LỆNH CHUẨN VĂN HÓA

NHÀ SỬ HỌC. DƯƠNG TRUNG QUỐC

Mỗi con người ít nhiều mang trong mình một giá trị ảo bởi đều sống trong không gian và thời gian mà khái niệm của chuẩn mực đang xáo trộn để tiếp cận chân lý. Để tiến tới một chuẩn mực hoàn hảo thì hãy chấp nhận thay đổi từng bước.

Lệch chuẩn – hệ quả khó tránh khi chuyển đổi cơ chế

Xã hội nào cũng có hệ thống giá trị riêng. Nhìn lại Việt Nam hơn một thế kỷ qua, ai cũng thấy sự thay đổi ghê gớm đến thế nào. Một đất nước có truyền thống dân tộc dựa trên chế độ tiểu nông, lại nằm cạnh quốc gia sở hữu nền văn hóa lớn như Trung Hoa, những ứng xử đảm bảo cho một dân tộc được tồn tại và không rơi vào số phận như nhiều tộc người khác trên dòng Dương Tử đã tạo nên tính cách người Việt truyền thống. Bên cạnh sự mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam thể hiện qua nhiều cuộc chống ngoại xâm, người Việt cũng bộc lộ những hạn chế khi có điều kiện hội nhập với nền văn minh thế giới.

Trong hơn 30 năm (chống Pháp và chống Mỹ), nhiều tư tưởng tiến bộ đã phát huy sức mạnh của nó như đoàn kết dân tộc, phát hiện nhiều gương mặt tiên phong và mang tới một chỗ dựa kinh tế vững chắc. Nhưng khi bắt tay vào xây dựng chế độ mới, nó đã bộc lộ sự bất cập. Minh chứng rõ nhất là hệ thống xã hội coi trọng tầng lớp bần cố nông, hạ thấp một số tầng lớp khác trong đó có tầng lớp tri thức, tư sản nên đã hạn chế sự phát triển. Hay một trong những yếu tố được xã hội coi trọng là trí tuệ, mà đại diện cho trí tuệ là bằng cấp, học hàm, học vị. Nhưng vì đặt tiêu chuẩn bằng cấp ở mức tuyệt đối, xã hội đã nảy sinh việc mua quan bán tước, trở nên khá phổ biến.

Hệ thống giá trị có phần bị đảo lộn, không tạo nên chuẩn mực lâu dài mà chỉ mang tính nhất thời, nguyên căn bởi nó không có cội rễ truyền thống. Có một số giá trị giả. Sự thiếu chuẩn mực đã dẫn tới sự tuỳ tiện trong vận dụng. Chuẩn mực không có nền tảng trở thành giá trị ảo, tạo nên thứ đạo đức giả. Có những điều được coi là tiến bộ xã hội, nhưng nó không ăn nhập với chuẩn mực (mà thực tế sự chuẩn mực này cũng chưa rõ ràng) nên vô tình trở thành lạc lõng. Sự lệch chuẩn không chứng tỏ xã hội đang xấu đi, mà nó là hệ quả của sự chuyển đổi xã hội. Khi sự chuyển đổi liên tục diễn ra, hệ thống chuẩn mực tự thân cũng thay đổi.

Hãy công bằng hơn khi xét đoán chuẩn mực

Nhìn trong thời kỳ chuyển biến đó, sự lệch chuẩn là điều khó tránh khỏi. Chỉ khi xã hội hình thành nên nền kinh tế ổn định và phát triển, sự vận hành mới khiến những giá trị ảo mất dần. Cộng với những giá trị dân tộc, chuẩn mực sẽ dần thẳng đường tiến.

Continue reading

VỀ KHÁI NIỆM CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ

NGUYỄN TRUNG TÍN – Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

Trong số các văn bản pháp luật về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế ở Việt Nam hiện nay chúng ta mới có Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 mà chưa có các quy định về việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài kinh tế trong nước. Trong các bản Dự thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta, vấn đề này đã được đề cập.

Bài viết này nhằm mục đích làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế với mong muốn góp phần vào việc soạn thảo Pháp lệnh về trọng tài hiện nay ở nước ta.

Quyết định của trọng tài kinh tế được đề cập ở đây là quyết định cuối cùng (quyết định về thực chất vụ việc)(1 ). Để làm sáng tỏ khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế, cần phải xác định rõ các vấn đề sau:

– Thế nào là công nhận quyết định của trọng tài kinh tế?

– Thế nào là thi hành quyết định của trọng tài kinh tế?

– Thế nào là công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế?

