QUYỀN CON NGƯỜI VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

NGUYỄN HỒNG HẢI

Lời dẫn

Từ thời cổ đại, hôn nhân và gia đình (sau đây gọi chung là gia đình) luôn đóng một vai trò quan trọng trong hình thành, nuôi dưỡng và phát triển nhân cách con người, là nơi hội tụ các giá trị đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống và hiện đại. Bất kỳ một cá nhân nào với tư cách là chủ thể cơ bản của xã hội đều mang dấu ấn từ gia đình.

Gia đình hình thành, tồn tại và phát triển vì nó mang những chức năng tự nhiên và xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có. Các chức năng của gia đình hình thành gắn liền với sự phát triển của loài người và được chính con người xã hội hóa chúng. Về cơ bản, gia đình có ba chức năng: sinh đẻ (tái sản xuất con người), giáo dục và kinh tế, các chức năng này là cơ sở để hình thành các quyền tự nhiên của con người về gia đình và được xã hội hóa thành các quyền cơ bản của công dân:

– Chức năng sinh đẻ hay tái sản xuất con người là chức năng quyết định trong việc đảm bảo duy trì, phát triển các thế hệ tương lai – một trong những yếu tố quyết định sự tồn vong của một dân tộc, một quốc gia và của loài người. Từ chức năng này, quyền được sinh con, quyền được thừa nhận là cha, mẹ, con, quyền nuôi con nuôi, quyền được hưởng các chế độ phúc lợi về thai sản… đã được hình thành và được công nhận và bảo vệ;

– Chức năng giáo dục là chức năng rất quan trọng của gia đình trong hình thành, phát triển nhân cách của các thế hệ trong gia đình, đặc biệt thế hệ trẻ. Ngoài ra, nó còn giúp nuôi dưỡng, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong gia đình và xã hội. Nhân cách, khả năng ứng xử và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng lớn từ giáo dục gia đình. Từ chức năng giáo dục đã xác lập các quyền được chăm sóc, giáo dục, đại diện và bảo vệ của các thành viên trong gia đình….; Continue reading

ĐỂ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH VÀ BỀN VỮNG

TS. CHÂU ĐÌNH PHƯƠNG

Sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang là một trong những vấn đề đại sự trong chiến lược vốn của Việt Nam từ nay đến năm 2010 và 2020. Việc làm cho TTCK Việt Nam khắc phục được những bất cập hiện nay để làm đúng với chức năng vốn có của nó là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế” đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước.

TTCK là nơi mua và bán các loại công cụ đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, các quỹ tương hỗ, các quyền lựa chọn, và các trái phiếu địa phương… Do vậy, tính bền vững của TTCK không những chịu tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế-chính trị-xã hội của mỗi quốc gia, của nhiều quốc gia khác trên toàn cầu; mà còn được được quyết định bởi tính bền vững của các loại công cụ đầu tư này. Để có được những quyết định đúng đắn trong đầu tư vào TTCK việc nhận biết các công cụ đầu tư cũng như các nhân tố tác động đến tính bền vững của TTCK là rất cần thiết.

Các công cụ đầu tư trên TTCK thường gặp:

(1) Các cổ phiếu đầu tư

Cổ phiếu là một trong những loại chứng khoán vốn cổ phần quen thuộc đối với rất nhiều người. Khi các nhà đầu tư đã thực hiện việc mua cổ phiếu thì họ đã trở thành người chủ sở hữu “một phần” tài sản của một công ty. Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày một phát triển thuận lợi, giá cả mà các cổ đông sẵn sàng trả cho cổ phiếu của nó thường là tăng lên; lúc đó những cổ đông đã mua cổ phiếu này với giá thấp hơn sẽ có cơ hội kiếm được lợi nhuận. Tất nhiên, nếu công ty hoạt động không hiệu quả, giá cổ phiếu của nó sẽ đi xuống; các cổ đông sẽ bị lỗ. Vấn đề đặt ra là, các thông tin cần thiết cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp vừa thiếu lại vừa chưa đủ độ tin cậy.

(2) Trái phiếu công ty Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN: GẦN MỘT TỶ ĐỒNG BỒI THƯỜNG BỊ MẮC KẸT

TRUNG DUNG

Tranh chấp tiền bồi thường nhà, đất: Sở Tư pháp nói “có thể kiện”, TAND TP.HCM lại bảo “không”. Sinh thời, cha ông Trần Ngọc Xuân có đứng tên làm chủ sở hữu căn nhà 21-21/1 Vạn Kiếp, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Năm 1982, sau khi cha chết, ông Xuân tiếp tục sống tại căn nhà này.

Đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế

Năm 2004, căn nhà bị giải tỏa trắng do nằm trong dự án thoát nước và nâng cấp đường Hoàng Hoa Thám-Vạn Kiếp. Cho rằng ông Xuân là đại diện các đồng thừa kế (mẹ ông Xuân đã chết từ lâu, ông Xuân chỉ có một người em là bà Trần Thị Năm), UBND quận Bình Thạnh đã ra quyết định bồi thường cho ông Xuân hơn 850 triệu đồng.

