CẤM TRẺ ĐỂ RĂN NGƯỜI LỚN: BÀI HỌC VỀ CÁCH LÀM LUẬT

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cấm bán rượu, thuốc lá cho người chưa thành niên là biện pháp mà nhà lập pháp ở Pháp quyết định áp dụng trong các nỗ lực xây dựng (hay phục hồi) hình ảnh giới trẻ Pháp khoẻ mạnh, trong sáng

Với lệnh cấm này, những người bán rượu, thuốc lá từ nay phải cảnh giác khi đứng trước một khách hàng trẻ tuổi: tốt nhất là kiểm tra chứng minh thư để xem khách có đủ năng lực để mua những thứ cấm kỵ đó hay không, trước khi tiến hành giao dịch. Nhà chức trách, về phần mình, phải thiết lập một hệ thống kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm phát hiện vi phạm. Có vẻ như bảo đảm tính hữu hiệu của lệnh cấm này sẽ là chuyện rất tốn kém và không đơn giản.

Thực ra, người ta không hề ảo tưởng về việc cách ly tuyệt đối thiếu niên, nhi đồng với những chất kích thích độc hại ấy chỉ bằng một lệnh cấm. Vả lại, luật cấm mua bán đối với người chưa thành niên, nhưng không cấm người này tiêu dùng. Nói khác đi, miễn là không tự mình đi mua, trẻ em, thiếu niên, về mặt lý thuyết, vẫn có thể uống rượu, hút thuốc thoải mái, và điều đó hoàn toàn hợp pháp.

Song, không nên vội từ đó kết luận rằng, luật pháp quá sơ hở trong vụ này, và coi chừng, không khéo với lệnh cấm, nhà chức trách chỉ đi làm trò cười cho thiên hạ. Nếu cho rằng, người làm luật nhắm đến mục tiêu ngăn chặn sự cám dỗ của tệ nạn nghiện ngập đối với thế hệ trẻ, thì có thể thấy ngay vấn đề bật ra: trong hoàn cảnh nào, mà người chưa thành niên có khả năng tiếp xúc với rượu, thuốc lá?

Theo các kết quả điều tra trong khuôn khổ đánh giá tác động xã hội của điều luật, đa số những người chưa thành niên ở Pháp sống dưới sự chăm sóc, quản lý của cha mẹ, nói chung, của người thân thuộc đã trưởng thành. Nếu không được phép tự mình mua rượu, thuốc lá, họ hầu như chỉ có thể có được những thứ ấy thông qua vai trò của những người có quyền quản lý đối với mình.

Continue reading

NHÀ Ở VÀ “BÀN TAY NHÀ NƯỚC”

HUY ĐỨC

“Nhà ở xã hội” trở thành tin trang nhất trên các báo ra ngày 15.3.2009. Chương trình được nói là sẽ cung cấp nhà ở cho sinh viên, công nhân và những người có thu nhập thấp. Trước khi một chính sách lớn như vậy có thể “đi vào cuộc sống”, chắc chắn các dữ liệu còn được thu thập và các nhà hoạch định chính sách sẽ phải phân tích nhiều hơn. Bởi, đây là một quyết định không chỉ sử dụng rất nhiều tiền bạc, sẽ tác động xã hội lâu dài mà còn có ý nghĩa “kích cầu” trước mắt

Dự án 200.000 căn hộ thuộc chương trình nhà ở xã hội, nếu được thực hiện, chắc chắn, sẽ có tác động tới thị trường. Ít nhất là ở khía cạnh tiêu thụ một khối lượng sắt, thép, xi măng khổng lồ và thu hút hàng trăm nghìn công nhân xây dựng. Những doanh nghiệp được “chỉ định” thực hiện dự án cũng sẽ là những địa chỉ được hưởng lợi lớn vì họ được quyền quyết định giá bán các căn hộ sao cho đảm bảo cho mình “10% lợi nhuận”. Vấn đề là chưa biết Nhà nước sẽ lấy “đất sạch” từ đâu để giao cho các doanh nghiệp này xây dựng.

Tuy nhiên, “sản phẩm” mới là câu chuyện rất cần được bàn. Cho dù: được miễn tiền sử dụng đất; được phép tăng mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất 1,5 lần; được áp dụng thuế suất VAT là 0%… Giá thành, theo ước tính của bộ Xây dựng, “không quá” 7 triệu đồng/m2, khiến cho giá một căn hộ loại nhỏ nhất, 30m2, cũng lên tới hơn 200 triệu đồng. Trong khi, đối tượng mà chương trình này nhắm đến là “3 triệu sinh viên đại học; 2,5 triệu lao động ở 194 KCN” mà theo bộ Xây dựng, mới “chỉ có khoảng 20% có nhà ở với 2% được ở trong các nhà trọ đàng hoàng…”. Liệu công nhân KCN, có thể mua nhà 200 triệu đồng hay bỏ ra một khoản tiền, nếu tính đủ phải hơn hai triệu đồng/tháng, để thuê nhà xã hội?

Một trong những điều kiện thắng lợi của chính sách kích cầu là phải biết rõ đường đi của từng đồng bạc và tốt nhất là đồng tiền ấy được đưa thẳng tới người tiêu dùng. Nhà ở cho công nhân trong các nhà máy, trong các KCN lẽ ra phải được quan tâm từ lâu và nó, vừa phải nhất quán vừa phải được thể hiện đồng thời trong nhiều chính sách. Không chỉ có người lao động, các “ông chủ” của họ cũng có quyền lợi và sẽ tích cực xây nhà ở cho công nhân nếu: những khoản đầu tư này được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp; được tài trợ lãi suất từ các quỹ tín dụng đầu tư… Không thể nghĩ về căn hộ cho công nhân KCN một cách quan liêu. Công nhân đang phải sống khoảng 10 người trong một căn phòng rất nhỏ.

