MUA BÁN, SÁP NHẬP VÀ DỊCH VỤ ĐIỀU TRA CHI TIẾT

LS. TRẦN THANH TÙNG – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partners

Ở Việt Nam, hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (Merger and Acquisition – M&A) được dự báo là sẽ ngày càng sôi động, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, M&A là hoạt động đầy rủi ro. Một số thống kê của các hãng tư vấn nổi tiếng thế giới cho thấy khoảng hai phần ba các vụ M&A thất bại.

Giao dịch rủi ro

Chúng ta đã từng “sốc” khi nghe tin doanh nghiệp cổ phần Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai (Dona Corp) đã mua lại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cheerfield Vina với giá chỉ… 1 đô la Mỹ.

Tuy nhiên sau đó, Dona Corp đã gặp rắc rối khi người ký kết hợp đồng mua bán không được sự ủy quyền của các chủ đầu tư nước ngoài. Hay như vụ mua bán một hãng kem khá nổi tiếng đã gặp trục trặc chỉ vì hợp đồng mua bán đã không quy định về quyền sở hữu trí tuệ của các hình ảnh trên… khuôn kem.

Hoặc những vụ kiện liên quan đến mua bán doanh nghiệp mà rất lâu sau khi hai bên ký kết hợp đồng, chợt có người gõ cửa doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp trả những khoản nợ đã có từ trước khi mua bán.

Không kém phần lạ lẫm là những vụ M&A  đã hoàn tất thỏa thuận mua bán thì lại vướng ở khâu sau cùng – thủ tục đầu tư – vì thiếu các quy định pháp luật rõ ràng và nhất quán.

Có một nguyên nhân chung: sự thiếu thông tin của các bên về doanh nghiệp – đối tượng của hoạt động M&A – đã dẫn đến sự thất bại. Khi xúc tiến một hoạt động M&A, ít nhất có ba câu hỏi mà các bên cần quan tâm, đó là: Mua bán cái gì? Giá bao nhiêu? Trình tự mua bán và thủ tục như thế nào? 

Để trả lời cho các câu hỏi đó, các bên, đặc biệt là bên mua, cần đầy đủ thông tin. Đó là cơ sở cho một dịch vụ đặc thù chuyên hỗ trợ các vụ M&A: dịch vụ điều tra chi tiết. Dịch vụ này có nhiệm vụ nhận diện các rủi ro có thể có trong vụ M&A và từ đó tìm ra các giải pháp hạn chế rủi ro này.

Các dịch vụ điều tra chi tiết

Điều tra chi tiết (Due Diligence – DD), là quá trình nghiên cứu, xem xét toàn bộ hoạt động và nội tình của doanh nghiệp mục tiêu, đưa ra một bức tranh đầy đủ nhất, chi tiết nhất về doanh nghiệp đó. Quá trình DD được thực hiện bởi các chuyên gia với những kinh nghiệm chuyên sâu trong từng lĩnh vực.

Continue reading →

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: 5 NĂM KHÔNG ĐƯỢC NHẬP HỘ KHẨU

NGỌC YẾN – XUÂN LUẬN

Đã hơn 5 năm qua, 193 hộ dân tại khu ký túc xá Thăng Long (phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy) phải sống trong cảnh có nhà nhưng không có tổ dân phố, không được nhập hộ khẩu. Trẻ con không được học tại các trường trên địa bàn phường, nhiều cán bộ hưu trí hằng tháng vẫn phải mua vé ôtô về tận Thái Bình, Nam Định chỉ để lĩnh lương hưu. Tất cả những rắc rối này là do sai phạm của chủ đầu tư vẫn chưa được xử lý.

Biến KTX thành chung cư để kinh doanh

Theo những văn bản chúng tôi có được, Công ty CP Đầu tư xây dựng Thăng Long được UBND TP chấp thuận cho làm chủ đầu tư tổ chức nghiên cứu, lập và thực hiện dự án xây dựng ký túc xá sinh viên tại Hà Nội từ năm 2008, với tổng mức đầu tư khoảng hơn 34,4 tỷ đồng, diện tích gần 11.000m2 tại phường Dịch Vọng Hậu (Cầu Giấy). Từ một công trình ký túc xá cho sinh viên, trong quá trình triển khai, không hiểu vì lý do gì, Công ty CP Đầu tư xây dựng Thăng Long lại đột nhiên huy động vốn của người dân có con em theo học tại các trường đại học tại Hà Nội.

Báo cáo của Công ty Thăng Long cho thấy, toàn bộ khu KTX sinh viên có 249 căn hộ thì 56 căn hộ cho sinh viên thuê, 193 căn hộ làm nhà ở cho các hộ gia đình. Công ty này cũng giải thích việc huy động vốn của người dân là do trong quá trình triển khai, Công ty đã ký hợp đồng vay vốn của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam để đầu tư xây dựng.

Nhưng đến tháng 6/2002, Bảo Việt không tham gia dự án nữa và không cấp tín dụng. Công ty CP Đầu tư Thăng Long đã quyết định huy động vốn góp của nhân dân có con em theo học tại các trường đại học ở Hà Nội và liên kết với chủ đầu tư thứ phát là Công ty Sông Đà 1 để có thể tiếp tục thực hiện dự án.

Nhìn vào số căn hộ được bán có thể thấy Công ty Thăng Long đã không thực hiện đúng mục đích của dự án tại Quyết định cho phép đầu tư số 6994 và mục đích sử dụng đất tại Quyết định giao đất số 1378 của UBND TP Hà Nội.

Trước những bức xúc của dư luận, Sở Tài nguyên – Môi trường và Nhà đất Hà Nội đã kiểm tra và kết luận Công ty CP Đầu tư Thăng Long đã có sai phạm nghiêm trọng từ việc tổ chức thành lập và pháp nhân của đơn vị xin giao đất, việc huy động các nguồn vốn thực hiện dự án, việc chính thức khai thác, sử dụng công trình theo quy hoạch và dự án đầu tư được phê duyệt, tổng số nguồn vốn đầu tư.

