ĐÒI NỢ THUÊ

LÊ NGA – ĐÀM HUY- HOÀNG TUẤN – QUANG HIỂN

Chưa bao giờ tình trạng đòi nợ thuê lại nhức nhối như hiện nay. Không chỉ riêng TP.HCM mà nhiều tỉnh thành trên cả nước đều diễn ra tình trạng này dưới nhiều hình thức khác nhau khiến nhiều người lo sợ.

I. Bắt người, tra tấn . . .

Mỗi khi túng thiếu hoặc cần gấp một số tiền, nhiều người dân, thậm chí cả doanh nhân, thường chấp nhận đi vay mượn tiền bên ngoài, dù biết lãi suất cao nhưng thủ tục nhanh gọn. Không cần tài sản thế chấp, chỉ cần photo CMND, thậm chí có trường hợp không cần mảnh giấy nào, chỉ “hợp đồng” miệng với nhau là có thể giao dịch hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỉ đồng… Đơn giản thế, nhưng đố con nợ nào dám “xù”. Bởi chỉ cần chậm trả theo cam kết là chủ nợ, thường là những “ông trùm, bà trùm” có các băng nhóm thuộc thế giới ngầm bảo kê, sẽ kêu đàn em “xử” đẹp.

Mê cá độ bóng đá, Đ.N.B (27 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM) vay 50 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng. Trả được 6 – 7 tháng tiền lãi, B. không còn khả năng trả tiếp. Lập tức, B. bị chủ nợ cho người bắt đưa về nhốt ở một khách sạn thuộc Q.Tân Phú tra tấn, chụp hình gửi về cho gia đình buộc mang 157 triệu đồng (tính luôn tiền thời gian không đóng lãi suất) lên chuộc người. May mắn, sau đó anh B. trốn thoát và tố cáo sự việc với cơ quan chức năng.

Trường hợp Mỹ Lệ (35 tuổi, quê Hà Nội, là “má mì” một quán karaoke ôm ở Q.1, TP.HCM) lại khác. Lệ vay 100 triệu của một “trùm” cho vay nặng lãi tên Cường ở Q.1, bạc 60 (lãi suất 60%/tháng). Với lãi suất này, mỗi ngày mở mắt ra Lệ phải nộp cho Cường 2 triệu đồng. Trả được 1 năm, Lệ mất khả năng chi trả nên bị “đàn em” của Cường hành hung, đòi lấy mạng. Sợ chết khiếp, Lệ khăn gói trốn khỏi đất Sài Gòn.

Đầu tháng 4.2009, Công an thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam 5 nghi can về hành vi cướp tài sản. Nhưng sự thật vụ việc cũng phát xuất từ nợ. Nguyễn Thị Hạnh (ngụ P.Hiệp Thành, thị xã Thủ Dầu Một) mượn tiền của Ngô Thị Lý (ngụ xã Hòa Lợi, H.Bến Cát) nhưng hứa mãi không trả. Ngày 17.3, Lý cùng Nguyễn Duy Long đến nhà Hạnh đòi 5,6 triệu đồng. Hạnh xin trả trước 2 triệu đồng, khoản tiền còn lại sẽ trả sau nhưng Lý không đồng ý mà đòi siết xe gắn máy. Thấy “con nợ” chần chừ, Lý và Long gọi điện thoại cho một số “đàn em” kéo đến hỗ trợ. Một lúc sau, khi Hạnh cùng bạn điều khiển xe máy đang lưu thông trên đường thì bị nhóm Long ép té xe, hành hung rồi lấy luôn chiếc xe máy mang về nhà coi như trừ nợ!

