THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI NẰM TRONG TOP 20 THÀNH PHỐ CÓ MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC KÉM

KIỀU OANH

Tạp chí Business Week của Mỹ vừa công bố một danh sách những thành phố có môi trường làm việc kém nhất thế giới. Tp.HCM và thủ đô Hà Nội của Việt Nam lần lượt đứng ở vị trí thứ 9 và 11 trong danh sách gồm 55 thành phố này.

Danh sách mà Business Week đưa ra được thực hiện bởi công ty tư vấn nguồn nhân lực toàn cầu ORC Worldwide, có trụ sở tại New York (Mỹ). Đáng chú ý, tất cả 55 thành phố trong danh sách này đều nằm ngoài Mỹ, Canada và Tây Âu. Tất cả đều thuộc các quốc gia và khu vực châu Phi, Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á, Trung, Trung Đông, và Đông Âu.

Tiêu chí xếp hạng là mức độ ô nhiễm, nguy cơ bệnh tật, bạo lực chính trị, mức độ tiện lợi về hàng hóa và dịch vụ… Ngoài ra, các thành phố trong danh sách còn được phân loại theo mức độ rủi ro mà người lao động ở đó phải hứng chịu, gồm các mức rất cao, cao và trung bình.

Danh sách này không tính tới những địa chỉ có xảy ra chiến tranh hay bị cô lập, như Baghdad của Iraq, Harare của Zimbabwe, hay Bình Nhưỡng của CHDCND Triều Tiên…

Đứng đầu trong danh sách những thành phố có môi trường làm việc kém nhất này là thủ đô Lagos của quốc gia châu Phi Nigeria. Lagos được xếp vào nhóm những thành phố có mức độ rủi ro rất cao. Những vấn đề nghiêm trọng nhất ở thành phố này là cơ sở hạ tầng cực yếu kém và tội phạm nhan nhản.

Xếp thứ 9 và 11 trong danh sách, Tp.HCM và thủ đô Hà Nội của Việt Nam được các chuyên gia thực hiện danh sách đánh giá là thành phố có độ rủi ro cao.

Các vấn đề gây nhiều phiền toái nhất cho người lao động nước ngoài tại hai thành phố này cùng được ORC Worldwide cho là nguy cơ mắc nhiều bệnh tật và vệ sinh kém. Những hạn chế khác của Hà Nội là vấn đề y tế, cơ sở hạ tầng, giải trí… Trong khi đó, Tp.HCM còn bị đánh giá thấp ở các vấn đề khí hậu, ô nhiễm, và tội phạm…

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 433/BXD-QLN NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG XIN Ý KIẾN SỬA ĐỔI ĐIỀU 126 LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 LUẬT ĐẤT ĐAI

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình số 144/TTr-CP ngày 01/10/2008 trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở, theo hướng mở rộng đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Ngày 11 tháng 10 năm 2008, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã họp để nghe và cho ý kiến về dự án Luật này. Tại cuộc họp, các thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội đều nhất trí về sự cần thiết phải trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở. Tuy nhiên, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho rằng, việc Chính phủ đề xuất bổ sung các đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như nêu tại khoản 1 Điều 126 sửa đổi là rộng và chưa có quy định cụ thể để loại bỏ các đối tượng tham gia các đảng phái phản động, chống phá đất nước khỏi diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Đồng thời, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đề nghị Chính phủ xem xét để sửa đổi, bổ sung Điều 121 Luật Đất đai có nội dung quy định về đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở giống như các đối tượng quy định tại Điều 126 Luật Nhà ở, đảm bảo sự đồng bộ và dễ áp dụng.

Thực hiện ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Bộ Xây dựng đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thống nhất báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin ý kiến về việc tiếp thu sửa đổi Dự án Luật. Được sự đồng ý và ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ đã ký Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến số 08/BC-CP Ngày 19/1/2009 gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Nội dung đề xuất của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121 Luật đất đai cơ bản như sau:

1. Về đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam: Bố cục lại khoản 1 Điều 126 theo hướng phân đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nói chung thành 2 dạng:

– Người có quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam); và

– Người gốc Việt Nam thuộc diện: về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước thì được sở hữu nhà ở không hạn chế số lượng.

– Những đối tượng còn lại (quy định tại Khoản 2 Điều 126 cũ) nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một (01) nhà ở riêng lẻ hoặc một (01) căn hộ chung cư.