Continue reading

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

NGUYỄN TRẦN BẠT – Chủ tịch/Tổng GĐ INVESTCONSULT GROUP

Những sai lầm trên quy mô hệ thống

Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế. Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế. Tuy nhiên đã có thời không ít người, đặc biệt là các nhà lý luận theo mô hình Xô Viết lên án kinh tế tư nhân và chủ trương xóa bỏ nó. Họ coi kinh tế tư nhân là trở ngại chủ yếu cho việc xây dựng xã hội mới, nhưng thực tế đã minh chứng ngược lại, trong khi Chủ nghĩa Xã hội kiểu Xô Viết sụp đổ thì kinh tế tư nhân lại phát triển không ngừng và càng ngày càng thể hiện ưu thế và sức mạnh to lớn của nó. Hiện tượng lịch sử trên cho thấy kinh tế tư nhân không chỉ liên quan đến sự thành bại của một quốc gia, mà nó còn có tác động rất quan trọng tới tiến trình phát triển của toàn nhân loại.

Nhưng kinh tế tư nhân không chỉ là bài học lịch sử, nghiên cứu về kinh tế tư nhân sẽ không chỉ nhằm giải thích hiện tượng lịch sử quan trọng như sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, mà quan trọng hơn nhận thức được con đường đi tới tương lai.
Thể chế kinh tế quyết định chế độ xã hội hay là sự tuyệt đối hóa vai trò của sở hữu

Vì sao Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết sụp đổ? Đó là câu hỏi lớn cần có lời giải đáp. Ngày nay trong chúng ta có quá nhiều học giả mắc căn bệnh "mặc nhiên thừa nhận". Khi mô hình Liên Xô áp dụng tràn lan, họ coi những vấn đề lý luận của mô hình này như một thứ khuôn vàng thước ngọc để tuân thủ, rập khuôn vô điều kiện, nhưng khi Liên Xô và các nước Đông âu sụp đổ họ né tránh hoặc làm ngơ và cũng "thừa nhận mặc nhiên". Chúng ta cần đi sâu phân tích để thấy được bản chất của sự thật lịch sử này. Những phân tích của chúng ta không nhằm mục đích kết tội hay lên án bất kỳ ai mà điều quan trọng là chúng ta có được một cơ sở lý luận đúng đắn để xử lý những vấn đề mà cuộc sống hiện tại đang đặt ra trước mắt.

Chủ nghĩa xã hội theo mô hình Liên Xô sụp đổ vì nền kinh tế kế hoạch tập trung của nó đã thất bại trong cạnh tranh với nền kinh tế thị trường. Cần thấy rằng nền kinh tế kế hoạch như một toà lâu đài được xây dựng trên nền móng là thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa, cụ thể là chế độ sở hữu nhà nước và chế độ sở hữu tập thể. Chính đây mới là nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm cho kinh tế Xã hội chủ nghĩa không năng động và kém hiệu quả Thậm chí hy vọng về sự bình đẳng cho con người thông qua hình thức "phân phối theo lao động" do chế độ công hữu tạo ra cũng chỉ là ảo tưởng. Trên thực tế phương thức phân phối theo lao động bị bóp méo và hoàn toàn không có khả năng kích thích trở lại sản xuất.

Continue reading

TRANH CHẤP THỪA KẾ: ĐAU VÌ … ĐẤT

HÀ VŨ

Đất đai mang lại hoa thơm quả ngọt cho đời. Đời người sinh ra từ đất, lớn lên trên mặt đất rồi khi chết cũng lại trở về với đất. Nhưng cũng từ đất, đã có biết bao nhiêu tấn bi kịch xảy ra. Trong những tấn bi kịch đầy đau đớn ấy, tất nhiên đất không có tội mà tội lỗi sinh ra từ lòng tham tự trong chính mỗi con người. Một câu chuyện đau lòng vừa xẩy ra ở ngay thủ đô Hà Nội, nguyên do phát sinh cũng từ đất mà hai chị em ruột suýt lâm cảnh "nồi da nấu thịt "…

Phán quyết chưa công bằng…

Theo tìm hiểu của ĐS &PL tại địa phương, thực hiện chính sách giãn dân, năm 1976, HTX nông nghiệp Đại Mỗ đã cấp cho 2 vợ chồng cụ là Nguyễn Văn Sửu và Lê Thị Mứt (ở xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm – Hà Nội) được 351m2 đất ở thuộc thửa 381, 383 tờ bản đồ số 3. Sau đó, vợ chồng cụ Sửu cùng các con đã xây dựng một căn nhà cấp 4. Tiếp theo đó, năm 1986, vợ chồng cụ Sửu đã cho người con trai thứ của mình là ông Nguyễn Gia Sơn đứng tên chủ sử dụng đất trong trích lục bản đồ của UBND xã Đại Mỗ. Từ năm 1992 tới 1997 hai vợ chồng cụ Sửu mất đột ngột nên không để lại di chúc. Tuy nhiên, để ổn định cuộc sống và mảnh đất của cha mẹ để lại, năm 2005, vợ chồng ông Sơn làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng đăng ký đất đai xã Đại Mỗ đã tổ chức xét duyệt và ngày 19.5.2005, mảnh đất trên được UBND huyện Từ Liêm chính thức cấp sổ đỏ mang tên bà Nguyễn Thị Bảo (vợ ông Sơn).

Tuy nhiên, theo ông Sơn trình bày thì cuộc sống của gia đình đang bình yên, bất ngờ tháng 5.2007, không hiểu lý do gì bà Nguyễn Thị Tài (chị gái ruột của ông Sơn), đã đâm đơn khởi kiện em trai mình và yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà và mảnh đất trên của ông Sơn.

Theo bản án sơ thẩm số 30/2007/DS-ST ngày 28.9.2007 của TAND huyện Từ Liêm, HĐXX chấp nhận "tuốt tuột" hầu hết yêu cầu của bà Tài. Tòa sơ thẩm còn nhận định bà Bảo đã tự ý kê khai cấp "sổ đỏ" và cho rằng việc bà Bảo làm "sổ đỏ" bà Tài không biết (?). Phán quyết cuối cùng của Tòa là nhà đất có diện tích 351m2 thuộc thửa 16, tờ bản đồ 6 tại thôn Chợ là tài sản chung của vợ chồng cụ Sửu nên phải chia đều cho 6 người con, trong đó có bà Tài và ông Sơn, mỗi kỷ phần là 43, 8m2. Ngoài ra ngôi nhà cấp 4 cũng là tài sản chung (trị giá khoảng 27, 5 triệu đồng) cũng được chia làm 6 phần.