Cách đây không lâu tại xã Đông Hòa, Dĩ An (Bình Dương) cũng đã xảy ra một vụ đòi nợ theo “luật đen” làm nhiều người kinh hoàng khiếp vía. Giữa tháng 12.2008, một nhóm thanh niên mặt mày bặm trợn, hùng hổ xông vào cửa hàng điện thoại di động (ĐTDĐ) Kim Ngân của chị Hồ Thị Thu Kim đập phá tài sản, lớn tiếng đòi nợ. Trước khi ra về, nhóm người này dùng tuốc-nơ-vít cạy tủ lấy đi 9 chiếc ĐTDĐ các loại và 20 sim card đang bày bán để siết nợ. Khi thấy lực lượng công an xuất hiện, nhóm thanh niên này còn manh động chống đối với thái độ rất hung hãn. Qua kiểm tra, lực lượng Công an xã Đông Hòa phát hiện Lê Trường Ân (SN 1988, ngụ KP Nhị Đồng, thị trấn Dĩ An) mang trong người 1 khẩu súng điện loại 80 KV, màu đen cùng với 5 viên đạn, 1 dao bấm màu trắng dài khoảng 15 cm.

Continue reading

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

HỮU HẠNH

Năm 1988, Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam (nay là Luật Đầu tư) bắt đầu có hiệu lực. Sau 20 năm vận hành, tính đến nay đã có hơn 9.530 dự án của 82 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 100 tỷ USD. Trong đó có 8.590 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ USD. Trong 10 quốc gia và vũng lãnh thổ lọt vào Topten có vốn đầu tư cao nhất, thì có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ có số vốn thực hiện từ 2 tỷ USD trở lên (riêng Nhật Bản gần 5 tỷ USD) là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor, Đài Loan, Hồng Kông và Hà Lan. Thực tiễn 20 năm qua cho thấy, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước.

Bức tranh tổng thể về ĐTNN

Xuất phát từ lợi thế phát triển kinh tế của từng vùng và địa phương cũng như đòi hỏi đầu tư hiệu quả và hội nhập của từng doanh nghiệp, tập đoàn, các nguồn vốn ĐTNN về cơ bản đã trải khắp 64 tỉnh, thành phố trong cả nước nhưng về mật độ và cơ cấu ngành nghề thì có khác nhau. Cụ thể, các tỉnh phía Bắc, thu hút hơn 24 tỷ USD vốn đầu tư và chiếm 27% tổng vốn đăng ký cả nước. Tương tự, với các tỉnh phía Nam là 44,9 tỷ và 54%, và các tỉnh miền Trung là 8,6 tỷ và 6%. Còn xét về cơ cấu ngành nghề thì lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất, gần 67% về số dự án, hơn 60% về vốn đăng ký và tới 68,5% về vốn thực hiện; kế đến là lĩnh vực dịch vụ 22%, 34,5% và 24,5%; Sau cùng là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp 10,8%, 5,4% và 6,7%. Nếu xét ở góc độ hình thức đầu tư thì, doanh nghiệp (DN) 100% vốn nước ngoài chiếm 74,4% tổng số dự án và gần 51% về tổng số đăng ký. Tương tự, DN liên doanh là 22,2% và 38%; Hợp tác kinh doanh là 3% và 8,3%; DN cổ phần là 0,1% và 0,4%; DN BOT là 0,1% và 2,7%…

Trong 20 năm qua, ĐTNN đã có sự đóng góp đáng kể cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Việt Nam. Những đóng góp thể hiện qua các mặt sau:

Thứ nhất, đóng góp cho sự tăng trưởng nền kinh tế: từ mức trung bình 6,3% của GDP trong giai đoạn 1991 – 1995 lên 10,3% của 5 năm 1996 – 2000. Trong thời kỳ 2001 – 2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6% và trong hai năm 2006 và 2007 tỷ trọng này là 17% GDP.

Thứ hai, là nguồn vốn bổ sung quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ 1991 – 1995 tỷ trọng của ĐTNN trong đầu tư xã hội chiếm 30%, là mức cao nhất cho đến nay. Giai đoạn 1996 – 2000 chiếm 23,4%. Giai đoạn 2001 – 2005 và hai năm 2006 – 2007 chỉ còn khoảng 16,7%, do sự lớn mạnh của khu vực đầu tư tư nhân trong nước kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 1999 và năm 2005). Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng về sự phát triển nội lực, sự thông thoáng của cơ chế thị trường hội nhập của nước ta.