– Có quyết định trọng tài kinh tế chỉ cần công nhận mà không cần thi hành hay không?

– Có quyết định trọng tài kinh tế vừa cần công nhận và vừa cần thi hành không?

– Mục đích công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế là gì?

– Khái niệm công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế khác với khái niệm công nhận và thi hành quyết định của tòa án kinh tế như thế nào?

– Việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế được tiến hành ở đâu?

1. Định nghĩa về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài kinh tế

“Công nhận” theo Từ điển Tiếng Việt là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp. Trong khi đó, “Thi hành” là việc làm cho điều gì đó trở thành hiệu lực (được thực hiện trên thực tế) điều đã được chính thức quyết định(2 ). Quyết định của trọng tài trên thực tế chỉ liên quan tới các bên tranh chấp, trong đó bên bất lợi trong việc công nhận và thi hành quyết định ấy phải thực hiện những hành vi nhất định mà anh ta không mong muốn trước khi đưa tranh chấp ra trọng tài. Thế nhưng vấn đề đặt ra là bên bị bất lợi đó (nguyên đơn hoặc bị đơn) có phải là người công nhận và thi hành quyết định đó hay không? Nếu có, thì sự công nhận như vậy được thể hiện như thế nào? Về mặt pháp lý và thực tiễn hoạt động của trọng tài, quyết định của trọng tài có thể được thực thi theo một trong hai cách sau đây:

Continue reading

VIỆN QUỐC TẾ VỀ NHẤT THỂ HÓA PHÁP LUẬT TƯ (UNIDROIT)

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Mở rộng quan hệ đối ngoại và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có việc gia nhập các tổ chức quốc tế (bao gồm cả tổ chức quốc tế trong lĩnh vực pháp luật) là một trong các chính sách và đường lối đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Ba (03) bài viết dưới đây sẽ giới thiệu tóm tắt chức năng, nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) – một trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ có chức năng nghiên cứu và thực hiện các hoạt động hiện đại hoá, hài hoà hoá pháp luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốc gia và các nhóm quốc gia – mà Việt Nam nên nghiên cứu gia nhập.

Tác giả các bài viết hy vọng thông tin về tổ chức này (chức năng nhiệm vụ;  thành tựu lập pháp, quy trình lập pháp; một số chính sách ưu tiên của tổ chức này dành cho các nước đang phát triển và đặc biệt là quyền lợi, nghĩa vụ của một quốc gia khi trở thành viên của UNIDROI) sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (trong đó có Bộ Tư pháp) tham khảo trong quá trình nghiên cứu gia nhập các thiết chế đa phương thuộc lĩnh vực pháp luật và tư pháp – một trong các nhiệm vụ quan trọng đã được đề ra trong các Chiến lược về cải cách pháp luật và tư pháp của Việt Nam.

Chức năng của UNIDROIT

Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư  (Iinternational Institute for the Unification of Private Law /Iinstitut International Pour l’unification du Droit Prive (UNIDROIT/ Viện) là tổ chức liên Chính phủ có trụ sở tại Rome – Ý. Mục đích của Viện là nghiên cứu nhu cầu và phương pháp hiện đại hoá, hài hoà hoá và điều hoà luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốc gia và các nhóm quốc gia.

Viện được thành lập vào năm 1926 với tư cách là một cơ quan giúp việc của Hội quốc liên. Sau khi Hội quốc liên tan rã, Viện đã được thành lập lại vào năm 1940 theo một thoả thuận đa phương – Quy chế của UNIDROIT.

Thành viên

Chỉ quốc gia nào gia nhập Quy chế của UNIDROIT thì mới được làm thành viên của UNIDROIT. Hiện nay UNIDROIT có 63 quốc gia thành viên từ 5 châu lục, đại diện cho nhiều hệ thống pháp luật, kinh tế và chính trị khác nhau, cũng như các truyền thống văn hoá khác nhau. Viện được cấp tài chính bằng đóng góp hàng năm từ các quốc gia thành viên với mức do Đại hội đồng ấn định và kinh phí cố định hàng năm do Chính phủ Ý đóng góp. Viện cũng có thể nhận được ngân sách bổ sung dành cho các mục đích do nhà tài trợ xác định. Tiền đóng góp này được đưa vào một quỹ riêng (quỹ tín thác).