Continue reading →

KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC (Ban hành kèm theo Quyết định số 365/QĐ-TTg ngày 20 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ)

I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU

1. Mục tiêu

Kế hoạch này phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho các Bộ, ngành địa phương để triển khai thực hiện Luật cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

2. Yêu cầu

Các Bộ, ngành, địa phương được giao nhiệm vụ chủ trì hoặc tham gia phối hợp phải bảo đảm tiến độ và chất lượng sản phẩm theo nhiệm vụ được phân công tại Kế hoạch này.

II. CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ

1. Tuyên truyền, phổ biến Luật cán bộ, công chức

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao và thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về Luật cán bộ, công chức và các văn bản quy định chi tiết Luật cán bộ, công chức.

– Thời gian thực hiện: Trong năm 2009 và năm 2010.

– Cơ quan chủ trì: Bộ Nội vụ.

– Cơ quan phối hợp: Bộ Tư pháp.

2. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về cán bộ, công chức.

Các Bộ, ngành và địa phương tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, thống kê những văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ để phù hợp với Luật cán bộ, công chức. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

– Thời gian hoàn thành: tháng 6 năm 2009.

– Cơ quan chủ trì: Các Bộ, ngành, địa phương.

Continue reading →

DỊCH VỤ ĐÒI NỢ: NGHỀ KHÓ NHƯNG THU NHẬP CAO

DDDN – Sau một loạt doanh nghiệp (DN) làm dịch vụ thu nợ tại Hà Nội bị bắt vì những hành vi trái pháp luật khi thực hiện… ngành nghề của mình, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ (DVĐN). Theo đó, chỉ những DN được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh DVĐN mới được phép hoạt động trong lĩnh vực này và DN đó không được kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào khác ngoài DVĐN. Tuy vậy, theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đây là một nghề cần được phát triển vì không một xã hội nào phát triển được nếu thiếu các khoản nợ.

Trong nền kinh tế thị trường nợ là bình thường đối với quốc gia, DN, cá nhân, hộ gia đình trong phạm vi cân đối được tài khoản phải thu, phải trả. Quan hệ nợ bình thường là sự liên kết, hợp tác của các bên vừa mang yếu tố kinh tế vừa chứa đựng thiện chí đồng thời thúc đẩy sự hình thành và thực hiện các ý tưởng kinh doanh. Nhiều chủ nợ, Cty dịch vụ đòi nợ đã tư vấn để khách nợ làm ăn có hiệu quả, trả nợ cũ vay mới. Có trăm ngàn cách vay, lý do phát sinh nợ quá hạn thì cũng có từng ấy cách… đòi nợ.

Chưa rõ thị trường cạnh tranh DVĐN

Hiện chúng ta đã có nhiều hình thức… đòi nợ mà thiết nghĩ nên gọi là xử lý nợ để mở rộng phương pháp hành nghề.

– Đối với Nhà nước có Cty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của DN thành lập theo Quyết định 109/2003/QĐ-TTg, là DNNN với vốn Điều lệ 2.000 tỷ đồng được ngân sách cấp, Cty được kinh doanh các ngành nghề khác;

– Các DN làm dịch vụ đòi nợ theo Luật DN và được điều chỉnh bằng Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007.

– Các Cty xử lý nợ của các ngân hàng thương mại.


Một ví dụ khá thành công của dịch vụ thu nợ là Cty TNHH dịch vụ thu hồi nợ và tư vấn Nhật An (TP HCM) thành lập năm 1997 đến 2007 đã nhận được 15.000 đầu mối “tằm tơ”, trung bình mỗi năm có đến 1.000 hồ sơ. Cty đã giải quyết được 80% số hồ sơ đòi nợ với giá dịch vụ từ 22-25% tổng số tiền thu được, thu đến đâu khấu luôn đó. Nếu bình quân mỗi hồ sơ nợ Cty thu được 10 triệu đồng thì 10 năm qua Cty thu thuần từ dịch vụ đòi nợ được 120 tỷ đồng, xứng đáng cho một nghề khó nhưng có thu nhập cao, không những vậy còn góp phần chống các dịch vụ xiết nợ kiểu “xã hội đen”.