Continue reading

VI PHẠM CHÍNH SÁCH DÂN SỐ: CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÓ THỂ BỊ THUỘC THÔI VIỆC

QUẾ NGÂN

Sau một thời gian ngắn chúng ta lơi là với các biện pháp xử lý vi phạm Pháp lệnh Dân số, năm 2008 đã có gần 140.000 trường hợp sinh con thứ ba. Đó là số liệu thống kê chưa đầy đủ. Số tỉnh có số sinh con thứ ba tăng nhiều hơn so với những năm trước, điển hình là Sơn La tăng 57,7%, Bắc Ninh tăng 14,1%…

Hiện nay đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ tập trung ở những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa, gia đình có con một bề mà đã xuất hiện ở một bộ phận của những gia đình khá giả làm nghề tự do và cả cán bộ công chức, viên chức, đảng viên. Để giảm thiểu gia tăng dân số, Pháp lệnh Dân số sửa đổi vừa được ban hành, hy vọng sẽ kiên quyết xử lý được các vi phạm. Cùng với Pháp lệnh, hiện nay, Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình, Bộ Y tế đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định Quy định việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chính sách dân số.

Số đảng viên, cán bộ công chức sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều nhưng không được xem xét xử lý nghiêm nên đang ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Sự tăng dân số nhanh đã ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Việc bùng nổ sinh con thứ 3, nhìn nhận ở nhiều góc độ, chúng ta phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Dân số vẫn còn những kẽ hở để nhiều cặp vợ chồng, thậm chí là công chức lợi dụng lách luật. Từ đầu năm 2009 đến nay, dù Pháp lệnh Dân số sửa đổi có hiệu lực nhưng tại một số tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng sinh con thứ 3 vẫn diễn ra khá phổ biến. ở Hậu Giang mới chỉ 3 tháng đầu năm đã có hơn 360 trường hợp cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3. Tại Tiền Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau cũng xảy ra tình trạng này nhưng với số lượng ít hơn.

Tiến sỹ Dương Quốc Trọng – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình – Bộ Y tế cho biết: Việc sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số đã thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong cuộc vận động dân số, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản. Bởi một em bé được sinh ra sẽ kéo theo một loạt vấn đề về an sinh xã hội, đất đai, dịch vụ y tế, giáo dục, cơ hội việc làm… Có thể đối với một gia đình cụ thể, khá giả điều đó là bình thường nhưng sự bình thường đó không thể nhìn nhận ở góc độ nhà quản lý xã hội được.

Continue reading

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẠI HỌC

LÊ VĂN HẢO – Đại học Nha Trang

Phát triển tài chính đại học là một trong các vấn đề chủ yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục đại học nào trên thế giới trong quá trình chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng. Bài viết này nhằm giới thiệu một số kết quả nghiên cứu trên thế giới về các xu thế chung của giáo dục đại học và các mô hình phát triển tài chính đại học, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một vài đề xuất có liên quan đến việc phát triển nguồn tài chính đại học của Việt Nam.

I. MƯỜI XU THẾ CHUNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Mười xu thế chung của giáo dục đại học được trình bày dưới đây được tổng hợp bởi một nhóm chuyên gia quốc tế cao cấp về giáo dục đại học (Michael & Kretovics, 2005):
1. Nhu cầu học tập ở đại học không ngừng gia tăng (Greater Participation)

Số người có nhu cầu học tập ở đại học không ngừng gia tăng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự gia tăng này không chỉ do sự gia tăng cơ học của dân số ở mỗi quốc gia mà còn thể hiện nhu cầu được hiểu biết, được tiếp cận những công việc mang lại thu nhập tốt hơn trong thời đại nền kinh tế tri thức đang ngày càng chiếm lĩnh ưu thế.

2. Hệ thống trường học ngày càng phát triển (Greater Institutional Diversification)

Đi đôi với sự gia tăng số trường đại học là sự xuất hiện ngày càng nhiều các trường đào tạo chuyên ngành, chẳng hạn các trường đại học kỹ thuật, kinh tế, y khoa, … Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận giáo dục đại học, nhiều quốc gia đã quan tâm phát triển hệ thống các trường cao đẳng/đại học cộng đồng, các hình thức đào tạo tại chức/từ xa/qua mạng.

3. Đối tượng người học ngày càng đa dạng (Greater Student Diversity)

Cùng với sự gia tăng số người học đại học là sự phát triển của đối tượng người học không/phi chính quy, từ các quốc gia khác đến, từ các cộng đồng thiểu số, và từ các tầng lớp xã hội khác nhau. Ở một số quốc gia, tỷ lệ người học là nữ cũng đang tăng lên nhanh chóng.

4. Nguồn tài chính đại học ngày càng phong phú (Greater Diversification of Sources of Funding)

Mặc dù chính phủ là nhà đầu tư chủ yếu cho giáo dục đại học ở hầu hết các quốc gia, ngày càng có nhiều nguồn tài chính khác giúp chia sẻ chi phí này: người học, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội/phi chính phủ trong và ngoài nước, sự tài trợ của quốc tế, … Bản thân các trường đại học cũng đang ngày càng nâng cao khả năng tăng nguồn thu thông qua các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ cộng đồng, …

Continue reading

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ TÀI SẢN SAU KHI KÊ BIÊN

LÊ LANH – Thi hành án TP. Tuy Hòa, Phú Yên

Trong hoạt động thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được bản án, quyết định của Toà án ghi nhận. Quyền tự định đoạt cũng như nội dung, phương thức thoả thuận đó của đương sự phải tuân thủ quy định pháp luật và không được trái với đạo đức xã hội hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác.