Continue reading →

TRANH CHẤP SỞ HỮU CHUNG TẠI NHÀ CHUNG CƯ: CHẾ TÀI LUÔN … CHẠY SAU

HỒNG QUÂN

Liên tiếp trong thời gian qua, hàng loạt vụ tranh chấp "nảy lửa" diễn ra tại các khu chung cư cao cấp trên địa bàn Hà Nội và TPHCM giữa khách hàng và chủ đầu tư các dự án nhà ở.

Nguyên nhân xoay quanh quyền sở hữu chung, riêng tại các chung cư; chủ đầu tư đưa ra mức phí dịch vụ tại các chung cư cao chót vót, trong khi theo các "thượng đế" thì chất lượng dịch vụ lại không tương xứng…
Bên cạnh đó, các văn bản pháp lý về việc quản lý các khu chung cư thường lại theo kiểu "mất bò mới lo làm chuồng".
Hợp đồng chưa rõ ràng, còn tranh chấp

Đa phần các tranh chấp đang diễn ra tại các chung cư hiện nay đều thuộc các dự án xây dựng và bán các căn hộ từ trước khi Luật Nhà ở có hiệu lực (1.7.2006). 

Các tranh chấp thường bị đẩy đến kịch tính khi cả chủ đầu tư (CĐT) và khách hàng đều không ai chịu ai. Mặc dù được ở những chung cư cao cấp, nhưng theo phản ánh của khách hàng, họ không cảm thấy được sống thoải mái trong chính ngôi nhà của mình.
Tại chung cư nhà F, ngõ 28 Xuân La (HN) mặc dù đã đưa vào sử dụng hơn 2 năm nay, nhưng theo các cư dân ở đây, CĐT sau khi "tiền trao cháo múc" thì gần như đem con bỏ chợ. Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, xuống cấp, đường sá lầy lội, bẩn thỉu, nhưng ban quản lý toà nhà (BQL) lại chỉ thích tận thu.
Tại TPHCM, nhiều chung cư được xem là cao cấp cũng không hơn. Dự án Saigon Pearl (phường 12, quận Bình Thạnh), các khách hàng đã mua căn hộ đang "ngồi phải lửa" khi CĐT nâng mức tạm thu phí chung cư từ 0,3USD/m2/tháng lên   1USD/m2/tháng…  Trong khi các hộ dân than phiền vì mức thu phí quá cao thì các CĐT lại cho rằng, với mức thu này họ vẫn phải bù lỗ. CĐT chung cư The Manor cho biết: "Nếu đưa tất cả các dịch vụ cao cấp vào vận hành thì mức phí dự kiến thu ban đầu 0,8USD/m2/tháng cũng là không đủ".
Trên thực tế, đa phần các tranh chấp đang diễn ra tại các chung cư hiện nay đều thuộc các dự án xây dựng và bán các căn hộ từ trước khi Luật Nhà ở có hiệu lực (1.7.2006). Nhiều dự án như The Manor, chung cư nhà F ngõ 28 Xuân La (HN), khu đô thị Phú Mỹ Hưng, cao ốc Tản Đà (TPHCM)… đều đã ký hợp đồng bán các căn hộ khi các quy định về kinh doanh BĐS, nhà ở còn chưa được luật định. Vì vậy, văn bản pháp lý cao nhất để giải quyết các tranh chấp chính là hợp đồng mua bán nhà.

Continue reading →

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: ẢNH MINH HỌA HAY … ẢNH GÂY HỌA?

PHẠM KHẢI

Hiện nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, để sở hữu một chiếc máy ảnh chẳng khó khăn gì. Và việc sử dụng chúng cũng thật dễ dàng. Thành thử, nhiều "nghệ sĩ vườn" đã tận dụng mọi cơ hội để thu vào ống kính của mình tất cả những hình ảnh ngộ nghĩnh, kể cả những cảnh huống "đời thường" nhất (và không lấy gì làm "thuận mắt") của các nhân vật nổi tiếng mà họ có dịp tiếp xúc.

Ngày 19/2 vừa qua, trên trang web của mình, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đã có bài phê phán việc tác nghiệp của một tờ báo. Trong lời vào đề, Lê Thiếu Nhơn cho biết: Anh không hiểu tại sao một tờ báo (có trụ sở ở Hà Nội – NV), trong số ra ngày 13/2, bên cạnh bài viết về Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh, đã cho in kèm một bức ảnh minh họa mà anh cho là "cực kỳ quái gở". Đó là tấm ảnh nhà thơ Hữu Thỉnh đang "lấp ló sau cánh cửa một cách phản cảm" (chữ của Lê Thiếu Nhơn).

Vì Lê Thiếu Nhơn chụp lại cả trang báo, nên bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy, ngoài bức ảnh "lấp ló" nhắc tới trên, còn có bức ảnh ghi lại cảnh vị Chủ tịch Hội Nhà văn đang cầm điện thoại trò chuyện vui vẻ với ai đó. Rõ ràng, đây là một cách dùng ảnh không hề… bình thường (nói như Lê Thiếu Nhơn là "ác ý"), bởi nó có thể tạo cho người đọc những suy diễn rất… không hay. Theo chủ nhân của trang web thì đây là một hành vi "bôi nhọ công dân".

Người viết bài này hoàn toàn tán thành quan điểm của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, tuy nhiên, vì dụng ý của người sử dụng bức ảnh là quá rõ, nên ở đây, tôi xin không bàn về họ, mà muốn nói tới tác giả của bức ảnh.

Đúng như Lê Thiếu Nhơn nhận xét, phải là "người gần gũi" với nhân vật mới có thể chụp được tấm hình này. Vậy câu hỏi đặt ra là, dụng ý của người chụp khi bấm máy là gì? Vì "nghệ thuật" thì không phải rồi. Còn để sử dụng theo kiểu "minh họa" thì thực chất, họ định "minh họa" điều gì ở đây? Rõ ràng, không thể xem việc chụp bức ảnh này là… vô tư.

Từ câu chuyện trên, tôi lại nhớ tới một đôi trường hợp không vui mà mình từng chứng kiến trong dịp tham dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII: Khi các nhà văn đứng sắp hàng chụp ảnh lưu niệm trước cửa Hội trường Ba Đình, một nữ thi sĩ từ xa chạy tới để kịp chụp chung với mọi người, do đi guốc cao nên chị bị vấp, ngã sõng soài trên nền gạch.