Thứ ba, ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP từ 23,8% năm 1991 lên 40% năm 2004. Đến nay, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm khoảng 35% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Đặc biệt, ở một số địa phương như Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc… tỷ lệ này đạt đến 65 – 70%. ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng năng lực của một số ngành công nghiệp mũi nhọn như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…

Continue reading

VĂN HÓA DOANH NGHIỆP THỜI HỘI NHẬP

MINH HƯƠNG

Ngày nay, văn hoá doanh nghiệp đang được coi là một loại tài sản vô hình. Loại tài sản này có thể đưa doanh nghiệp ngày càng làm ăn phát đạt, nhưng nếu chúng ta không biết phát huy thì nó sẽ đưa doanh nghiệp nhanh chóng đến chỗ phá sản. Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Có hay không văn hoá doanh nghiệp ở các nước tiên tiến trên thế giới? Vận dụng nó ra sao trong mỗi doanh nghiệp của Việt Nam thời hội nhập? Làm gì để phát huy loại tài sản quý giá này?… là những vấn đề mà tác giả muốn chia sẻ trong bài viết.

Văn hoá doanh nghiệp

Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp đã được đưa ra bàn từ lâu, và cho đến nay vẫn đang có nhiều cách hiểu khác nhau, đó là: Văn hoá doanh nghiệp là lực lượng tinh thần, tinh thần ở đây là toàn bộ sự phấn kích, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh theo đúng nghĩa lành mạnh; Văn hoá doanh nghiệp là lực lượng vật chất, cách này cho rằng, nhờ có cách ứng xử văn hoá mà doanh nghiệp tạo ra được một lượng vật chất nhiều hơn, tốt hơn; Văn hoá doanh nghiệp là lực lượng vất chất và tinh thần của doanh nghiệp. Cách này cho rằng, sự kết hợp hài hoà các yếu tố cần thiết trong mỗi doanh nghiệp để tạo ra bầu không khí làm việc hăng say của người lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất, vật chất được tạo ra một phần sử dụng vào tái tạo sức lao động để mọi người lại tiếp tục lao động sáng tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt hơn, và số lượng nhiều hơn. Bằng những quan niệm khác nhau mà người ta ứng xử nó cũng khác nhau trong chính mỗi doanh nghiệp.

Để hiểu đúng văn hoá doanh nghiệp chúng ta cần có điểm xuất phát đúng, tức là phải thừa nhận hai yếu tố cấu thành, đó là: Văn hoá, theo đó là văn hoá phải gắn với doanh nghiệp. Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như ý chủ biến viết:

Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong môi trường chung đó là những quan niệm, tập quán, truyền thống của dân tộc, tác động của môi trường tới hoạt động của doanh nghiệp, tác động này chi phối tình cảm, lý trí, cách suy nghĩ và hành vi ứng xử của mỗi thành viên trong doanh nghiệp và trong cộng đồng doanh nghiệp với người sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.

Văn hoá doanh nghiệp còn được coi là nền tảng để phát triển doanh nghiệp, được cấu thành bởi mục đích kinh doanh và phương pháp kinh doanh. Là tổng hoà các quan niệm về giá trị được tạo ra từ đạo đức, ý tưởng kinh doanh, triết lý kinh doanh, mục đích kinh doanh, phương pháp kinh doanh và hiệu quả phục vụ cho chính những con người cần cù lao động sáng tạo để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội… Dù có diễn giải thế nào thì văn hoá doanh nghiệp vẫn phải dựa trên cơ sở là cách thức ứng xử của mỗi thành viên trong doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là các hành vi quản lý lao động, sáng tạo lao động và các hoạt động của doanh nghiệp phải phù hợp với các quy định của pháp luật trong mặt bằng chung và của hiệp hội ngành nghề nói riêng.

Continue reading

DỰ THẢO BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT TRỌNG TÀI (Bản báo cáo tóm tắt)

1 – Mục tiêu:

Trong giao dịch dân sự thường này, nhất là giao dịch kinh tế thương mại, việc phát sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi; và giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, công bằng các tranh chấp này sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại, đầu tư; tạo sự yên tâm cho các bên ngay từ khi mới hình thành quan hệ dân sự và cả khi có phát sinh tranh chấp.