Continue reading

KHÓ XỬ VỚI DOANH NGHIỆP TRÙNG TÊN

LÊ CHẤU

Sau khi hợp nhất Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn (Hòa Bình) vào tháng 11/2008, Hà Nội mở rộng có khoảng trên 600 doanh nghiệp bị trùng tên đang đồng thời hoạt động. Theo quy định hiện hành, trong một thành phố không được phép có hai doanh nghiệp trùng tên cùng hoạt động.

Trong tháng 12/2008, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải xử lý việc trùng tên doanh nghiệp của Hà Nội. Bộ có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện việc đổi dấu, mã số thuế, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phương án miễn thu lệ phí đổi dấu, đổi giấy phép đăng ký kinh doanh, xử lý đăng ký trùng tên.

Tuy nhiên, đã 3 tháng trôi qua, việc xử lý này vẫn giậm chân tại chỗ khi chưa thể tìm ra “lối thoát”, vì pháp luật chưa có quy định về xử lý việc trùng tên do điều chỉnh địa giới hành chính.

Nguy cơ tiềm ẩn

Từ phía các cơ quan quản lý nhà nước, điều mà họ trông đợi nhất trong các phương án giải quyết ổn thoả cho vấn đề trùng tên này là các doanh nghiệp tự thoả thuận và tự nguyện đổi tên.

Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Nguyễn Tiến Học cho biết việc xử lý 600 doanh nghiệp trùng tên là khá phức tạp, bởi không thể dùng chế tài để ép các doanh nghiệp đổi tên mà phải do họ tự nguyện.

Đây không phải là lỗi của doanh nghiệp, mà là hiện tượng bất khả kháng do quá trình hợp nhất các địa phương.

Luật Doanh nghiệp chỉ quy định cấm đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn trong một tỉnh, thành phố. Pháp luật chưa có quy định về xử lý việc trùng tên do điều chỉnh địa giới hành chính.

Continue reading

SẼ MINH BẠCH HÓA THỊ TRƯỜNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

HẠNH LIÊN

Giới chuyên môn đánh giá một số phương án cải cách cơ bản tạo quỹ đất nhà nước điều tiết thị trường bất động sản mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đang soạn thảo là những đổi mới khá “bạo", nếu những chính sách này không chỉ dừng lại trên giấy.

Đánh giá về nguyên nhân chính dẫn đến nạn đầu cơ đất đai, nhà ở và tình trạng sốt giá thời gian vừa qua, giới kinh doanh bất động sản cho rằng đang tồn tại một thị trường quyền sử dụng đất "ngầm" với những diễn biến phức tạp.

Vì vậy, quan điểm sửa đổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ là minh bạch hóa thị trường quyền sử dụng đất bằng những công cụ quen thuộc như công cụ tài chính (thuế, lệ phí, phí), để giảm bớt những chính sách gây khó cho nhà đầu tư và sự bất cập trong chính sách giá đất hiện hành dẫn đến khoản gía trị chênh lệch giữa giá nhà nước và thị trường rơi vào túi nhà đầu tư, người dân chịu thiệt.

Sẽ công khai quy hoạch

Bộ Tài nguyên và Môi trường thừa nhận, hiện nay việc lập quy hoạch sử dụng đất còn bị bó gọn theo địa giới hành chính, quy hoạch chạy theo dự án, manh mún, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế và chưa khai thác hết nguồn lực từ đất.

Thực tế, kết quả thực hiện thu hồi đất 3 năm qua trong cả nước không đạt đúng theo kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt. Nguyên nhân chủ yếu do chất lượng quy hoạch quá kém, nhiều công trình không có khả năng thực hiện.

Theo gợi ý của Bộ, kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sắp tới sẽ theo hướng quy hoạch càng xuống cấp dưới thì tiêu chí càng cụ thể, không đánh đồng 4 cấp lập quy hoạch cùng một kỳ, không dùng chỉ tiêu thống kê, kiểm kê đất đai hiện nay làm chỉ tiêu xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Căn cứ pháp lý hoạch định quỹ đất sẽ tạo nguồn cung trực tiếp cho thị trường đất đai, đảm bảo diện tích đất ở cho phép từ 20-40m2/người; đất giao thông 20-25% tổng diện tích; đất phục vụ mục tiêu công ích, xã hội 20-30% tổng diện tích; đất phục vụ mục tiêu hỗ trợ tái định cư 5-10% tổng diện tích.

Continue reading

TIÊU CHÍ NÀO NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN ?