Chính vì thế, Pháp luật quy định khi bản án, quyết định của Toà án được đưa ra thi hành thì người phải thi hành án phải tự nguyện thi hành. Nếu không tự nguyện thi hành khi có đủ điều kiện thi hành và đã hết thời gian tự nguyện theo quy định tại khoản 3, điều 6 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì đương nhiên phải bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo điều 37 Pháp lệnh.

Trong  sáu biện pháp cưỡng chế thi hành án, biện pháp kê biên, xử lý tài sản thường được áp dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, giai đoạn  tiến hành kê biên tài sản thường gặp nhiều khó khăn và phức tạp, khi kê biên xong là chiếm tỉ lệ được hơn 50% công đoạn của quá trình kết thúc thi hành án. Nhưng kê biên được rồi ! xử lý tài sản lại là vấn đề phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn, có khi không xử lý được tài sản. Nhất là, trong thời cuộc mà cả thế giới đang gánh chịu sự khủng hoảng tài chính toàn cầu, thì vấn đề xử lý, bán tài sản, (nhà ở, đất đai, tàu thuyền…) rất chậm và không có người mua. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến không xử lý được tài sản sau khi đã hoàn tất giai đoạn kê biên. Xoáy quanh vấn đề này, tác giả bài viết muốn nêu lên một số trường hợp mà trong thực tế thi hành án dân sự gặp phải và rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Có những trường hợp sau khi kê biên nhà ở (tài sản thế chấp Ngân hàng), và tiến hành định giá theo quy định pháp luật và được uỷ quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá để bán, thông bán nhiều lần nhưng không có người nào đến hỏi thăm. Tiếp tục định giá theo hướng giảm giá (Điều 48 pháp lệnh THADS năm 2004) lần 1, lần 2 và tiếp tục uỷ quyền Trung tâm bán đấu giá để bán, vẫn không một lời nào hỏi thăm những ngôi nhà đăng ký bán. Nếu chúng ta, tính toán trị giá tài sản nhà và đất sau khi giảm giá lần 2 so sánh với giá cả thị trường việc  mua đất và vật liệu để xây dựng nên một căn nhà như thế thì không đủ chi phí hoàn thiện ngôi nhà như cũ. Vậy mà không có người mua tài sản đấu giá. Phải chăng? do thời cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến việc mua bán nhà, đất đai và tài sản? hay do thị trường bất động sản đang khựng lại và kéo theo những người có nhu cầu mua không đủ tiền để mua, tuy họ rất muốn được sở hữu một căn nhà đấy… Vì thế, kê biên  được tài sản chỉ là một giai đoạn ban đầu, xử lý tài sản mới là quan trọng, bởi nó chấm dứt được giai đoạn cuối của quá trình thi hành án dân sự và đi đến kết thúc một vụ việc thi hành án.

Continue reading

THỦ TỤC GIA NHẬP (UNIDROIT) VÀ QUYỀN LỢI CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC NÀY

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, bộ Tư pháp

Tiếp theo 02 bài đã đăng về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT) cũng như chính sách và thành tựu lập pháp của Viện, chúng tôi xin giới thiệu bài thứ 3, trình bày thủ tục gia nhập UNIDROIT và phân tích quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên tổ chức này. Hy vọng những ý kiến của tác giả sẽ phần nào được các cơ quan có liên quan của Việt Nam cân nhắc, tham khảo trong quá trình nghiên cứu gia nhập các tổ chức quốc tế về pháp luật và tư pháp, trong đó có Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư.

1. Thủ tục gia nhập UNIDROIT:

Thủ tục gia nhập UNIDROIT được quy định tại Điều 20 của Điều lệ của tổ chức này, cụ thể là:

– Quốc gia muốn gia nhập UNIDROIT phải gửi một thông báo bằng văn bản tới Chính phủ Italia về việc gia nhập của mình;

– Việc gia nhập có hiệu lực 06 năm và đương nhiên được kéo dài thêm một thời hạn là 6 năm nữa, nếu không có tuyên bố bãi ước bằng văn bản ít nhất một năm trước ngày gia hạn thời hạn mới.

– Thông báo gia nhập và thông báo bãi ước phải được Chính phủ Italia thông báo tới Chính phủ các nước thành viên.

2. Quyền lợi của nước thành viên UNIDROIT:

Được tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình làm việc của UNIDROIT;

– Được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế.

– Các nước thành viên được chỉ định một thư viện trong nước và thư viện này được nhận mọi ấn phẩm của UNDROIT.

3. Quyền lợi của Việt Nam khi trở thành thành viên UNIDROIT

Việc gia nhập UNIDROIT sẽ mang lại thuận lợi cho nước ta ở 3 phương diện sau:

– Với tư cách là một nước thành viên, chúng ta được quyền tham gia vào việc bàn và quyết định Chương trình, Kế hoạch làm việc lâu dài và hàng năm của UNIDROIT. Cụ thể, chúng ta có thể chủ động đưa những nhu cầu nghiên cứu, nhu cầu về thống nhất và hài hoà hoá pháp luật tư vào Chương trình làm việc của UNIDROIT. Bên cạnh đó, với quyền được tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo các Công ước quốc tế, chúng ta có thể chủ động thể hiện các quan điểm của Việt Nam vào Dự thảo các Công ước quốc tế do UNIDROIT chuẩn bị.

Continue reading

NHỮNG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH, CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH QUANG – NGUYỄN BÁ LINH – Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt

Bối cảnh cạnh tranh trong ngành bảo hiểm

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

Trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, thời gian đầu, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam thực sự là doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trên thị trường. Trong bối cảnh lúc bấy giờ có thể hiểu là hầu hết không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Ngày 18/12/1993, với việc ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm nước ta. Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, cùng với việc mở cửa thị trường trong bối cảnh hội nhập, đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ra đời. Đến nay, trên thị trường đã có 37 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm (nếu tính cả 2 Công ty mới ra đời là Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Bảo Nông) và Công ty Bảo hiểm Quân đội (MIC) thì tổng số lên tới 39 công ty), trong đó có 1 công ty nhà nước, 18 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh… Điều đáng chú ý là thị trường bảo hiểm Việt Nam còn có sự góp mặt của 37 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 cho thấy những dấu hiệu phát triển khả quan đã tiếp tục tạo ra nhiều yếu tố tích cực cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Ngành bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%, mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên, cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Sự cạnh tranh này được dự báo sẽ còn diễn ra khốc liệt hơn vào những năm tiếp theo khi các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc trên thị trường bảo hiểm Việt Nam theo cam kết WTO.