Do vậy,  mục tiêu quan trọng nhất của Luật Trọng tài là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thuận lợi cho các bên, đặc biệt là các bên tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư. Dự kiến việc ban hành và thực hiện Luật trọng tài sẽ giảm tải khoảng 10% số lượng tranh chấp kinh tế cho toà án, chuyển sang giải quyết thông qua hệ thống trọng tài vào năm 2015.[1] Ngoài ra, luật còn nhằm góp phần làm phát triển cả về quy mô và chất lượng của hệ thống trọng tài và các trọng tài viên ở Việt Nam.

II. Thực trạng vấn đề của hệ thống trọng tài Việt nam hiện nay và nguyên nhân.

1. Thực trạng vấn đề

Vấn đề lớn nhất hiện nay là trọng tài tại Việt Nam rất ít được sử dụng để giải quyết các tranh chấp đầu tư và thương mại; các hợp đồng với các bên nước ngoài nhất là hợp đồng có trị giá lớn hầu như không lựa chọn trọng tài tại Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp ở Việt nam hiện vẫn chủ yếu được giải quyết thông qua hệ thống toà án hoặc trọng tài nước ngoài.

Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh thương mại và lao động, thì toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên toà án tối cao.[2] Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi VIAC (1 trong 7 tổ chức trọng tài lớn nhất Việt Nam và có số vụ kiện thụ lý nhiều nhất Việt Nam) cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ,[3] tính trung bình, mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một năm, thì mỗi thẩm phán ở tòa kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở tòa kinh tế Thành phố HCM xử trên 50 vụ một năm.

Trên thế giới, nhiều tranh chấp kinh tế, thương mại vẫn tiếp tục được giải quyết bằng trọng tài, ví dụ tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore (119 vụ), Hiệp hội Trọng tài Mỹ (621 vụ);  Toà án Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế ICC (599 vụ); Hội đồng Trọng tài Thương mại và Kinh tế Trung Quốc (1.118 vụ); Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (448 vụ)[4]

Hệ thống khung pháp luật điều chỉnh hoạt động của trọng tài hiện nay mặc dù có những đóng góp to lớn cho việc đặt nền móng hình thành và phát triển hệ thống trọng tài, nhưng còn những bất cập, làm cho hệ thống trọng tài chưa trở thành phương thức hấp dẫn và hiệu quả để các bên lựa chọn giải quyết các tranh chấp liên quan (trình bày cụ thể trong phần dưới đây).[5]

Việc các tranh chấp chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống toà án và Trong tâm trọng tài quốc tế ở nước ngoài có thể gây ra những tác động tiêu cực cho doanh nghiệp và phát triển kinh tế, thương mại ở nước ta. Hệ thống toà án đã trở nên quá tải dẫn đến làm ảnh hưởng đến chất lượng vụ xét xử sơ thẩm, tăng việc vụ việc xét xử phúc thẩm, kéo dài thời gian xử lý, tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết; do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc xử lý các tranh chấp tại trung tâm trọng tài ở nước ngoài có thể gây ra bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam về chi phí, thời gian đi lại, ngôn ngữ, tiện lợi, ….

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: NỘP HƠN 16 TRIỆU ĐỒNG . . . TOÀN TIỀN XU

THANH TÙNG

Đương sự đổi 16 triệu đồng ra toàn tiền xu mệnh giá 200 đồng và 500 đồng khiến cơ quan thi hành án dở khóc dở cười! Vụ việc ngộ nghĩnh này xảy ra tại Thi hành án dân sự (THA) quận Tân Bình (TP.HCM). Theo hồ sơ, ông H. là chủ một khách sạn trên đường Hoàng Văn Thụ. Giữa năm 2007, một người khách đến thuê phòng bị mất xe máy nên ông H. phải đền. Ông H. đã mượn 50 triệu đồng của một Việt kiều Na Uy là “mối ruột” thường xuyên về nước thuê phòng của ông để đền cho khách. Hai bên làm giấy cam kết là ông H. sẽ trả dần mỗi tháng hai triệu đồng cho đến khi hết nợ.