 

Continue reading →

HƠN MỘT THÁNG NGHỊ ĐỊNH CHỐNG THƯ RÁC CÓ HIỆU LỰC: TIN RÁC VÔ TƯ HOÀNH HÀNH

MINH LÝ

Nghị định số 90 về chống thư rác có hiệu lực từ 9.2. 2009, những người dùng Intenet, điện thoại di động tưởng đã tránh được sự phiền toái từ những tin nhắn quảng cáo không rõ nguồn gốc… nhưng theo phản ánh thì những loại tin này vẫn mặc sức hoành hành, thậm chí với số lượng nhiều hơn.

Tin rác tràn lan

Theo Nghị định 90, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ nội dung từ ngày 9.2 khi nhắn tin quảng cáo qua di động đều phải được gắn nhãn quảng cáo rõ ràng và phải cung cấp đầy đủ các loại hình từ chối bằng tin nhắn, số điện thoại cho người nhận.

Trong đó, theo quy định của nghị định và Thông tư 12 của Bộ Thông tin và Truyền thông, các nhà cung cấp dịch vụ nội dung sẽ phải đăng ký với Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, là đơn vị quản lý để được cấp mã số, gắn nhãn quảng cáo và các quy định trên SMS quảng cáo. Trong đó, nội dung tin nhắn rác cũng được "nâng cấp", khi không chỉ dừng lại ở quảng cáo dịch vụ, sản phẩm mà còn tập trung vào chuyện xem bói qua ngày tháng năm sinh, chuyện giới tính, hình ảnh sex… Những tin nhắn kiểu như: Tặng bạn 5 hình nén + 5 nhạc chương trình HOT miễn phí, soạn SPRSP gửi 8xxx; tặng bạn 10 người đẹp Bikini nóng bỏng và quyến rũ, soạn: TDT 125 gửi 8xxx… hàng ngày vẫn được "xả" vào các số điện thoại di động, gây bực bội cho người dùng. Tình trạng tin nhắn quảng cáo không có trách nhiệm, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, thậm chí lừa đảo thực tế vẫn đang khá phổ biến, một lãnh đạo của VNCERT cho biết. Theo ông Đỗ Ngọc Duy Trác, Trưởng phòng nghiệp vụ VNCERT, ngay sau ngày 9.2.2009, VNCERT đã nhận được nhiều công văn của các nhà cung cấp dịch vụ nội dung gửi đến đề nghị được cung cấp mã số quản lý, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp bị từ chối do chưa đủ điều kiện hợp lệ, một số còn lại vẫn trong quá trình thẩm định. Chính vì thế, theo VNCERT, đến thời điểm này mới chỉ có Công ty Cổ phần Truyền thông GAPIT đã được cấp mã số, còn lại tổng số hơn 160 nhà cung cấp dịch vụ và nội dung, nếu thực hiện gửi tin nhắn quảng cáo đều vi phạm Nghị định 90. Căn cứ theo nghị định sẽ có những hình thức xử phạt thích đáng, thậm chí thu hồi đầu số. "Đến thời điểm này có thể khẳng định doanh nghiệp nào chưa có mã số quản lý phải dừng ngay việc quảng cáo tự do qua tin nhắn SMS, vì hầu hết tin nhắn quảng cáo hiện nay đều vi phạm Nghị định chống thư rác", TS Vũ Quốc Khánh, Giám đốc VNCERT, cho biết.

Continue reading →

THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC VẤN ĐỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 76/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP

HOÀNG QUỐC HÙNG – Thanh tra Bộ tư pháp

Thực hiện Quyết định số 140/QĐ-TTR ngày 20/6/2008 của Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp về việc thành lập Đoàn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh tra do Thanh tra Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp cùng với Vụ Bộ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành làm việc tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, Văn phòng Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh và 140 tổ chức hành nghề luật sư và chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, cụ thể:

– Tại thành phố Hà Nội, Đoàn đã thanh tra tổng số 66 tổ chức và chi nhánh các tổ chức, gồm: 35 văn phòng luật sư, 01 chi nhánh văn phòng luật sư, 12 công ty luật, 10 chi nhánh công ty luật và 06 trung tâm tư vấn pháp luật;

– Tại thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn đã thanh tra tổng số 74 các tổ chức và chi nhánh các tổ chức, gồm: 45 văn phòng luật sư, 4 chi nhánh văn phòng luật sư, 18 công ty luật, 10 chi nhánh công ty luật và 02 trung tâm tư vấn pháp luật.