Continue reading

BIỆN PHÁP TỰ VỆ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

KHÔI NGUYÊN

1. Biện pháp tự vệ

Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không được áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ. Mỗi nước nhập khẩu là thành viên của WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp dụng thì họ phải đảm bảo tuân theo các quy định của WTO về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần chú ý đến biện pháp này để yêu cầu Chính phủ sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình trước hàng hoá nhập khẩu của nước ngoài khi cần thiết.

2. Tại sao biện pháp tự vệ được thừa nhận trọng WTO?

Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế được sử dụng để “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh) nên về hình thức, các biện pháp tự vệ được coi là đi ngược lại chính sách tự do hoá thương mại của WTO. Tuy vậy, đây là biện pháp được thừa nhận trong khuôn khổ WTO với các điều kiện chặt chẽ để tránh bị lạm dụng. Lý do là trong hoàn cảnh buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, các biện pháp tự vệ chính là “van an toàn” mà hầu hết các nước nhập khẩu là thành viên WTO đều mong muốn thực hiện khi thấy cần thiết. Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu hàng hoá để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh những đổ vỡ trong một số trường hợp khó khăn.

Tuy nhiên, biện pháp tự vệ không phải là công cụ “miễn phí”. Biện pháp tự vệ được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng lại đi ngược lại mục tiêu “tự do hoá thương mại”, biện pháp tự vệ là một công cụ phải trả tiền. Điều đó có nghĩa là các nước được phép áp dụng nó bảo vệ ngành sản xuất trong nước của mình nhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với nước khác trong trường hợp kết quả điều tra kết luận việc nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ là quá mức cần thiết và không có cơ sở. Cụ thể, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định. Nếu nước này không tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa.

3. Điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ

Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời các điều kiện sau:

a. Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng

Continue reading

PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH NÀO CẦN ƯU TIÊN TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU?

PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN – Quyền Viện trưởng, Viện Nghiên cứu kinh tế Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế và khủng khoảng kinh tế toàn cầu hiện nay đã có nhiều tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, phản ứng chính sách của chúng ta cần phải như thế nào? Chính sách nào nên được ưu tiên?

Nhận diện cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính lần này có nhiều điểm khác biệt với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông á cách đây 10 năm.

Thứ nhất, nó bắt nguồn từ những nền kinh tế hùng mạnh nhất, phát triển nhất như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản. Còn cuộc khủng hoảng Đông á (1997 – 1998) bắt nguồn và lan rộng chủ yếu trong phạm vi những nền kinh tế phát triển trung bình mới nổi – như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Nga, …

Thứ hai, cuộc khủng hoảng này "đánh sập" cả những “gã khổng lồ”, thậm chí là “khổng lồ nhất”, những "đại gia" có tuổi đời già dặn hằng thế kỷ, trong lĩnh vực tài chính lẫn lĩnh vực phi tài chính; những tập đoàn được coi là có cấu trúc vững chắc và quản trị hoàn hảo.

Thứ ba, đây là cuộc khủng hoảng có sức lan tỏa nhanh và mạnh, theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các nền kinh tế thuộc nhóm phát triển nhất lần lượt rơi vào suy thoái – từ Mỹ lan sang EU, tràn tới Nhật Bản, rồi "hạ gục" Xin-ga-po. Điều đáng lưu ý rằng, đó là những nền kinh tế thường xuyên đứng ở thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng sức cạnh tranh tăng trưởng toàn cầu.

Cuộc khủng hoảng đó từ khu vực tài chính tràn sang khu vực "thực", chuyển thành suy thoái kinh tế. Cả hai thứ cộng hưởng với nhau, "công phá" toàn diện hệ thống kinh tế toàn cầu.

Hệ quả của quá trình lan tỏa suy thoái là sự chao đảo của cả hệ thống kinh tế toàn cầu. Cho đến nay, chưa ai nói chắc đâu là giới hạn của sức lan tỏa. Chiều hướng tác động tiêu cực đang tiếp tục mở rộng, sức tác động đang gia tăng.

Tuy chưa đầy đủ, song mức độ nghiêm trọng của tình hình ngày càng lộ rõ và có thể nhận biết đại thể qua một vài con số. Đó là số tiền hàng ngàn tỉ USD mà các chính phủ đã phải bỏ ra để thực hiện cuộc giải cứu lịch sử này, là mức sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng GDP, là con số các “đại gia” bị phá sản với lượng tài sản lên tới hàng chục ngàn tỉ USD. Và những con số này hiện vẫn chưa dừng lại.

Continue reading

NỘI LUẬT HÓA CÁC CAM KẾT GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

THS. HÀ THỊ THANH BÌNH – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được gần hai năm (1). Trong giai đoạn cuối của quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này và trong thời gian kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước theo hướng làm cho pháp luật quốc nội của mình tương thích với các quy định của WTO cũng như để thực hiện những cam kết khi gia nhập tổ chức này.

Tuy nhiên đến nay, quá trình đó vẫn chưa hoàn tất. Việc tiếp tục chuyển hóa các cam kết với WTO thành các quy định pháp luật nội địa là một yêu cầu khách quan không chỉ nhằm mục đích thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế mà còn giúp khai thác và hiện thực hóa các quyền lợi thành viên của tổ chức này. Bài viết trao đổi một số quan điểm liên quan tới yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.