Để được hưởng trọn số tiền này, ông Xuân đã xuất trình tờ di chúc của người cha chỉ định ông là người thừa kế duy nhất. Tuy nhiên, bà Năm lại cho rằng di chúc đó giả mạo và bà đòi hưởng tiền bồi thường. Tháng 7-2004, trong thời gian chờ hai bên thương lượng, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận đã chuyển số tiền trên vào ngân hàng.

Tháng 10-2006, ông Xuân đã nộp đơn khởi kiện tranh chấp thừa kế với bà Năm. Tuy nhiên, TAND quận Bình Thạnh đã từ chối thụ lý vụ án với lý do thời hiệu khởi kiện đã hết. Không biết tính sao, ông Xuân đã quay lại đề nghị UBND quận phân xử. Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KÍCH CẦU NHẰM CHỐNG SUY GIẢM VÀ ỔN ĐỊNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ

VÕ HỒNG PHÚC – ƯVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong năm 2008, với việc thực hiện có kết quả 8 nhóm giải pháp của Chính phủ, lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô cơ bản giữ được ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,23%. Đạt được kết quả trên là do có chủ trương đúng đắn của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự giám sát có hiệu quả của Quốc hội, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Từ tháng 10-2008 đến nay, tình hình kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta, làm cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm sút, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và đời sống nhân dân.

Trước tình hình khủng hoảng tài chính thế giới, Chính phủ xác định phải tập trung điều hành thực hiện mục tiêu tổng quát và các giải pháp của kế hoạch năm 2009 mà Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư đã thông qua, trong đó nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách là phải tập trung mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009.

Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách nói trên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-12-2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với 5 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; (2) Thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng; (3) Chính sách tài chính và tiền tệ; (4) Bảo đảm an sinh xã hội; (5) Tăng cường công tác điều hành, tổ chức thực hiện chính sách.

Để triển khai thực hiện nhanh, kịp thời, đồng bộ và có hiệu quả các nhóm giải pháp trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2009/QĐ-TTg ngày 19-01-2009 phân công cụ thể từng nội dung công việc cho các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện. Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU GIỮA CHA MẸ VÀ CON: BỐ MẸ KIỆN CON BẤT HIẾU RA TÒA

BÙI NGỌC

Khi ngôi nhà chưa chuyển cho con trai sở hữu, vợ chồng ông Th. cho người khác thuê một phần, mỗi tháng trên 2 triệu đồng. Nhưng khi tin tưởng và cho con, nguồn tiền cho thuê không còn, đặc biệt là khi con trai cắt nguồn “trợ cấp” thì vợ chồng ông khó khăn, túng thiếu. Bức xúc, vợ chồng ông Th. đã khởi đơn kiện đòi lại nhà và đất của mình.

Hiếm khi chúng tôi tham dự phiên tòa dân sự bởi nó đụng chạm đến những vấn đề về đời tư của các gia đình bị đơn cũng như nguyên đơn. Thế nhưng, phiên tòa dân sự mà TAND quận Thanh Khê đưa ra xét xử vào giữa tháng 5/2009 đã gây cho tôi nhiều tò mò. Bởi đây là một sự hy hữu, hiếm có xưa nay ở TP Đà Nẵng vì nó là câu chuyện: Bố mẹ đẻ kiện con trai…

Nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc Th. (77 tuổi) và bà Ngô Thị C. (77 tuổi); bị đơn là anh Nguyễn Ngọc L. (47 tuổi ) và chị Vũ Thị Đ. (45 tuổi) cùng trú phường Tân Chính, quận Thanh khê.

Được biết, vợ chồng ông Th. có 9 người con cả trai lẫn gái, trong đó, Nguyễn Ngọc L. là con thứ 7 được ông bà tin tưởng, thương yêu. Do đó, khi tuổi già sức yếu, vợ chồng ông Th. quyết định trao tài sản cho vợ chồng đứa con trai mà ông bà cảm thấy tin tưởng, yêu quý này.

Để thực hiện ước nguyện cuối cùng của cuộc đời mình, ngày 7/3/2002, ông Th. và bà C. đã đến Phòng công chứng số 1 TP Đà Nẵng làm hợp đồng chuyển dịch cho nhà và đất ở của mình tại đường Lê Duẩn (mảnh đất được UBND thành phố cấp ngày 15/6/2001) cho vợ chồng anh L. và chị Đ. với nội dung hợp đồng là “cho nhận”. Continue reading

THAY ĐỔI QUAN NIỆM VỀ TÀI NGUYÊN TRONG PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN HIỀN

Tài nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị trường tài nguyên trên thế giới hiện nay, vấn đề đánh giá tài nguyên, kiểm kê tiềm năng các dạng tài nguyên thiên nhiên phân bố theo yếu tố địa lý, khả năng và hiệu quả khai thác, thứ tự ưu tiên khai thác để vừa sử dụng có hiệu quả là một việc làm cần thiết đảm bảo yêu cầu bảo vệ và phát triển bền vững.