Continue reading →

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: “KẸT” VỚI ÁN OAN SAI

VI TRẦN

Một vụ tranh chấp hơn 20 m2 đất, tòa đã phân xử nhưng gần 15 năm nay phán quyết vẫn chỉ nằm trên giấy. Cuối năm 1987, bà T. ở Vũng Tàu cắt một phần đất hợp pháp bán cho ông K. Tiếp đến, bà bán 184 m2 đất còn lại cho bà H. Cả hai hợp đồng chuyển nhượng đất này đều được UBND phường chứng nhận. Sau đó, Sở Xây dựng Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo đã cấp “giấy đỏ” cho hai người mua nhưng lại không ghi diện tích đất mà chỉ ghi diện tích nhà.

“Quên” quyền lợi của người thứ ba

Thế rồi, rắc rối phát sinh khi ông K. cho rằng bà T. bán đất cho bà H. như trong hợp đồng chuyển nhượng là lấn sang phần đất ông đã mua trước đó. Vì thế, ông kiện bà T. ra tòa, yêu cầu “cắt bớt” phần diện tích bán cho bà H. lại cho ông.

TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã thụ lý, đưa bà H. vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đến năm 1995, ông K. và bà T. tự thỏa thuận là “cắt bớt” 20 m2 đất của bà H. giao cho ông K. Lạ một điều là TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận này mà không hề làm việc, ghi nhận ý chí của bà H.

Oái oăm hơn, đến phiên phúc thẩm (được mở vì ông K. và bà T. kháng cáo), hai đương sự lại đồng loạt rút kháng cáo, buộc Tòa phúc thẩm TAND tối cao phải đình chỉ xét xử. Đương nhiên, quyết định của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có hiệu lực pháp luật.

Đến khi biết chuyện, bà H. chỉ còn mỗi một cách là khiếu nại lên TAND tối cao đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm. Thế nhưng khiếu nại của bà sau đó đã không hề được hồi đáp.

Khó thi hành

Quyết định của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có hiệu lực nhưng các cơ quan chức năng lại không đến đo đạc, cấp lại “giấy đỏ” cho các đương sự. Bốn năm sau, UBND tỉnh cấp “giấy đỏ” đồng loạt cho các hộ tại phường và cấp luôn cho bà H. theo đúng diện tích như trong hợp đồng chuyển nhượng ban đầu (184 m2) mà không hề hay biết đến phán quyết của tòa.

Continue reading →

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: BẬT NGỬA VỚI LÃI SUẤT CHO VAY!

HOÀNG LAM

Thay vì tính lãi trên số dư nợ, ngân hàng lại thu lãi trên tổng số tiền vay. Vay 300 triệu đồng nhưng khách hàng sẽ phải trả hơn 140 triệu đồng tiền lãi. Gửi thư đến Báo Pháp Luật TP.HCM, bạn đọc A (ngụ quận 7, TP.HCM) than trời vì lỡ “dính” vào hợp đồng tín dụng có lãi suất “trên trời”. Cuối tháng 6-2008, A đến một ngân hàng vay 300 triệu đồng mua ôtô trong thời hạn ba năm, lãi suất 1,3%/tháng, tức 15,6%/năm.

Hợp đồng cho vay của ngân hàng ghi rõ số tiền bên vay phải trả góp mỗi tháng bằng tiền lãi tính trên số tiền vay cho toàn bộ thời gian vay cộng với tiền gốc vay ngay tại thời điểm cho vay ban đầu. Tức là mỗi tháng A phải trả một phần tiền gốc (300 triệu đồng chia cho 36 (tháng), khoảng 8,3 triệu đồng) + tiền lãi (300 triệu đồng x 1,3% = 3.900.000 đồng). Như vậy, số tiền gốc và lãi A phải trả đều đặn mỗi tháng là hơn 12,2 triệu đồng.

Không tính lãi trên số dư nợ

Tính trên lý thuyết, mức lãi suất A phải trả đúng là 1,3% (140.400.000 đồng tiền lãi/300 triệu đồng tiền gốc)/36 tháng vay). Nhưng cách tính này chỉ hợp lý nếu khách hàng chỉ phải trả lãi hàng tháng, đến khi hết hạn vay mới trả tiền vay gốc thành “một cục” đủ 300 triệu đồng.

Ấy vậy mà trong suốt 36 tháng, A không được tính lãi trên số dư nợ mà phải trả một mức tiền lãi y xì nhau là 3,9 triệu đồng. Hóa ra A chỉ được hưởng mức lãi suất 1,3% trong tháng đầu tiên. Càng về sau mức lãi suất càng tăng. Đến tháng thứ 36, A phải chịu mức lãi suất lên đến 46,8%. Trung bình mỗi tháng A phải chịu lãi suất hơn 5%. Có nghĩa là A phải chịu lãi suất hơn 60%/năm.

Hoảng hồn, A “ba chân bốn cẳng” yêu cầu ngân hàng xem xét lại phần lãi suất nhưng không được chấp thuận. Hết cách, A bèn đề nghị được trả nợ trước hạn. Tuy nhiên, hợp đồng cũng ghi rõ nếu khách hàng trả nợ trước hạn trong khoảng nửa kỳ hạn vay thì chịu phạt 5% tổng số tiền giải ngân. Căn cứ vào đó, ngân hàng yêu cầu A muốn trả nợ trước hạn thì phải chịu phạt 15 triệu đồng.

Hiện A vẫn tiếp tục khiếu nại với lý do hợp đồng đã được soạn sẵn theo ý chí chủ quan của ngân hàng và gây thiệt hại cho khách hàng.

Continue reading →

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI NẰM TRONG TOP 20 THÀNH PHỐ CÓ MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC KÉM

KIỀU OANH

Tạp chí Business Week của Mỹ vừa công bố một danh sách những thành phố có môi trường làm việc kém nhất thế giới. Tp.HCM và thủ đô Hà Nội của Việt Nam lần lượt đứng ở vị trí thứ 9 và 11 trong danh sách gồm 55 thành phố này.