1. Cơ sở pháp lý và thực tiễn đặt ra yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO nói chung và cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng

a) Cơ sở pháp lý

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71/2006/QHXI phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam (Nghị quyết 71/2006/QHXI). Nghị quyết này đã quy định nguyên tắc áp dụng các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, theo đó (i) nếu các cam kết trong các văn kiện gia nhập WTO đã đủ rõ, đủ chi tiết thì áp dụng trực tiếp các cam kết đó (bao gồm các cam kết được liệt kê trong phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết 71/2006/QHXI và các cam kết khác trên cơ sở rà soát của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2)); (ii) thực hiện việc rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam để đề nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO. Ngoài ra, Nghị quyết 71/2006/QHXI khẳng định nguyên tắc giải quyết xung đột giữa quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật nội địa như sau: trong trường hợp pháp luật Việt Nam không phù hợp với Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm thì sẽ áp dụng các quy định của Hiệp định thành lập WTO, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam và các tài liệu đính kèm. Như vậy, Nghị quyết 71/2006/QHXI đã tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 6 Luật Điều ước quốc tế số 41/2005/QHXI ngày 14/6/2005 (Luật Điều ước quốc tế 2005). Theo đó, dù là các quy định của Điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết thì vẫn cần một văn bản thể hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc áp dụng trực tiếp các quy định đó sau khi thực hiện việc rà soát; các trường hợp còn lại (đối với các cam kết chưa đủ rõ, chưa đủ chi tiết hoặc pháp luật nội địa chưa phù hợp) thì cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và ban hành mới các văn bản pháp luật trong nước để thực hiện các Điều ước quốc tế (3). Như vậy, để thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói chung và các cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng, phải thực hiện việc nội luật hóa các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này, hay nói cách khác là phải chuyển hóa các cam kết quốc tế thành pháp luật nội địa.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: TÒA ÁN GIÚP CHÁU NỘI CHIẾM NHÀ CỦA ÔNG BÀ

NGUYỄN TRUNG HIẾU

Cháu nội đưa đơn yêu cầu cơ quan thi hành án, cưỡng chế ông bà mình để chiếm ngôi nhà do họ sở hữu hợp pháp. Cơ quan thi hành án "kiên quyết" buộc cưỡng chế giao nhà trước 20.3. Hai cụ già hơn 80 tuổi, đang tất tả chạy kêu cứu khắp nơi. Sự kiện oái oăm này tiếc thay, khởi nguồn từ một phán quyết trái pháp luật trong phiên toà xét xử ly hôn do TAND quận Hải Châu thụ lý. Đó là trường hợp của vợ chồng ông Lưu Quý Thảo, hiện sống tại 122, đường Núi Thành – TP.Đà Nẵng.

Bản án trái pháp luật

Tháng 3.2007, ông bà Lưu Quý Thảo, trú tại 122 Núi Thành đột ngột nhận được án lệnh phải bàn giao ngôi nhà mình đang ở, có sở hữu hợp pháp cho cháu nội của mình là Lưu Hoàng Mỹ. Ông bà vội tìm đến cơ quan toà án thì mới hay từ tháng 1.2004, phán quyết của cơ quan tư pháp đã giao quyền sở hữu, quản lý sử dụng ngôi nhà 122 Núi Thành cho cháu nội của ông bà. Nguyên tháng 12.2003, TAND quận Hải Châu thụ lý vụ ly hôn, chia tài sản giữa anh Lưu Hoàng Long, là con ruột vợ chồng ông Lưu Quý Thảo và chị Phạm Thị Hoàng Yến (dâu).
Một tháng sau, toà ban hành bản án, chấp nhận thuận tình ly hôn và phán quyết, vợ (chị Yến) nuôi con là Lưu Hoàng Mỹ (SN 1991), đồng thời theo ý nguyện của 2 bên, giao quyền sở hữu và sử dụng ngôi nhà 122 Núi Thành, hiện gia đình đang ở chung với ông bà nội cho cháu Mỹ khi cháu đủ 18 tuổi.
Điều hết sức hy hữu ở đây là ngôi nhà 122 Núi Thành lúc bấy giờ và cho đến hiện nay vẫn do vợ chồng ông Lưu Quý Thảo sở hữu và sử dụng hợp pháp và gia đình Long, Yến cùng con là Mỹ chỉ là người ở cùng. Và hơn thế, bản án ly hôn chia tài sản này được giữ "bí mật" suốt hơn 3 năm trời cho đến khi khổ chủ nhận án lệnh phải rời nhà để giao cho cháu nội của mình.

Kêu không thấu "trời"

Tất nhiên ông bà Lưu Quý Thảo không thể nào chịu đựng nổi oan ức như vậy và hành trình đi tìm lẽ công bằng của hai cụ già hơn 80 tuổi bắt đầu. Do bản án ly hôn chia tài sản này được TAND quận Hải Châu "bảo mật" kỹ quá, nên khi ông bà Thảo hay tin tài sản của mình bị giao cho người khác, thì đã quá hạn phúc thẩm từ lâu và quá cả thời hiệu kiến nghị giám đốc thẩm. Tháng 3.2007, ông bà gửi đơn đến Viện KSND thành phố Đà Nẵng đề nghị kháng nghị theo trình tự tái thẩm.

Continue reading

THỰC THI PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG: TRÁI LUẬT NHƯNG PHÙ HỢP VỚI NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI DÂN

HỒ QUANG HUY

Trong khuôn khổ hỗ trợ của dự án JICA, tháng 3/2009, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng đã tổ chức khảo sát về công tác đăng ký bất động sản tại TP Đà Năng. Qua trao đổi, làm việc với đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng của TP Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy, việc thực thi pháp luật về đăng ký quyền sở hữu nhà ở tại TP Đà Nẵng có nhiều vấn đề cần các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật suy ngẫm.

         1. Không cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005  

          Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2005 thì “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại khoản này được gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở” (khoản 1 Điều 11 Luật Nhà ở) và “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại Luật này là cơ sở pháp lý để chủ sở hữu nhà ở thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà ở đó theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 13 Luật Nhà ở).

          Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Xây dựng TP Đà Nẵng tại buổi làm việc với Đoàn khảo sát thì tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn TP Đà Nẵng vẫn không triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựngcho tổ chức, cá nhân. Thực tế trên cho thấy, sau gần 3 năm kể từ ngày Luật Nhà ở năm 2005 có hiệu lực thi hành (từ 01/7/2006 đến nay), các quy phạm pháp luật liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở vẫn chưa đi vào cuộc sống. Phải chăng nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên không chỉ xuất phát từ ý thức chấp hành pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở TP Đà Nẵng?

          2. Giải pháp không được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại phù hợp với nguyện vọng của người dân

Theo kết quả khảo sát tại Đà Nẵng, UBND thành phố Đà Nẵng đã “xé rào” khi cho phép các cơ quan chức năng thuộc hệ thống Tài nguyên và Môi trường ghi nhận hiện trạng và công nhận quyền sở hữu đối với tài sản gắn với đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất căn cứ vào nhiều yếu tố, ví dụ: căn cứ vào người yêu cầu có đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy phép xây dựng hay không, căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án, căn cứ vào hiện trạng sử dụng, thỏa thuận giữa các bên, xác nhận của UBND địa phương về việc đất và nhà ở ổn định lâu dài, không có tranh chấp… Tài sản gắn liền với đất được Nhà nước công nhận quyền sở hữu không chỉ có nhà ở, mà còn bao gồm nhà xưởng, khách sạn và các công trình kiến trúc khác gắn liền với đất. Bản vẽ bất động sản được kê khai có thể được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc không được thể hiện tùy theo sự thực hiện của từng cơ quan địa phương.

Continue reading

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật Trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận: thứ nhất, số lượng các vụ việc được giải quyết tại 08 trung tâm trọng tài thương mại hiện nay chưa nhiều (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC với 140 trọng tài viên thụ lý 48 vụ trong năm 2008), khả năng và uy tín chuyên môn của các trọng tài viên của một số trung tâm cần được nâng cao hơn nữa; thứ hai, Luật mẫu của Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral Model Law 2006) cũng nhấn mạnh thẩm quyền của trọng tài vào các tranh chấp thương mại. Vì vậy nhóm ý kiến thứ nhất này cho rằng chưa nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật trọng tài và xác định tên gọi của đạo luật là Luật trọng tài thương mại.

Continue reading

TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT: NHẤP NHỔM VÌ THỜI HẠN SỬ DỤNG ĐẤT

HOÀNG VÂN

Tích tụ ruộng đất nhằm tiến đến một nền sản xuất nông nghiệp với công nghệ hiện đại, quy mô lớn. Tuy nhiên, ngay cả khi đã tích tụ được một diện tích đất đáng kể thì nông dân lại phải “đụng” đến một cái khó khác, ấy là thời hạn sử dụng đất nông nghiệp được quy định trong Luật Đất đai. Theo đó, thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với cá nhân, hộ gia đình là 20 năm đối với đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; 50 năm với đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất. Thời hạn ngắn khiến nhiều người không an tâm đầu tư tiền của, công sức vào nông nghiệp.

Thời hạn ngắn, khó sản xuất hiện đại

“Trồng trọt với công nghệ cao thì phải đầu tư nhà kính, nhà lưới, áp dụng hệ thống tưới hiện đại, làm hệ thống đường sá. Như vậy phải rất lâu sau mới thu hồi được vốn. Trong khi đó, với thời hạn sử dụng đất ngắn, người dân sợ đầu tư không an toàn. Những năm tới không được tiếp tục sử dụng đất đó thì sao? Dù về nguyên tắc thì khi hết hợp đồng, anh vẫn có quyền được giao lại đất đó nhưng người ta thấy không chắc chắn. Lỡ có mâu thuẫn với ông chính quyền ở đó hay vì một lý do nào khác, ông ấy lại không giao cho nữa…” – ông Tăng Minh Lộc, Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Bộ NN&PTNT, phân tích những lo lắng của người dân.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM hôm qua (26-3), ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, cũng trăn trở: “Tiền đầu tư cho một trang trại chăn nuôi rất lớn, nhất là với hệ thống xử lý môi trường ở đó. Nếu chỉ được giao đất với thời gian ngắn thì không ai dại đầu tư vào đó”.

Nên giao đất ổn định, lâu dài

“Tâm lý người dân là muốn được giao ruộng đất lâu dài để cải tạo, đầu tư. Theo tôi, bên cạnh việc xóa bỏ hạn điền thì nhà nước cũng không nên giới hạn về thời gian sử dụng đất. Chúng ta phải trở lại quy luật thông thường, theo dòng chảy của tự nhiên” – ông Tăng Minh Lộc nhấn mạnh.

Đi vào trường hợp cụ thể, ông Hoàng Kim Giao cho rằng đối với trang trại chăn nuôi thì phải giao đất tối thiểu 30 năm, lý tưởng nhất là giao hẳn đất cho người sử dụng.

Continue reading

GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ NGÀNH

THS. ĐỖ NĂNG KHÁNH

Bộ luật Lao động (năm 1994) đã xây dựng một chương riêng về thoả ước lao động tập thể, đồng thời Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về thoả ước lao động tập thể và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ.

Bộ luật Lao động (năm 1994) đã xây dựng một chương riêng về thoả ước lao động tập thể, đồng thời Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về thoả ước lao động tập thể và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ.

Do tính năng động và đa dạng của các quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường nên một số quy định của pháp luật – qua thực tiễn áp dụng – đã dần bộc lộ một số hạn chế: hoặc là chưa sát với thực tế, hoặc là chưa được giải thích, hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là quy định và hướng dẫn thực hiện việc ký kết thỏa ước lao động tập thể cấp ngành. Điều này gây ra những khó khăn cho các bên chủ thể của quan hệ lao động trong quá trình áp dụng pháp luật về thương lượng, ký kết thoả ước.

Quốc hội khoá X tại kỳ họp thứ 11 (năm 2006) đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 1994, trong đó có những sửa đổi, bổ sung các quy định về thoả ước lao động tập thể cho phù hợp với thực tế và mang tính khả thi cao hơn. Tuy vậy, quy định của pháp luật lao động về thoả ước lao động tập thể ngành đến nay vẫn chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện. Chính vì vậy, vẫn cần phải tiếp tục việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về thoả ước lao động tập thể.

