà Thịnh, bà Hoa chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án". Ngoài ra, án phúc thẩm không có một điều khoản nào cho phép THA được lấy nhà đất của gia đình bà Tý giao, bán cho ông Mùi.

Đến khuất tất trong thi hành án

Theo trình bày của bà Tý, sau khi án phúc thẩm có hiệu lực, từ tháng 10.2008 gia đình bà đã nhiều lần làm đơn đề nghị THA TP. Đà Lạt cho thi hành án để bà tiến hành bán nhà đất này, thu tiền về thanh toán cho ông Mùi. Thế nhưng, không hiểu sao THA TP. Đà Lạt lại không thực hiện đơn yêu cầu THA của gia đình bà Tý và cũng không ra văn bản trả lời. Ngày 10.2.2009. Gia đình bà Tý có đơn đề nghị cưỡng chế THA đối với ông Mùi, nhưng THA Đà Lạt vẫn im lặng. Ngày 25.2.2009 gia đình bà lại có đơn khiếu nại gửi THA TP. Đà Lạt, THA tỉnh Lâm Đồng, VKSND TP. Đà Lạt về việc THA Đà Lạt không thực hiện đơn yêu cầu THA của gia đình bà theo luật định. Ngày 11.8.2008 ông Nguyễn Ngọc Thiện – Chấp hành viên THA TP. Đà Lạt ra Quyết định (QĐ) số 31 thành lập Hội đồng định giá tài sản lại nhà đất của bà Tý, trong khi gia đình bà Tý là chủ sở hữu tài sản nói trên lại không có tên trong danh sách để tham gia định giá trị tài sản của chính mình!.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: BÁN NHẦM VÉ, ĐẠI LÝ CHỐI TRÁCH NHIỆM

MINH NGUYÊN

Khách muốn bay đến tiểu bang nhưng đại lý lại bán vé đến thủ đô. Tính sao về thiệt hại phát sinh? Tháng 11-2008, bà O. (ngụ quận Phú Nhuận, TP.HCM) đến một công ty làm đại lý bán vé máy bay tại quận 3 đặt mua hai vé máy bay để đưa con sang Mỹ du học.

Bay nhầm chỗ

Theo lời kể của bà O., đại lý trên đã hỏi han bà rất tỉ mỉ để có thể thiết kế cho bà đường bay phù hợp. Sau khi xem những giấy tờ liên quan (như hộ chiếu, giấy gọi nhập học…), đại lý đã tư vấn cho bà nên mua vé máy bay của hãng hàng không K. cho rẻ tiền. Vốn chẳng rành rẽ đường đi đến một đất nước xa xôi, rộng lớn như Mỹ, bà O. đặt hết niềm tin và thực hiện y như chỉ dẫn của đại lý.

Một tháng sau đó, mẹ con bà O. bay sang Mỹ. Điều bất ngờ là thay vì bay đến nơi người con du học là thành phố Seattle thì hai người lại bay đến thủ đô Washington (Washington D.C), cách xa đến… 4.500 km! Đến lúc này, qua lời giải thích của nhân viên hải quan, bà mới biết hai chiếc vé của mình đã bị “lộn tiệm” nơi cần đến. Không còn cách nào khác, bà phải mò mẫm làm các thủ tục cần thiết và mua thêm một vé máy bay (gần 1.500 USD) để con bà đến được thành phố Seattle.

Ai có lỗi?

Trở về nước, bà O. đòi công ty làm đại lý bán vé máy bay bồi thường số tiền vé mua thêm nêu trên. Tuy nhiên, yêu cầu của bà đã không được công ty chấp thuận với lý do “khách hàng hoàn toàn có lỗi trong vụ việc”. Cụ thể, theo công ty thì việc xem xét hộ chiếu và giấy báo nhập học của con bà O. chỉ để đơn thuần xác định giấy đó thật hay giả nhằm giúp hãng có cơ sở bán vé giá rẻ dành cho học sinh du học chứ công ty không dựa vào đó để bán vé. Trước khi bán vé, công ty có hỏi bà O. muốn đi đến đâu thì bà trả lời là “Washington”. Căn cứ vào nội dung đặt hàng này, công ty đã bán vé đến Washington D.C.

Ngược lại, bà O. lập luận: “Hộ chiếu và giấy báo nhập học của con tôi ghi nơi đến là Seattle. Với hiểu biết và kinh nghiệm bán vé của mình, vì sao đại lý không chỉ vẽ tường tận để giúp khách hàng đi đúng nơi, về đúng chỗ? Lại nữa, tôi đã yêu cầu bay đến Washington thì cớ gì đại lý lại bán vé đến Washington D.C. Chẳng lẽ một công ty làm đại lý bán vé chuyên nghiệp cũng không phân biệt được hai địa danh này?”.

Continue reading