NGUYỄN NGỌC VINH

Trải qua hơn hai mươi năm hình thành và phát triển, thị trường bất động sản (BĐS) nước ta được đánh giá là rất giàu tiềm năng, nhưng đã qua 3 lần biến động mạnh về giá [1]1, trong suốt thời gian từ cuối năm 2003 đến hết năm 2006 và từ đầu năm 2008 đến nay, sự đóng băng cục bộ trên thị trường nhà, đất đã làm sụt giảm vai trò chiến lược của toàn bộ hệ thống thị trường BĐS. Sự trì trệ của khu vực thị trường này đã gây thất thu lớn cho nguồn ngân sách nhà nước, lãng phí nguồn tài nguyên đất, hạn chế phát triển thị trường vốn và chậm tiến trình hội nhập…

Việc phân tích về những nguyên nhân gây ra sự đóng băng cũng như những giải pháp tháo gỡ luôn được các chuyên gia kinh tế, nhà hoạch định chính sách quan tâm. Trong phạm vi bài viết dưới giác độ người làm công tác nghiên cứu xin đề xuất một số tiêu chí nhằm phát triển bền vững thị trường BĐS trong tương lai, với kỳ vọng thị trường này sẽ phát triển ổn định hơn, góp phần thúc đẩy kinh tế nước ta hội nhập nhanh vào nền kinh tế toàn cầu và phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực.

1. Tại sao cần phải phát triển thị trường bất động sản theo hướng bền vững?

– Tài nguyên đất trong cơ cấu BĐS nói riêng và thị trường BĐS nói chung là tài sản đặc biệt của quốc gia vì tài nguyên đất không chịu tác động quy luật hao mòn vô hình, không thể thay thế được, có diện tích hữu hạn nhưng nhu cầu sử dụng thì vô hạn, sử dụng cho nhiều mục đích và là tài sản có giá trị lớn trong cơ cấu vốn của chủ thể sở hữu hoặc sử dụng nó [2]2. Mặt khác tài nguyên đất gắn liền với các yếu tố chủ quyền, an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia do đó tài nguyên đất luôn được quan tâm và quản lý chặt chẽ bằng các chính sách nhà nước nhằm tạo sự phát triển bền vững vừa thoả mãn nhu cầu của người sử dụng vừa đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng.

– Sự khác biệt của các công trình xây dựng trên đất (tuỳ vào mục đích sử dụng) khi tham gia giao dịch đã tạo ra tính đa dạng hàng hoá của thị trường BĐS như thị trường đất nông nghiệp, đất công nghiệp, nhà xưởng, nhà ở, BĐS dịch vụ, BĐS thương mại… mà chúng ta thường gọi chung là thị trường BĐS. Trong các năm qua thị trường nhà và đất, hai thị trường quan trọng của hệ thống thị trường BĐS phát triển không ổn định, không những làm giảm sút vai trò chiến lược của kinh tế BĐS mà còn chậm phát trong việc an sinh xã hội, do đó mấu chốt cơ bản để giải quyết căn bệnh trầm kha lúc nóng, lúc lạnh nhằm tạo sự ổn định trong tăng trưởng của từng khu vực bằng chiến lược phát triển bền vững thị trường BĐS là việc quan tâm hàng đầu của các chủ thể tham gia thị trường.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: LẠI TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN BÔNG

QUỲNH NHƯ

Doanh nghiệp dệt Việt Nam không nắm hết các quy định, điều khoản trong giao dịch mua bán bông nên khi có tranh chấp rất dễ bị thiệt. Cuối năm 2008, một số công ty Việt Nam bị một công ty Mỹ phản ứng vì “xù” hợp đồng mua bông. Mới đây, đến lượt một công ty Ấn Độ phản ứng với nội dung tương tự.

Đặt mua khi giá cao…

Ông Nguyễn Văn Tuấn – Phó Chủ tịch Hiệp hội Sợi Việt Nam cho biết sự vụ lần này liên quan đến ba doanh nghiệp dệt sợi Việt Nam. Đầu năm 2008, ba doanh nghiệp này đã đặt mua khoảng 3.000 tấn bông từ Công ty D.D Cotton (Ấn Độ), giá bông lúc đó còn cao và trên đà tăng giá, cao điểm đến 1.750 USD/tấn bông. Tuy nhiên, trong lúc chưa chuyển hàng, nhận hàng gì thì giá bông thế giới tụt rất nhanh, còn 1.400 USD/tấn. Vì vậy mà doanh nghiệp dệt sợi không muốn tiếp tục hợp đồng.

Nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục hợp đồng và nhận bông thì phải thanh toán cho Công ty D.D Cotton số tiền tương ứng với giá bông thời điểm ký hợp đồng trước đây (giá cao). Sau khi nhận, nếu doanh nghiệp bán sang tay số bông này cho doanh nghiệp khác thì phải bán theo giá thị trường sau này (giá thấp). Nếu không sang tay mà dùng bông này làm ra sợi hoặc dệt vải và bán cho các doanh nghiệp dệt may thì cũng phải bán theo giá thị trường (giá thấp), nếu bán giá cao thì công ty dệt may sẽ tìm mối hàng khác giá rẻ. Như vậy, tính đường nào cũng chịu lỗ, cứ nhận về mỗi tấn bông thì doanh nghiệp sẽ lỗ khoảng 300 USD. Như vậy, 3.000 tấn bông sẽ lỗ 900.000 USD, tương đương 15,3 tỷ đồng.

Vào lúc khác thì cũng có thể bấm bụng thanh toán cho xong, coi như rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, năm 2008-2009 là thời điểm khó khăn tài chính, mất một đồng cũng đau lòng xót dạ, nói gì 15,3 tỷ đồng. Do đó, các doanh nghiệp này mới muốn hủy hợp đồng, không mua bông nữa.

Trì hoãn giao hàng, chờ giá thấp?

Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra với nhà cung cấp bông ở Mỹ (Công ty Louis Grewfus). Cuối năm ngoái, nhà cung cấp này đã sang Việt Nam làm việc với Bộ Công thương để yêu cầu mười doanh nghiệp mua bông giải quyết. Mười doanh nghiệp này đã đặt mua khoảng 6.000 tấn bông (doanh nghiệp mua nhiều nhất là 1.000 tấn, ít nhất là 200 tấn) vào thời điểm giá cao.

Continue reading

CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ: MỘT CÔNG CỤ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC

TS. LÊ VĂN HẢO

Đảm bảo chất lượng bên trong là một yêu cầu không thể thiếu đối với các trường đại học trong quá trình tham gia kiểm định chất lượng. Bài viết này nhằm góp phần cung cấp cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng bên trong và giới thiệu lý thuyết Chu trình phát triển giá trị, một công cụ quản lý kinh tế được vận dụng vào giáo dục đại học nhằm hỗ trợ công tác đảm bảo chất lượng bên trong ở các trường.

I. CHẤT LƯỢNG VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG

I.1 Khái niệm ‘chất lượng’ đối với ‘khách hàng’ của giáo dục đại học

Chất lượng là một khái niệm có tính phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng thực ra nó không được định nghĩa một cách thống nhất, ngay cả trong lĩnh vực giáo dục bởi lẽ mỗi bên có liên quan (stakeholder) quan niệm ‘chất lượng’ giáo dục theo những chuẩn mực riêng của họ.

Trong lĩnh vực giáo dục đại học (GDĐH), khi nói đến chất lượng, chúng ta thường quan tâm đến phầngiáo dục, tức hay bàn đến chất lượng đào tạo (training quality). Chất lượng đào tạo thường được xác định qua các tiêu chí liên quan đến kiến thức, kỹ năng, thái độ sinh viên (SV) có được sau những khóa học hoặc sau khi ra trường. Tuy nhiên, ở một bình diện rộng hơn và nếu dựa trên quan niệm của ‘khách hàng’ (client/consumer), chất lượng GDĐH (higher education quality) thường được xác định là mức độ hài lòng của họ đối với các loại ‘sản phẩm’ mà GDĐH tạo ra (phần sau sẽ phân tích về ‘khách hàng’ và ‘sản phẩm’ của GDĐH).

Đối với GDĐH, việc đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của ‘khách hàng’ khó có thể diễn ra một cách triệt để, bởi lẻ sản phẩm của GDĐH cần thời gian ‘sản xuất’ khá lâu (chẳng hạn 4-6 năm cho một khóa đào tạo bậc đại học), trong khi nhu cầu và thị hiếu thường thay đổi nhanh chóng hơn. Vì vậy, hoạt động ‘sản xuất’ của GDĐH cần có sự định hướng mang tính chiến lược hơn là sự thõa mãn những nhu cầu và thị hiếu trước mắt.

I.2 Đảm bảo chất lượng bên trong

Có hai khái niệm song hành về đảm bảo chất lượng: đảm bảo chất lượng bên trong (internal quality assurance) và đảm bảo chất lượng từ bên ngoài (external quality assurance). Trong khi đảm bảo chất lượng bên trong là trách nhiệm của mỗi tổ chức thì đảm bảo chất lượng từ bên ngoài được tiến hành bởi các cơ quan chịu trách nhiệm về kiểm định chất lượng.

Continue reading