Danh sách mà Business Week đưa ra được thực hiện bởi công ty tư vấn nguồn nhân lực toàn cầu ORC Worldwide, có trụ sở tại New York (Mỹ). Đáng chú ý, tất cả 55 thành phố trong danh sách này đều nằm ngoài Mỹ, Canada và Tây Âu. Tất cả đều thuộc các quốc gia và khu vực châu Phi, Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á, Trung, Trung Đông, và Đông Âu.

Tiêu chí xếp hạng là mức độ ô nhiễm, nguy cơ bệnh tật, bạo lực chính trị, mức độ tiện lợi về hàng hóa và dịch vụ… Ngoài ra, các thành phố trong danh sách còn được phân loại theo mức độ rủi ro mà người lao động ở đó phải hứng chịu, gồm các mức rất cao, cao và trung bình.

Danh sách này không tính tới những địa chỉ có xảy ra chiến tranh hay bị cô lập, như Baghdad của Iraq, Harare của Zimbabwe, hay Bình Nhưỡng của CHDCND Triều Tiên…

Đứng đầu trong danh sách những thành phố có môi trường làm việc kém nhất này là thủ đô Lagos của quốc gia châu Phi Nigeria. Lagos được xếp vào nhóm những thành phố có mức độ rủi ro rất cao. Những vấn đề nghiêm trọng nhất ở thành phố này là cơ sở hạ tầng cực yếu kém và tội phạm nhan nhản.

Xếp thứ 9 và 11 trong danh sách, Tp.HCM và thủ đô Hà Nội của Việt Nam được các chuyên gia thực hiện danh sách đánh giá là thành phố có độ rủi ro cao.

Các vấn đề gây nhiều phiền toái nhất cho người lao động nước ngoài tại hai thành phố này cùng được ORC Worldwide cho là nguy cơ mắc nhiều bệnh tật và vệ sinh kém. Những hạn chế khác của Hà Nội là vấn đề y tế, cơ sở hạ tầng, giải trí… Trong khi đó, Tp.HCM còn bị đánh giá thấp ở các vấn đề khí hậu, ô nhiễm, và tội phạm…

Continue reading →

CÔNG VĂN SỐ 433/BXD-QLN NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG XIN Ý KIẾN SỬA ĐỔI ĐIỀU 126 LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 LUẬT ĐẤT ĐAI

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình số 144/TTr-CP ngày 01/10/2008 trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở, theo hướng mở rộng đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Ngày 11 tháng 10 năm 2008, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã họp để nghe và cho ý kiến về dự án Luật này. Tại cuộc họp, các thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội đều nhất trí về sự cần thiết phải trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở. Tuy nhiên, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho rằng, việc Chính phủ đề xuất bổ sung các đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như nêu tại khoản 1 Điều 126 sửa đổi là rộng và chưa có quy định cụ thể để loại bỏ các đối tượng tham gia các đảng phái phản động, chống phá đất nước khỏi diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Đồng thời, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đề nghị Chính phủ xem xét để sửa đổi, bổ sung Điều 121 Luật Đất đai có nội dung quy định về đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở giống như các đối tượng quy định tại Điều 126 Luật Nhà ở, đảm bảo sự đồng bộ và dễ áp dụng.

Thực hiện ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Bộ Xây dựng đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thống nhất báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin ý kiến về việc tiếp thu sửa đổi Dự án Luật. Được sự đồng ý và ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ đã ký Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến số 08/BC-CP Ngày 19/1/2009 gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Nội dung đề xuất của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121 Luật đất đai cơ bản như sau:

1. Về đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam: Bố cục lại khoản 1 Điều 126 theo hướng phân đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nói chung thành 2 dạng:

– Người có quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam); và

– Người gốc Việt Nam thuộc diện: về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước thì được sở hữu nhà ở không hạn chế số lượng.

– Những đối tượng còn lại (quy định tại Khoản 2 Điều 126 cũ) nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một (01) nhà ở riêng lẻ hoặc một (01) căn hộ chung cư.

Continue reading →

KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC (Ban hành kèm theo Quyết định số 365/QĐ-TTg ngày 20 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ)

I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU

1. Mục tiêu

Kế hoạch này phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho các Bộ, ngành địa phương để triển khai thực hiện Luật cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

2. Yêu cầu

Các Bộ, ngành, địa phương được giao nhiệm vụ chủ trì hoặc tham gia phối hợp phải bảo đảm tiến độ và chất lượng sản phẩm theo nhiệm vụ được phân công tại Kế hoạch này.

II. CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ

1. Tuyên truyền, phổ biến Luật cán bộ, công chức

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao và thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về Luật cán bộ, công chức và các văn bản quy định chi tiết Luật cán bộ, công chức.

– Thời gian thực hiện: Trong năm 2009 và năm 2010.

– Cơ quan chủ trì: Bộ Nội vụ.

– Cơ quan phối hợp: Bộ Tư pháp.

2. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về cán bộ, công chức.

Các Bộ, ngành và địa phương tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, thống kê những văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ để phù hợp với Luật cán bộ, công chức. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

– Thời gian hoàn thành: tháng 6 năm 2009.

– Cơ quan chủ trì: Các Bộ, ngành, địa phương.

Continue reading →

DỊCH VỤ ĐÒI NỢ: NGHỀ KHÓ NHƯNG THU NHẬP CAO

DDDN – Sau một loạt doanh nghiệp (DN) làm dịch vụ thu nợ tại Hà Nội bị bắt vì những hành vi trái pháp luật khi thực hiện… ngành nghề của mình, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ (DVĐN). Theo đó, chỉ những DN được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh DVĐN mới được phép hoạt động trong lĩnh vực này và DN đó không được kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào khác ngoài DVĐN. Tuy vậy, theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng đây là một nghề cần được phát triển vì không một xã hội nào phát triển được nếu thiếu các khoản nợ.