Mượn tiền thì phải trả

Tuy nhiên, sau đó ông H. đã không thực hiện cam kết nên bị chủ nợ khởi kiện đòi phải trả 44 triệu đồng (đã trừ sáu triệu đồng tiền thuê phòng để ở).

Tháng 5-2008, TAND quận Tân Bình xử sơ thẩm đã quyết định buộc ông H. phải trả cho nguyên đơn 44 triệu đồng và chịu án phí 2,3 triệu đồng. Ông H. kháng cáo nhưng TAND TP.HCM xử phúc thẩm đã tuyên y án.

Sau đó, THA quận Tân Bình đã ra quyết định thi hành bản án này. Vì ông H. và người khách mất xe thỏa thuận cấn trừ 30 triệu đồng nên ông H. chỉ phải trả cho nguyên đơn 14 triệu đồng và được THA chấp nhận. Do ông H. không tự nguyện THA, THA quận Tân Bình đã phải ra quyết định cưỡng chế. Theo đó, tổng số tiền ông H. phải thi hành là hơn 16 triệu đồng, gồm cả tiền lãi theo lãi suất ngân hàng.

Khổ vì… tiền xu

Chấp hành viên Nguyễn Thị Thủy, người trực tiếp thi hành bản án này kể, trong quá trình chuẩn bị cưỡng chế, nhiều lần bà đã mời ông H. đến để vận động tự nguyện thi hành nhưng ông H. không đến. Thế rồi một buổi sáng, ông H. đến THA quận Tân Bình xin nộp trước bảy triệu đồng. Khi chấp hành viên ký quyết định cho nộp tiền thì ông H. nói: “Chờ tui về lấy tiền”. Gần 11 giờ trưa đó, ông mới quay lại mang theo một bọc tiền xu mới tinh, lộn xộn mệnh giá 200 đồng và một ít tiền giấy mệnh giá 500 đồng.

Do gần hết giờ làm việc và số lượng tiền xu quá nhiều nên THA quận quyết định lập biên bản không nhận ngay. Ông H. cự lại thì THA giải thích là sẽ cử người cùng ông đến Ngân hàng nhà nước Chi nhánh quận Tân Bình nộp vì ở đó có dụng cụ đếm tiền. Sau đó, ông H. xách tiền về rồi không quay lại nữa.

Sáng 23-4, THA quận Tân Bình tổ chức đoàn cưỡng chế thì bị ông H. phản ứng gay gắt. Sau khi bị đoàn cưỡng chế kê biên toàn bộ 16 phòng khách sạn, chiều đó ông H. mới chịu mang tiền đến nộp. Không biết chuẩn bị từ bao giờ mà ông H. mang đến hơn 16 triệu đồng toàn là loại tiền xu mệnh giá 200 và 500 đồng. Tuy là tiền xu mới nhưng không phải từng cọc mà để lẫn lộn với nhau. Ông H. còn kỳ công cho những đống tiền xu lộn xộn đó vào những bịch nylon nhỏ hay túi nhựa, hộp giấy.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

ĐINH VĂN QUẾ – Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao

Theo quy định của pháp luật thì hệ thống Toà án nhân dân từ năm 1960 đến nay được tổ chức theo đơn vị hành chính gồm: Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao. Bên cạnh hệ thống Toà án nhân dân thì ở nước ta còn có hệ thống Toà án quân sự được tổ chức theo ba cấp không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, bao gồm: Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu và Toà án quân sự Trung ương. Theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân thì Toà án quân sự Trung ương là một đơn vị của Toà án nhân dân tối cao, do Toà án nhân dân tối cao quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ và có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng.