Thương lượng tập thể ở cấp doanh nghiệp để đi tới ký kết thỏa ước lao động tập thể ở doanh nghiệp là hình thái đơn giản nhất, ở Việt Nam cũng mới chỉ có loại này. Tuy nhiên, thương lượng tập thể ở cấp doanh nghiệp cũng có điều bất lợi, nó có thể dẫn tới sự khác nhau trong thu nhập của công nhân làm cùng một nghề, cùng một vùng, khu vực trong các doanh nghiệp khác nhau, công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức sức đấu tranh để có được đồng lương hợp lý. Vì vậy, ký kết thỏa ước lao động tập thể ở cấp ngành, vùng có sẽ giúp thu hẹp khoảng cách này. ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước phát triển, thương lượng tập thể diễn ra ở nhiều cấp khác nhau, như cấp quốc gia, cấp vùng, cấp ngành, cấp liên ngành… Kinh nghiệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho thấy, để thị trường lao động phát triển lành mạnh, phát huy được vai trò tích cực của các bên trong quan hệ lao động, hạn chế các tranh chấp lao động, đình công xảy ra, thì thoả ước lao động tập thể ngành có vai trò hết sức quan trọng. Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản… đều đã triển khai ký kết thoả ước lao động tập thể ngành từ rất sớm, một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… gần đây cũng triển khai ký kết thoả ước lao động tập thể ngành và thu được kết quả khả quan. Vì vậy, để từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc, hạn chế các tranh chấp lao động phát sinh thì việc tổ chức ký kết thoả ước lao động tập thể trong phạm vi ngành, trước hết là đối với một số ngành ở nước ta trong điều kiện hiện nay là rất cần thiết.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM

TS. PHÙNG KHẮC KẾ – PHÓ tHỐNG ĐỐC NHNNVN

Thị trường tiền tệ Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn thiện gắn liền với tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước. Cho đến nay, mặc dù thị trường tiền tệ Việt Nam chưa thực sự phát triển, nhưng nó đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế.

Đặc biệt, thị trường đã thực hiện chức năng cân đối, điều hòa nguồn vốn giữa các ngân hàng, góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, hoạt động an toàn và hiệu quả. Thông qua các hoạt động trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện điều tiết tiền tệ nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Có thể khẳng định rằng, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nhất là quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.

Bài viết dưới đây tập trung đề cập khái quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trường tiền tệ Việt Nam, các kết quả đạt được, các hạn chế và mục tiêu, định hướng phát triển thị trường trong những năm tới, cũng như nêu lên một số giải pháp, chính sách chủ yếu để tiếp tục hoàn thiện thị trường tiền tệ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Một số nét khái quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trường tiền tệ Việt Nam

1.1. Về các bộ phận cấu thành của thị trường

Có thể thấy rằng, mặc dù đến nay quy mô của thị trường tiền tệ Việt Nam còn rất khiêm tốn, nhưng các bộ phận cấu thành của thị trường đã hình thành ở một mức độ nhất định. Đó chính là thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc, các hoạt động nghiệp vụ tiền tệ của NHNN như nghiệp vụ cho vay của NHNN dưới các hình thức cho vay cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ …Thành viên tham gia thị trường, hàng hóa giao dịch trên thị trường cũng như doanh số hoạt động của các nghiệp vụ thị trường tiền tệ đều được từng bước mở rộng; hoạt động của thị trường đã từng bước được hiện đại hoá, đáp ứng được yêu cầu hội nhập.

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ GÓI KÍCH CẦU ĐỂ NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ Ở NƯỚC TA

TS. LÊ XUÂN THÀNH – Vụ Kinh tế, Văn phòng Trung ương

Theo nhiều nhà nghiên cứu, đây là cuộc khủng hoảng nặng nhất kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Giới phân tích dự đoán, năm 2009 tăng trưởng kinh tế thế giới giảm xuống còn 0,5%. Kinh tế thế giới suy giảm sẽ có ảnh hưởng mạnh, và ngày càng rõ rệt đến nền kinh tế Việt Nam.

1. Thế giới đang lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng

Theo nhiều nhà nghiên cứu, đây là cuộc khủng hoảng nặng nhất kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Giới phân tích dự đoán, năm 2009 tăng trưởng kinh tế thế giới giảm xuống còn 0,5%. Các nước Mỹ, EU, Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng âm: Mỹ tăng trưởng -1,6%, kinh tế khu vực đồng ơ-rô tăng trưởng -2%, Nhật Bản tăng trưởng -2,6%. Hàng loạt ngành sản xuất kinh doanh bị đình đốn; hoạt động kinh doanh của nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu bị đình trệ.

Sự giảm sút của ngành sản xuất ô tô, sự tụt dốc của thị trường chứng khoán, sự xuống dốc của thị trường bất động sản diễn ra trầm trọng ở các nước có nền kinh tế phát triển.

Xuất nhập khẩu bị suy giảm nặng nề. Trong vòng 1 năm qua, hàng xuất khẩu của Đài Loan giảm 42%, của Nhật Bản giảm 35%, của Hàn Quốc giảm 30%. Số người thất nghiệp năm 2009 dự kiến sẽ tăng thêm 51 triệu người, nâng con số người không có việc làm trên toàn thế giới lên tới 230 triệu. Chính vì vậy, nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới cảnh báo đây là giai đoạn tồi tệ nhất của kinh tế thế giới.

2. Chính phủ các nước tập trung sức lực vào ngăn chặn suy thoái, phục hồi kinh tế

Hàng loạt gói vốn khẩn cấp có trị giá lớn được chính phủ các nước thông qua nhằm cứu nguy cho hệ thống ngân hàng và công nghiệp. Gói khổng lồ của chính phủ Mỹ qua các đợt lên đến 2.250 tỉ USD, Trung Quốc 586 tỉ, các nước EU, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc,… cũng đã nhanh chóng thông qua các gói vốn hỗ trợ cho ngân hàng và các ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỉ USD.

Continue reading