Trong nền kinh tế thị trường nợ là bình thường đối với quốc gia, DN, cá nhân, hộ gia đình trong phạm vi cân đối được tài khoản phải thu, phải trả. Quan hệ nợ bình thường là sự liên kết, hợp tác của các bên vừa mang yếu tố kinh tế vừa chứa đựng thiện chí đồng thời thúc đẩy sự hình thành và thực hiện các ý tưởng kinh doanh. Nhiều chủ nợ, Cty dịch vụ đòi nợ đã tư vấn để khách nợ làm ăn có hiệu quả, trả nợ cũ vay mới. Có trăm ngàn cách vay, lý do phát sinh nợ quá hạn thì cũng có từng ấy cách… đòi nợ.

Chưa rõ thị trường cạnh tranh DVĐN

Hiện chúng ta đã có nhiều hình thức… đòi nợ mà thiết nghĩ nên gọi là xử lý nợ để mở rộng phương pháp hành nghề.

– Đối với Nhà nước có Cty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của DN thành lập theo Quyết định 109/2003/QĐ-TTg, là DNNN với vốn Điều lệ 2.000 tỷ đồng được ngân sách cấp, Cty được kinh doanh các ngành nghề khác;

– Các DN làm dịch vụ đòi nợ theo Luật DN và được điều chỉnh bằng Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007.

– Các Cty xử lý nợ của các ngân hàng thương mại.


Một ví dụ khá thành công của dịch vụ thu nợ là Cty TNHH dịch vụ thu hồi nợ và tư vấn Nhật An (TP HCM) thành lập năm 1997 đến 2007 đã nhận được 15.000 đầu mối “tằm tơ”, trung bình mỗi năm có đến 1.000 hồ sơ. Cty đã giải quyết được 80% số hồ sơ đòi nợ với giá dịch vụ từ 22-25% tổng số tiền thu được, thu đến đâu khấu luôn đó. Nếu bình quân mỗi hồ sơ nợ Cty thu được 10 triệu đồng thì 10 năm qua Cty thu thuần từ dịch vụ đòi nợ được 120 tỷ đồng, xứng đáng cho một nghề khó nhưng có thu nhập cao, không những vậy còn góp phần chống các dịch vụ xiết nợ kiểu “xã hội đen”.


 

Continue reading →

HƠN MỘT THÁNG NGHỊ ĐỊNH CHỐNG THƯ RÁC CÓ HIỆU LỰC: TIN RÁC VÔ TƯ HOÀNH HÀNH

MINH LÝ

Nghị định số 90 về chống thư rác có hiệu lực từ 9.2. 2009, những người dùng Intenet, điện thoại di động tưởng đã tránh được sự phiền toái từ những tin nhắn quảng cáo không rõ nguồn gốc… nhưng theo phản ánh thì những loại tin này vẫn mặc sức hoành hành, thậm chí với số lượng nhiều hơn.

Tin rác tràn lan

Theo Nghị định 90, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ nội dung từ ngày 9.2 khi nhắn tin quảng cáo qua di động đều phải được gắn nhãn quảng cáo rõ ràng và phải cung cấp đầy đủ các loại hình từ chối bằng tin nhắn, số điện thoại cho người nhận.

Trong đó, theo quy định của nghị định và Thông tư 12 của Bộ Thông tin và Truyền thông, các nhà cung cấp dịch vụ nội dung sẽ phải đăng ký với Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, là đơn vị quản lý để được cấp mã số, gắn nhãn quảng cáo và các quy định trên SMS quảng cáo. Trong đó, nội dung tin nhắn rác cũng được "nâng cấp", khi không chỉ dừng lại ở quảng cáo dịch vụ, sản phẩm mà còn tập trung vào chuyện xem bói qua ngày tháng năm sinh, chuyện giới tính, hình ảnh sex… Những tin nhắn kiểu như: Tặng bạn 5 hình nén + 5 nhạc chương trình HOT miễn phí, soạn SPRSP gửi 8xxx; tặng bạn 10 người đẹp Bikini nóng bỏng và quyến rũ, soạn: TDT 125 gửi 8xxx… hàng ngày vẫn được "xả" vào các số điện thoại di động, gây bực bội cho người dùng. Tình trạng tin nhắn quảng cáo không có trách nhiệm, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, thậm chí lừa đảo thực tế vẫn đang khá phổ biến, một lãnh đạo của VNCERT cho biết. Theo ông Đỗ Ngọc Duy Trác, Trưởng phòng nghiệp vụ VNCERT, ngay sau ngày 9.2.2009, VNCERT đã nhận được nhiều công văn của các nhà cung cấp dịch vụ nội dung gửi đến đề nghị được cung cấp mã số quản lý, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp bị từ chối do chưa đủ điều kiện hợp lệ, một số còn lại vẫn trong quá trình thẩm định. Chính vì thế, theo VNCERT, đến thời điểm này mới chỉ có Công ty Cổ phần Truyền thông GAPIT đã được cấp mã số, còn lại tổng số hơn 160 nhà cung cấp dịch vụ và nội dung, nếu thực hiện gửi tin nhắn quảng cáo đều vi phạm Nghị định 90. Căn cứ theo nghị định sẽ có những hình thức xử phạt thích đáng, thậm chí thu hồi đầu số. "Đến thời điểm này có thể khẳng định doanh nghiệp nào chưa có mã số quản lý phải dừng ngay việc quảng cáo tự do qua tin nhắn SMS, vì hầu hết tin nhắn quảng cáo hiện nay đều vi phạm Nghị định chống thư rác", TS Vũ Quốc Khánh, Giám đốc VNCERT, cho biết.

Continue reading →

THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC VẤN ĐỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 76/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP

HOÀNG QUỐC HÙNG – Thanh tra Bộ tư pháp

Thực hiện Quyết định số 140/QĐ-TTR ngày 20/6/2008 của Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp về việc thành lập Đoàn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh tra do Thanh tra Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp cùng với Vụ Bộ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành làm việc tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, Văn phòng Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh và 140 tổ chức hành nghề luật sư và chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư, cụ thể:

– Tại thành phố Hà Nội, Đoàn đã thanh tra tổng số 66 tổ chức và chi nhánh các tổ chức, gồm: 35 văn phòng luật sư, 01 chi nhánh văn phòng luật sư, 12 công ty luật, 10 chi nhánh công ty luật và 06 trung tâm tư vấn pháp luật;

– Tại thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn đã thanh tra tổng số 74 các tổ chức và chi nhánh các tổ chức, gồm: 45 văn phòng luật sư, 4 chi nhánh văn phòng luật sư, 18 công ty luật, 10 chi nhánh công ty luật và 02 trung tâm tư vấn pháp luật.