Với cơ cấu tổ chức hệ thống Toà án như trên, hơn 40 năm qua, các Toà án đã góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước, sắp xếp lại bộ máy qua các thời kỳ, hệ thống Toà án nhân dân cũng từng bước được thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội như: Từ chế độ Thẩm phán bầu sang chế độ Thẩm phán bổ nhiệm, từ chỗ Chủ tịch Nước bổ nhiệm Thẩm phán từ cấp huyện đến Thẩm phán tối cao thì nay việc bổ nhiệm Thẩm phán cấp tỉnh và cấp huyện do Chánh án Toà án nhân dân tối cao thực hiện; từ việc Toà án nhân dân tối cao thống nhất quản lý các Toà án địa phương sang việc quản lý Toà án địa phương do Bộ Tư pháp đảm nhiệm và hiện nay lại giao cho Toà án nhân dân tối cao quản lý Toà án địa phương về mặt tổ chức; một số Toà án chuyên trách cũng được thành lập như Toà kinh tế, Toà hành chính và Toà lao động ở Toà án nhân dân tối cao và các Toà án cấp tỉnh.v.v.

Tuy nhiên, việc tổ chức bộ máy hệ thống Toà án nhân dân theo đơn vị hành chính không còn phù hợp; chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các Toà án còn nhiều bất hợp lý. Chất lượng xét xử chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của xã hội; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, hành chính, lao động còn nhiều thiếu sót, đặc biệt là các tranh chấp dân sự, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đối với Toà án.

Continue reading

THỜI HẠN KHIẾU NẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI: PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN TÀI PHÁN VÀ CÁC QUAN ĐIỂM

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học Luật TPHCM

Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) không còn quy định: “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại trọng tài, toà án có thẩm quyền” như khoản 1 Điều 241 Luật Thương mại 1997 (LTM 1997). Thực tế lập pháp đó làm nảy sinh vấn đề: tòa án hay trọng tài phải quyết định như thế nào trong trường hợp tương tự, khi không còn quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại?

I. Thời hạn khiếu nại theo LTM 1997 và thực tiễn tài phán

1. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không quy định về thời hạn khiếu nại. Bởi vậy, vấn đề này không hề xuất hiện trong thực tiễn tài phán liên quan đến Pháp lệnh này. Thậm chí, Pháp lệnh này cũng không quy định thời hiệu khởi hiện như các văn bản pháp luật nội dung sau này. Tuy nhiên, các bên hợp đồng kinh tế cũng chỉ có quyền yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết tranh chấp trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày xảy ra vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc từ ngày một bên cho là đã có vi phạm xảy ra (1). Thời hạn sáu tháng này sau đó cũng được Pháp lệnh về thủ tục xét xử các vụ án kinh tế năm 1994 tiếp nhận dưới hình thức thời hiệu khởi kiện (2). Dường như cả hai pháp lệnh này đều đã thể hiện chức năng đặc thù của pháp luật thương mại là đòi hỏi các tranh chấp phát sinh phải sớm được các bên tìm cách giải quyết thông qua quy định về thời hạn yêu cầu giải quyết tranh chấp hay thời hiệu khởi kiện ngắn (3).

2. LTM 1997 không thay thế Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, bởi vì phạm vi điều chỉnh của Luật này hẹp hơn, chỉ là hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, được cụ thể hóa bằng 14 hành vi thương mại khác nhau (4), trong đó dịch vụ thương mại chỉ bao gồm các dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa (5). Như vậy, xét từ góc độ pháp luật hợp đồng thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 là luật chung (lex generalis), còn các quy định về hợp đồng trong LTM 1997 là luật riêng (lex specialis). Bản thân LTM 1997 không quy định rõ mối quan hệ giữa Luật này với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (6), nhưng các cơ quan tài phán đều tuân theo nguyên tắc: Đối với các hoạt động thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 1997 thì áp dụng quy định của Luật này, chỉ khi Luật này không điều chỉnh một vấn đề nào đó liên quan đến hợp đồng thì mới áp dụng quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Chẳng hạn, do LTM 1997 không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, nên việc xem xét hợp đồng đó có vô hiệu hay không được căn cứ quy định tại Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (7).

Continue reading