Đoàn Thanh tra xin báo cáo Bộ trưởng khái quát về tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số vấn đề nổi cộm, vướng mắc từ kết quả thanh tra như sau:

I. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Đối với Sở Tư pháp thành phố Hà Nội

1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội

– Theo báo cáo của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, tính đến thời điểm thanh tra số lượng các tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:

+ Số lượng các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam: 312 tổ chức (249 văn phòng luật sư và 63 công ty) và 18 chi nhánh các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam;

+ Số lượng các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài: 22 tổ chức;

+ Số lượng các tổ chức hành nghề tư vấn pháp luật: 11 Trung tâm.

+ Số lượng tổ chức hành nghề luật sư bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động:  05 (đều là tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và lý do bị thu hồi là: 02 trường hợp do luật sư – trưởng văn phòng bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư; 03 trường do luật sư – trưởng văn phòng là công chức nhà nước, thôi không làm luật sư.

Continue reading →

KÝ KẾT, GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ – KINH NGHIỆM CỦA CANADA

T.T.T

Hiến pháp Canada phân chia quyền lập pháp cho từng cơ quan từ cấp liên bang đến cấp tỉnh, thành phố, theo đó Quốc hội (cơ quan lập pháp liên bang) chịu trách nhiệm lập pháp về các vấn đề liên quan đến thương mại, cơ quan lập pháp cấp tỉnh chịu trách nhiệm lập pháp về những vấn đề liên quan đến phạm vi quản lý của các tỉnh và các cơ quan chính quyền địa phương khác cũng xây dựng pháp luật để điều chỉnh các vấn đề của địa phương do mình quản lý.

Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

Theo quy định của Hiến pháp Canada, Hoàng gia có đặc quyền về ký kết các điều ước quốc tế, đặc quyền này được Chính phủ Hoàng gia Anh trao cho cơ quan hành pháp Canada, và do vậy thẩm quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế thuộc phạm vi quyền hạn của cơ quan hành pháp liên bang do Thống đốc Canada thực hiện, dưới sự tư vấn và chấp thuận của Hội đồng Cơ mật của Nữ hoàng Canada (Nội các), quyền về ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của cơ quan hành pháp liên bang bao gồm cả các vấn đề thuộc thẩm quyền lập pháp của cấp tỉnh vì theo quy định của Hiến pháp thì chính quyền cấp tỉnh không có quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế. Trong khi đó, chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) chỉ được toàn quyền ký các thoả thuận không ràng buộc với chính phủ các nước khác (cả ở cấp trung ương và địa phương). Ngoài ra, cơ quan chính phủ liên bang (như các Bộ) cũng có toàn quyền ký các thoả thuận không ràng buộc với chính phủ các nước. Mục đích của việc ký kết các thoả thuận không ràng buộc này là nhằm nâng cao khả năng hợp tác hành chính (công nhận các quy định pháp luật của nhau, ví dụ như về cấp giấy phép lái xe) cũng như chia sẻ các nguyện vọng và quan điểm chính trị .v.v… Chính quyền liên bang, địa phương và các cơ quan Chính phủ cũng có thể ký kết các hợp đồng thương mại với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ví dụ như các hợp đồng thuê tài sản).

Quy trình ký kết điều ước quốc tế ở Canada

Bước1: Thông qua tham vấn, xác định và khẳng định các ưu tiên về chính sách đối với điều ước quốc tế. Bước này tiến hành thực hiện việc tham vấn với các Bộ khác của Chính phủ liên bang, với các tỉnh và vùng lãnh thổ, các nhóm liên quan và các tổ chức phi Chính phủ (như các tổ chức về môi trường) và các ngành công nghiệp liên quan.

Thảo luận, làm rõ nội dung dự thảo điều ước quốc tế  với quốc gia/các quốc gia khác

Bước 2: Xin phép cơ quan hành pháp liên bang (Nội các) về việc đàm phán điều ước quốc tế. Việc xin phép có thể được thực hiện thông qua hình thức văn bản “Báo cáo Nội các” hoặc thực hiện thông qua xác định và khẳng định việc Nội các uỷ quyền đàm phán.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 24/2006/DS-GĐT NGÀY 07-9-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

…

Ngày 7 tháng 9 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Trần Tấn Hiệp, sinh năm 1943;

2. Bà Vũ Thị Thục Đức, sinh năm 1943 (vợ ông Hiệp).

Cùng trú tại: Số 75 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

1. Ông Lê Trọng Đỉnh, sinh năm 1949;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh, sinh năm 1952 (vợ ông Đỉnh).