Đoàn Thanh tra xin báo cáo Bộ trưởng khái quát về tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số vấn đề nổi cộm, vướng mắc từ kết quả thanh tra như sau:

I. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Đối với Sở Tư pháp thành phố Hà Nội

1.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội

– Theo báo cáo của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, tính đến thời điểm thanh tra số lượng các tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội như sau:

+ Số lượng các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam: 312 tổ chức (249 văn phòng luật sư và 63 công ty) và 18 chi nhánh các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam;

+ Số lượng các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài: 22 tổ chức;

+ Số lượng các tổ chức hành nghề tư vấn pháp luật: 11 Trung tâm.

+ Số lượng tổ chức hành nghề luật sư bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động:  05 (đều là tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và lý do bị thu hồi là: 02 trường hợp do luật sư – trưởng văn phòng bị thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư; 03 trường do luật sư – trưởng văn phòng là công chức nhà nước, thôi không làm luật sư.

Continue reading →

KÝ KẾT, GIA NHẬP ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ – KINH NGHIỆM CỦA CANADA

T.T.T

Hiến pháp Canada phân chia quyền lập pháp cho từng cơ quan từ cấp liên bang đến cấp tỉnh, thành phố, theo đó Quốc hội (cơ quan lập pháp liên bang) chịu trách nhiệm lập pháp về các vấn đề liên quan đến thương mại, cơ quan lập pháp cấp tỉnh chịu trách nhiệm lập pháp về những vấn đề liên quan đến phạm vi quản lý của các tỉnh và các cơ quan chính quyền địa phương khác cũng xây dựng pháp luật để điều chỉnh các vấn đề của địa phương do mình quản lý.

Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

Theo quy định của Hiến pháp Canada, Hoàng gia có đặc quyền về ký kết các điều ước quốc tế, đặc quyền này được Chính phủ Hoàng gia Anh trao cho cơ quan hành pháp Canada, và do vậy thẩm quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế thuộc phạm vi quyền hạn của cơ quan hành pháp liên bang do Thống đốc Canada thực hiện, dưới sự tư vấn và chấp thuận của Hội đồng Cơ mật của Nữ hoàng Canada (Nội các), quyền về ký kết, gia nhập điều ước quốc tế của cơ quan hành pháp liên bang bao gồm cả các vấn đề thuộc thẩm quyền lập pháp của cấp tỉnh vì theo quy định của Hiến pháp thì chính quyền cấp tỉnh không có quyền ký kết, gia nhập điều ước quốc tế. Trong khi đó, chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) chỉ được toàn quyền ký các thoả thuận không ràng buộc với chính phủ các nước khác (cả ở cấp trung ương và địa phương). Ngoài ra, cơ quan chính phủ liên bang (như các Bộ) cũng có toàn quyền ký các thoả thuận không ràng buộc với chính phủ các nước. Mục đích của việc ký kết các thoả thuận không ràng buộc này là nhằm nâng cao khả năng hợp tác hành chính (công nhận các quy định pháp luật của nhau, ví dụ như về cấp giấy phép lái xe) cũng như chia sẻ các nguyện vọng và quan điểm chính trị .v.v… Chính quyền liên bang, địa phương và các cơ quan Chính phủ cũng có thể ký kết các hợp đồng thương mại với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (ví dụ như các hợp đồng thuê tài sản).

Quy trình ký kết điều ước quốc tế ở Canada

Bước1: Thông qua tham vấn, xác định và khẳng định các ưu tiên về chính sách đối với điều ước quốc tế. Bước này tiến hành thực hiện việc tham vấn với các Bộ khác của Chính phủ liên bang, với các tỉnh và vùng lãnh thổ, các nhóm liên quan và các tổ chức phi Chính phủ (như các tổ chức về môi trường) và các ngành công nghiệp liên quan.

Thảo luận, làm rõ nội dung dự thảo điều ước quốc tế  với quốc gia/các quốc gia khác

Bước 2: Xin phép cơ quan hành pháp liên bang (Nội các) về việc đàm phán điều ước quốc tế. Việc xin phép có thể được thực hiện thông qua hình thức văn bản “Báo cáo Nội các” hoặc thực hiện thông qua xác định và khẳng định việc Nội các uỷ quyền đàm phán.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 24/2006/DS-GĐT NGÀY 07-9-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

…

Ngày 7 tháng 9 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Trần Tấn Hiệp, sinh năm 1943;

2. Bà Vũ Thị Thục Đức, sinh năm 1943 (vợ ông Hiệp).

Cùng trú tại: Số 75 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

1. Ông Lê Trọng Đỉnh, sinh năm 1949;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh, sinh năm 1952 (vợ ông Đỉnh).

Cùng trú tại: Số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Tại đơn khởi kiện ngày 5-6-2002 và các lời khai tại Toà án ông Trần Tấn Hiệp và bà Vũ Thị Thục Đức trình bày: Ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chúng tôi. Từ tháng 3-2000 đến tháng 6-2000 vợ chồng chúng tôi đã vay ông Đỉnh nhiều lần tiền để kinh doanh; tháng 9-2000 vợ chồng chúng tôi đã cho vợ chồng ông Đỉnh vào ở nhờ ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ. Khi đó hồ sơ về ngôi nhà vợ chồng chúng tôi đang thế chấp tại Ngân hàng Hàng Hải để vay tiền kinh doanh. Vợ chồng chúng tôi có vay ông Đỉnh một số tiền; sau này chúng tôi được biết số tiền ông Đỉnh cho chúng tôi vay thực chất là tiền của Công ty Bắc Sơn mà chúng tôi là đồng sở hữu, ông Đỉnh đã rút ra cho chúng tôi vay lại. Khoảng năm 2000 Ngân hàng Hàng Hải là nơi chúng tôi thế chấp ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ để vay tiền đã thúc ép chúng tôi phải thanh toán tiền cho Ngân hàng, do vậy vợ chồng tôi đồng ý để ông Đỉnh nộp một phần tiền với tư cách chúng tôi nợ ông Đỉnh để trả nợ Ngân hàng Hàng Hải và giải chấp ngôi nhà trên. Ngày 01-02-2001, Ngân hàng Hàng Hải đã trả toàn bộ giấy tờ nhà cho chúng tôi. Sau khi giải
chấp ngôi nhà, do nghĩ là vợ chồng tôi đã nợ ông Đỉnh một số tiền lớn nên
ngày 06-3-2001, vợ chồng chúng tôi đã viết giấy nhận nợ ông Đỉnh 5 tỷ đồng, cùng ngày chúng tôi đưa ông Đỉnh toàn bộ giấy tờ của ngôi nhà. Mục đích chúng tôi đưa giấy tờ nhà cho ông Đỉnh là tạo điều kiện cho ông Đỉnh thế chấp nhà để vay tiền Ngân hàng.