Theo quan niệm truyền thống tài nguyên vật chất hữu hình bao gồm tài nguyên tự nhiên, đất và sức lao động là các nhân tố cơ bản phát triển vùng, từ đó mà hình thành cơ cấu kinh tế vùng, bao gồm các ngành nghề thuộc khu vực một chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai khoáng… , sau đến là ngành nghề thuộc khu vực hai lấy gia công tài nguyên hoặc tái gia công là chủ yếu, tiếp đến là ngành nghề thuộc khu vực ba lấy dịch vụ là chủ yếu. Những quan niệm tiến bộ trên đây đã được định hình và coi như công nghệ trong các nội dung nghiên cứu và phổ biến trong phương pháp hoạch định kinh tế xã hội cũng như chiến lược phát triển vùng từ nhiều thế kỷ qua.

Ngày nay thông tin cùng với sự phát triển của ngành nghề công nghệ vi điện tử đang song hành phát triển thúc đẩy lẫn nhau đã được coi như một loại tài nguyên có giá trị cao, thậm chí có nơi có lúc còn được xếp loại là vô giá… đang trở thành những động lực mới thúc đẩy sư phát triển vùng, hơn nữa, đang có ảnh hưởng toàn diện đến nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong thực tiễn cuộc sống với nền kinh tế toàn cầu hoá từ công đoạn khai thác thu thập, xử lý, lưu giữ và truyền đưa các loại thông tin trong và ngoài nước đã trở thành những chủ thể mới trong quản lý vận hành kinh tế khu vực. Do đó, có thể khẳng định ai nắm được tài nguyên thông tin, người đó sẽ nắm được quyền chủ động phát triển. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng tác động đến mọi lựa chọn trong kế hoạch kinh tế-xã hội, chiến lược an ninh chính trị quốc gia, trong lập kế hoạch của các nhà kinh doanh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến những công việc và cuộc sống hàng ngày quanh ta. Tri thức là cơ sở và là nguồn gốc của tài nguyên thông tin. Nhân tài nắm vững khoa học công nghệ và tri thức văn hoá là người sáng tạo và phổ biến tri thức. Do vậy, trên một ý nghĩa nào đó cũng có thể khẳng định ai có nhân tài, người đó cũng có tài nguyên thông tin, cũng chính là nắm được quyền chủ động phát triển. Và như vậy cạnh tranh phát triển vùng hay khu vực trên thế giới hiện nay cũng chính là cạnh tranh nhân tài. Continue reading

VẤN ĐỀ VÀ TƯƠNG LAI CỦA LOGIC HỌC

GS. CÚC THỤC NHI –  Viện nghiên cứu Logic và Nhận thức, ĐH Triết Giang, Trung Quốc

I. Logic học là gì?

Dựa vào phương pháp của Socrates về giải thích ý nghĩa của từ và làm rõ các khái niệm, chúng ta cần trả lời các vấn đề đại loại như “logic là gì” bằng định nghĩa biểu đạt các điều kiện cần và đủ. Chúng tôi sẽ chỉ ra, đối với các thành viên của khái niệm logic học, không tồn tại một đặc tính chung làm cho định nghĩa trên trở thành có thể, trái lại, giữa chúng chỉ có các tính tương tự trùng lặp và đan xen nhau một phần. Nói giản đơn, khái niệm logic học giống như một gia đình.

Theo Heinrich Scholzl, logic học là một từ đa nghĩa và có thể biểu hiện thành nhiều loại hình khác nhau. Ông phân biệt 6 loại hình logic:

Loại thứ nhất, là logic cổ điển bắt nguồn từ logic hình thức của Aristotle.

Loại thứ hai là logic hình thức mở rộng, nó được hình thành bằng cách đưa các nguyên tắc phương pháp luận, ngữ nghĩa học và nhận thức luận vào hệ thống logic hình thức của Aristotle.

Loại thứ ba là logic phi hình thức mà Scholz nói. Ở đây, trên thực tế logic học được giới định như một lý luận công cụ cho việc đạt được tri thức khoa học theo ý nghĩa rộng nhất. Đại diện chủ yếu của nó là John Stuart Mill.

Loại thứ tư có thể gọi là logic quy nạp xác suất, hiện nay nó bao gồm các lý luận chín muồi như suy lý thống kê và logic quyết sách và đang phát triển theo phương hướng phi cổ điển.

Loại thứ năm có thể gọi là logic tư biện, đại biểu của nó là Hegel và Kant. Đối với Hegel, logic là khoa học về ý niệm tự nó và vì nói trong khi đối với Kant, logic chủ yếu bao gồm các quy tắc của nhận thức và lý tính.

Loại thứ sáu là logic hiện đại bắt nguồn từ logic hình thức của Gottlob Frege và Bernard Russell, gồm logic toán cổ điển và sự mở rộng của nó và các hệ thống logic phi cổ điển. Cuối cùng, quan điểm về sự tồn tại của nhiều loại hình logic cũng được các nhà sử học logic hiện nay ủng hộ. Continue reading