Cùng trú tại: Số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Tại đơn khởi kiện ngày 5-6-2002 và các lời khai tại Toà án ông Trần Tấn Hiệp và bà Vũ Thị Thục Đức trình bày: Ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chúng tôi. Từ tháng 3-2000 đến tháng 6-2000 vợ chồng chúng tôi đã vay ông Đỉnh nhiều lần tiền để kinh doanh; tháng 9-2000 vợ chồng chúng tôi đã cho vợ chồng ông Đỉnh vào ở nhờ ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ. Khi đó hồ sơ về ngôi nhà vợ chồng chúng tôi đang thế chấp tại Ngân hàng Hàng Hải để vay tiền kinh doanh. Vợ chồng chúng tôi có vay ông Đỉnh một số tiền; sau này chúng tôi được biết số tiền ông Đỉnh cho chúng tôi vay thực chất là tiền của Công ty Bắc Sơn mà chúng tôi là đồng sở hữu, ông Đỉnh đã rút ra cho chúng tôi vay lại. Khoảng năm 2000 Ngân hàng Hàng Hải là nơi chúng tôi thế chấp ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ để vay tiền đã thúc ép chúng tôi phải thanh toán tiền cho Ngân hàng, do vậy vợ chồng tôi đồng ý để ông Đỉnh nộp một phần tiền với tư cách chúng tôi nợ ông Đỉnh để trả nợ Ngân hàng Hàng Hải và giải chấp ngôi nhà trên. Ngày 01-02-2001, Ngân hàng Hàng Hải đã trả toàn bộ giấy tờ nhà cho chúng tôi. Sau khi giải
chấp ngôi nhà, do nghĩ là vợ chồng tôi đã nợ ông Đỉnh một số tiền lớn nên
ngày 06-3-2001, vợ chồng chúng tôi đã viết giấy nhận nợ ông Đỉnh 5 tỷ đồng, cùng ngày chúng tôi đưa ông Đỉnh toàn bộ giấy tờ của ngôi nhà. Mục đích chúng tôi đưa giấy tờ nhà cho ông Đỉnh là tạo điều kiện cho ông Đỉnh thế chấp nhà để vay tiền Ngân hàng.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 34/2006/DS-GĐT NGÀY 05-10-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

…

Ngày 05 tháng 10 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lâm Ngọc Lắm, sinh năm 1943; trú tại: Hoa Kỳ (ông Lắm uỷ quyền cho ông Lâm Ngọc Hiệu, sinh năm 1928; trú tại ấp Long Hoà 2, xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ nay là tỉnh Hậu Giang).

Bị đơn: Bà Lâm Thị Mịnh, sinh năm 1927; trú tại: ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (bà Mịnh uỷ quyền cho con là anh Nguyễn Phước Hành, sinh năm 1961; trú tại: ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ nay là ấp 2 đường Nguyễn Trung Trực, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lâm Thị Ảnh, sinh năm 1946; trú tại: ấp Long Hoà 2, xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang);

2. Bà Lâm Thị Kỉnh, sinh năm 1925; trú tại: ấp 5, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (hiện nay không còn cư trú tại địa chỉ trên);

3. Ông Lâm Ngọc Hiệu, sinh năm 1928; trú tại: ấp Long Hoà 2, xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang);

4. Anh Nguyễn Phước Hành, sinh năm 1961; trú tại ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là ấp 2 đường Nguyễn Trung Trực, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang).

NHẬN THẤY:

Cụ Lâm Ngọc Hậu (chết năm 1975) có vợ là cụ Hồ Thị Hứng (chết năm 1990), đều không để lại di chúc. Hai cụ có 5 con là bà Lâm Thị Mịnh, bà Lâm Thị Kỉnh, ông Lâm Ngọc Hiệu, ông Lâm Ngọc Lắm, bà Lâm Ngọc Ảnh.

Tài sản của cụ Hậu và cụ Hứng là 1 căn nhà không số trên 76 m2 đất ở tại ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (cũ). Từ năm 1985 nhà, đất do anh Nguyễn Phước Hành (con trai bà Mịnh) quản lý và sử dụng. Trong quá trình quản lý và sử dụng anh Hành có sửa chữa nhỏ.

Continue reading →