Continue reading →

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 34/2006/DS-GĐT NGÀY 05-10-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

…

Ngày 05 tháng 10 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lâm Ngọc Lắm, sinh năm 1943; trú tại: Hoa Kỳ (ông Lắm uỷ quyền cho ông Lâm Ngọc Hiệu, sinh năm 1928; trú tại ấp Long Hoà 2, xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ nay là tỉnh Hậu Giang).

Bị đơn: Bà Lâm Thị Mịnh, sinh năm 1927; trú tại: ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (bà Mịnh uỷ quyền cho con là anh Nguyễn Phước Hành, sinh năm 1961; trú tại: ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ nay là ấp 2 đường Nguyễn Trung Trực, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lâm Thị Ảnh, sinh năm 1946; trú tại: ấp Long Hoà 2, xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang);

2. Bà Lâm Thị Kỉnh, sinh năm 1925; trú tại: ấp 5, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (hiện nay không còn cư trú tại địa chỉ trên);

3. Ông Lâm Ngọc Hiệu, sinh năm 1928; trú tại: ấp Long Hoà 2, xã Long Phú, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang);

4. Anh Nguyễn Phước Hành, sinh năm 1961; trú tại ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là ấp 2 đường Nguyễn Trung Trực, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang).

NHẬN THẤY:

Cụ Lâm Ngọc Hậu (chết năm 1975) có vợ là cụ Hồ Thị Hứng (chết năm 1990), đều không để lại di chúc. Hai cụ có 5 con là bà Lâm Thị Mịnh, bà Lâm Thị Kỉnh, ông Lâm Ngọc Hiệu, ông Lâm Ngọc Lắm, bà Lâm Ngọc Ảnh.

Tài sản của cụ Hậu và cụ Hứng là 1 căn nhà không số trên 76 m2 đất ở tại ấp 2, thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (cũ). Từ năm 1985 nhà, đất do anh Nguyễn Phước Hành (con trai bà Mịnh) quản lý và sử dụng. Trong quá trình quản lý và sử dụng anh Hành có sửa chữa nhỏ.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÍ THI HÀNH ÁN

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế

Phí thi hành án là khoản thu nhằm bổ sung một phần cho ngân sách nhà nước, nâng cao trách nhiệm của người được thi hành án, tạo động lực để các bên cẩn thận hơn trong các giao dịch dân sự, khuyến khích các bên nỗ lực hoà giải, thoả thuận với nhau để tự nguyện thi hành án và đồng thời cũng là để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay.

Chính vì vậy, tại Điều 20 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (PLTHADS) quy định: “Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án đối với khoản thi hành án có giá ngạch trên giá trị tài sản mà người đó thực nhận”.

Cụ thể hoá quy định trên, Thông tư 68/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 21 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ (thay thế Thông tư 43/2006/TTLT-BTC-BTP ngày 19/5/2006) đã quy định chi tiết chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số quy định trong Thông tư 68 cần phải được sửa đổi hoặc bãi bỏ.

Thứ nhất, việc ban hành quyết định thu phí thi hành án.

Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 mục II Thông tư 68 thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án là người có thẩm quyền ra quyết định thu phí thi hành án. Đối với vụ việc phải thu phí thi hành án nhiều lần thì mỗi lần thu phí Thủ trưởng Cơ quan thi hành án ra một quyết định thu phí thi hành án.

Khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án chưa phải nộp phí thi hành án. Cơ quan thu phí chỉ được thu phí thi hành án khi chi trả tiền hoặc tài sản được thi hành án cho người được thi hành án.

Trên cơ sở đó, Quyết định số 07/2007/QĐ-BTP ngày 12/7/2007 của Bộ Tư pháp về việc ban hành quy định về Biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án thì Quyết định thu phí (Biểu mẫu số 33) được ban hành căn cứ vào phiếu chi tiền hoặc biên bản giao nhận tài sản cho người được thi hành án.

Continue reading →

MỘT SỐ VỤ VIỆC CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH DO CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH XỬ LÝ

Công ty Glaxo Group Limited khiếu nại về chỉ dẫn gây nhầm lẫn của Công ty Vidipha

• Thời gian: Tháng 01-03/2006

• Nội dung: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn làm sai lệch nhận thức của khách hàng giữa sản phẩm

Zinnat của Glaxo và Zaniat của Vidipha.

