TĂNG CƯỜNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM

PGS.TS. PHẠM QUỐCTRUNG

Ngày nay, tri thức đã trở thành một “nguồn của cải mới”, động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội. Lợi thế cạnh tranh chủ yếu của mỗi nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào khả năng phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất. Xu thế này đã khẳng định tài sản trí tuệ và quyền sở hữu tài sản trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng, bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) được xem là một nguyên tắc cơ bản trong sự vận động của nền kinh tế thế giới. Thực tế này cũng đặt ra yêu cầu phải gia tăng mối quan tâm tới vấn đề SHTT cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn cho mỗi quốc gia nếu muốn tồn tại và hội nhập thành công. 

Vai trò và ý nghĩa của SHTT đối với phát triển kinh tế – xã hội

Có thể khái quát vai trò của SHTT đối với phát triển kinh tế – xã hội trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, SHTT là nhân tố đem lại sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục cho chủ thể sở hữu và xã hội

Nhìn vào lịch sử phát triển của các quốc gia, nhất là các nước công nghiệp phát triển, SHTT được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của đất nước. Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời và được bảo hộ, chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ đó không những có được tỷ lệ tiền bản quyền cao hơn và có giá trị thị trường cao hơn nhiều lần so với các tài sản vô hình khác, mà chính người mua quyền SHTT đó và người xin cấp giấy phép sử dụng cũng vui lòng trả nhiều tiền hơn do có sự bảo hộ. Việc bảo hộ này nhằm giảm rủi ro trong các giao dịch thương mại về quyền SHTT, nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc cung cấp các hiệp định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng của các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ đó bằng việc thương mại hoá chúng, chính việc thương mại hoá các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủ thể sở hữu cũng như những người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích kinh tế. Ví như với việc mỗi năm có đến hàng trăm các phát minh, sáng chế mới ra đời, NOKIA không chỉ thu được lợi nhuận khổng lồ từ những sản phẩm trí tuệ mới này được cung cấp bởi chính hãng mà còn thu được nhiều tỷ USD từ việc bán bản quyền. Theo tài liệu của Tổ chức SHTT thế giới thì tổng thu nhập từ bản quyền về sáng chế trên toàn thế giới tăng từ 10 tỷ USD năm 1990 lên 110 tỷ USD năm 2000; riêng hãng máy tính IBM (Mỹ) năm 2000 đã thu được 1,7 tỷ USD.

Thứ hai, SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc gia trong hội nhập

Hiện nay, với mỗi quốc gia, doanh nghiệp, năng lực SHTT là một trong những năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Quốc gia, doanh nghiệp nào có được càng nhiều quyền SHTT thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao.

Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của SHTT. Cách tốt nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về SHTT nhằm xây dựng hệ thống SHTT có hiệu quả. Điều đó làm cho hoạt động SHTT xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tới chuẩn mực chung của thế giới.

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM QUA CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH

Kết quả hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã mang lại cho VN nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. Chính sách đổi mới cũng đã đưa nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu của VN ngày càng mở rộng, xu hướng các nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào VN ngày càng tăng qua các kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp…

Tất cả những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho kinh tế VN phát triển. Đây cũng là cơ hội tốt để VN thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đất nước là đến năm 2020 về cơ bản, trở thành một nước công nghiệp. Tuy nhiên, quá trình hội nhập, nền kinh tế VN cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức đó là nhiều chỉ số phát triển còn thấp so với yêu cầu, tình hình khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới cũng có tác động tiêu cực đến nền kinh tế VN. Trong giới hạn của bài viết này, tác giả muốn trình bày bốn vấn đề chính đó là: Thứ nhất, tổng quan về nền kinh tế VN qua các chỉ số phát triển. Thứ hai, đánh giá các tác động tích cực của quá trình hội nhập đến phát triển kinh tế VN. Thứ Ba, những hạn chế của nền kinh tế VN và các tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới đến các mục tiêu phát triển. Cuối cùng, kết luận và kiên nghị. Phương pháp phân tích gồm cả định tính mô tả thống kê và định lượng qua các công thức tính toán, mô hình kinh tế lượng. Số liệu sử dụng trong phân tích chủ yếu lấy từ số liệu thứ cấp-số liệu thống kê qua các nguồn như Niên giám thống kê VN, số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), và Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO).