• Hành vi: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

• Xử lý: Điều tra sơ bộ

• Kết quả: Đình chỉ điều tra sơ bộ theo Quyết định số 19/QĐ-QLCT ngày 29/03/2007

 

Vụ việc khiếu nại về khẩu hiệu kinh doanh của Công ty Syngenta

• Thời gian: Tháng 8-9/2007

• Nội dung: Văn phòng Luật sư Investconsult đại diện Công ty Syngenta khiếu nại Công

ty An Nông sử dụng trái phép khẩu hiệu kinh doanh “Be bồ chứa lúa”

• Hành vi: Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

• Xử lý: Trả lại hồ sơ

• Kết quả: Trả lại hồ sơ khiếu nại do Bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ trong thời hạn quy định

 

Vụ việc Công ty CP Liên kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

• Thời gian: Tháng 8-11/2007

• Nội dung: Chi cục QLTT Hà Nội chuyển hồ sơ và biên bản ghi nhận Công ty CP Liên

kết tri thức in tờ rơi có nội dung sai lệch về sản phẩm bán hàng đa cấp

• Hành vi: Bán hàng đa cấp bất chính

• Xử lý: Điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh

• Kết quả: Quyết định phạt tiền 85 triệu đồng

 

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ THEO HỢP ĐỒNG: PHIM ĐÁM CƯỚI BỊ HƯ, MỆT MỎI ĐÒI BỒI THƯỜNG

QUỐC VIỆT

Khi khách hàng khiếu nại, nhà hàng tổ chức tiệc cưới chỉ “ậm ừ” rồi treo luôn hai tháng nay. Anh Lê Văn Dương (phường Phú Trung, quận Tân Phú, TP.HCM) cho biết: Ngày 15-1-2009, anh đặt tiệc cưới tại nhà hàng Pacific Đầm Sen (phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú). Theo hợp đồng, nhà hàng đảm nhận luôn khâu chụp ảnh, quay phim tiệc cưới. Xong tiệc cưới, anh Dương đã thanh toán tiền đầy đủ. Nhưng…

Đĩa sọc ngang, sọc dọc

Lúc nhận đĩa DVD tiệc cưới, vợ chồng anh Dương bật lên xem rồi méo mặt bởi hình ảnh bị dị dạng, lằn sọc, lằn ngang giữa màn hình. Nguyên nhân đĩa bị lỗi, không thể xem được. Mặc dù anh Dương nhiều lần liên hệ, yêu cầu khắc phục sự cố nhưng phía nhà hàng Pacific Đầm Sen chỉ ậm ừ rồi “treo” luôn cho đến nay.

Đến khi anh Dương gửi đơn đến tư pháp, công an phường nhờ can thiệp thì quản lý nhà hàng hứa sẽ trả lại chi phí quay phim trong hợp đồng là một triệu đồng. “Sự cố rủi ro không ai muốn, chúng tôi cũng không thể tổ chức cưới lần nữa nhưng phía nhà hàng quá xem thường khách, không thèm một lời xin lỗi, không giải quyết mà cứ đùn đẩy trách nhiệm…” – anh Dương bức xúc.

Trao đổi với phóng viên, ông Ngô Duy Hiếu, Giám đốc nhà hàng Pacific Đầm Sen, cho biết: “Trong hợp đồng tiệc cưới tại nhà hàng, anh Dương có yêu cầu quay phim. Tuy nhiên sau đó phim bị lỗi, không khắc phục được. Nếu anh Dương có khiếu nại đòi trả lại khoản tiền trên, chúng tôi sẵn sàng trả lại để giữ uy tín cho nhà hàng. Sở dĩ chúng tôi chậm trả lại tiền cho anh là do cô quản lý đã nghỉ việc, còn nhân viên quản lý mới cho rằng đây là trách nhiệm của quản lý cũ (?)… Trong khi đó, cô Ngọc, nhân viên quản lý cũ của nhà hàng Pacific Đầm Sen, lại nói: “Mọi khoản hợp đồng trong tiệc cưới do quản lý đứng ra tổ chức, chịu trách nhiệm và số tiền thanh toán hợp đồng quản lý đều nộp cho kế toán nhà hàng. Trong trường hợp này, theo tôi, ban giám đốc, cụ thể là ông Hiếu phải chịu trách nhiệm giải quyết cho khách hàng”.

Continue reading →

NÂNG CAO VÀI TRÒ DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT KINH DOANH

HỒ HƯỜNG – THỦY NGUYÊN – NAM PHƯƠNG – BÍCH NGỌC

Doanh nghiệp có quyền được tham vấn khi cơ quan nhà nước tiến hành hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh đã được thể chế hóa trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, vai trò góp ý, xây dựng chính sách pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

Để tăng cường năng lực góp ý xây dựng pháp luật của doanh nghiệp, được sự hỗ trợ của Star Việt Nam và Quỹ GE, sáng nay (24/3/2009) VCCI tổ chức Hội thảo “Nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật kinh doanh”. Thông qua kinh nghiệm tham vấn chính sách của VCCI và kinh nghiệm quốc tế, hội thảo sẽ trang bị thông tin về quyền của doanh nghiệp và những công cụ, kỹ năng cần thiết cho doanh nghiệp, hiệp hội trong quá trình góp ý hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật.

Đến tham dự buổi hội thảo sáng nay có đại diện của các vị lãnh đạo, các Hiệp hội doanh nghiệp và đông đảo các doanh nghiệp…

Phát biểu khai mạc, TS Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, buổi hội thảo hôm nay sẽ bàn về vấn đề tham gia của các doanh nghiệp và Hiệp hội doanh nghiệp vào quá trình xây dựng các chính sách do VCCI tiến hành lấy ý kiến tham vấn. Đây là buổi trao đổi kinh nghiệm, tăng cường giao lưu hợp tác của các doanh nghiệp.

Để phát huy hiệu quả công tác tham vấn, theo TS Vũ Tiến Lộc, cần phải đề cao năng lực và tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp với VCCI và giữa VCCI với các Cơ quan chính phủ, với Quốc hội. Từ đó nhằm nâng cao vai trò của các doanh nghiệp và đưa tiếng nói của doanh nghiệp tới được với các Cơ quan của chính phủ. Do đó, cần tập trung vào vấn đề nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật kinh doanh.

Tiếp theo phát biểu của TS Vũ Tiến Lộc, ông Trần Hữu Huỳnh – Trưởng Ban Pháp chế VCCI đã điểm qua một vài vấn đề trong quá trình xây dựng – thi hành pháp luật và vai trò của VCCI. Theo ông Huỳnh, quá trình này bao gồm 4 nội dung: Quá trình xây dựng và góp ý Dự thảo; Ban hành văn bản QPPL và Phổ biến PL; Bản án và Bình luận bản án; Thi hành và Giải quyết vướng mắc doanh nghiệp; Thi hành và Kiến nghị xây dựng pháp luật.

Continue reading →