1. Tổng quan về nền kinh tế VN qua các chỉ số phát triển

Gần 20 năm phát triển (1990-2008) tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN liên tục giữ ở mức cao, tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 1990-2008 là 7,56%/năm. Tốc độ tăng kinh tế cao, trong khi tốc độ tăng dân số được kìm hãm, đã dẫn đến mức thu nhập GDP bình quân trên đầu người mỗi năm một tăng. Nếu năm 1990, GDP trên đầu người của VN chỉ khoảng trên 100 USD, thì đến năm 2007, GDP/người đã đạt 835 USD, tăng trên 8 lần. Năm 2008, GDP trên đầu người ước tính đạt khoảng 1.047 USD/người (xem Bảng 1). Với mức thu nhập này, VN lần đầu tiên thoát ra khỏi nhóm nước nghèo (nhóm nước có thu nhập thấp nhất). Theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới, phân nhóm các nước theo mức thu nhập gồm:

Continue reading

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM: LÀM MỚI ĐỂ VƯƠN LÊN

HOÀNG LIÊM – THU TUYẾT

Sau hơn 2 năm gia nhập WTO, thị trường bảo hiểm (BH) Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, các sản phẩm BH ngày càng đa dạng và được nâng chất rõ rệt. Dĩ nhiên, sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực này luôn hoàn thiện để tồn tại và phát triển.

“Chiếc bánh” thị phần còn lớn

Tính đến cuối năm 2008, nước ta có 26 DNBH phi nhân thọ, 11 DNBH nhân thọ, 1 DN tái BH và 10 DN môi giới BH hoạt động với tổng vốn chủ sở hữu gần 18.000 tỷ đồng.

Đồng thời, trên thị trường hiện có hơn 100 loại sản phẩm BH phi nhân thọ, khoảng 60 sản phẩm BHNT đang được chào bán.

Nếu như năm 2003, doanh thu phí BH toàn thị trường đạt mức 10.390 tỷ đồng thì đến năm 2008, đạt 19.600 tỷ đồng. Năm 2003, doanh thu từ hoạt động tái đầu tư của các DNBH đạt 1.046 tỷ đồng thì đến năm 2008 đạt 6.014 tỷ đồng.

Hoạt động tái BH cũng có những chuyển biến rõ nét theo hướng tích cực với cơ cấu phí nhận tái BH từ thị trường nước ngoài đang có xu hướng tăng lên và cơ cấu phí nhượng tái BH ra nước ngoài đang có xu hướng giảm đi.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong năm 2008, các DNBH đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế gần 59.000 tỷ đồng, tăng hơn 10.000 tỷ đồng so với năm 2007. Đồng thời giải quyết bồi thường BH 6.400 tỷ đồng, đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ chức, cá nhân không may gặp rủi ro, hoạn nạn.

Continue reading

CHÍNH SÁCH CÔNG

PGS.TS LÊ CHI MAI

Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng răi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xă hội. Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương tŕnh hành động do các nhà lănh đạo hay nhà quản lư đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của ḿnh.

Theo James Anderson: "Chính sách là một quá tŕnh hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm".

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, v́ vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tế khái niệm "chính sách tư" hầu như không được sử dụng.

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lư của Nhà nước.

Continue reading

DỊCH VỤ CÔNG

PGS.TS. LÊ CHI MAI

Theo từ điển Le Petit Larousse: "Dịch vụ công là hoạt động v́ lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm". Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về dịch vụ công, song ở đây không có sự phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công, do đó không làm rơ được tính chất "công" của dịch vụ này.

Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller: "Một dịch vụ công thường được định nghĩa như một hoạt động do ngành tài chính đảm nhiệm để thỏa măn một nhu cầu về lợi ích chung". Các tác giả này phân tích rằng, ban đầu chỉ có ngành hành chính đảm trách các dịch vụ công. Nhưng các nhiệm vụ về lợi ích chung ngày càng nhiều gấp nội đă dẫn tới việc một số tư nhân cũng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ này. Yếu tố về tổ chức (người trực tiếp cung ứng dịch vụ công) không c̣n là yếu tố quyết định để biết xem một dịch vụ có phải là dịch vụ công hay không. Từ thực tế đó, vấn đế đặt ra không phải ai là người trực tiếp cung ứng một dịch vụ phục vụ lợi ích chung, mà là ở chỗ ai chịu trách nhiệm cuối cùng về việc cung ứng dịch vụ này cho xă hội. Từ đó, các tác giả cho rằng, "một hoạt động lợi ích chung được một pháp nhân công quyền đảm nhiệm được coi là một dịch vụ công" – "đảm nhiệm" ở đây được hiểu như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công. Như vậy, một hoạt động v́ lợi ích chung do một tư nhân đảm trách không được xem là một dịch vụ công, trừ phi có sự tác động của Nhà nước đến việc cung ứng dịch vụ đó.

Trong trường hợp này, ngành hành chính luôn giữ quyền cũng như nghĩa vụ kiểm tra và theo dơi. Trên thực tế, không có các tiêu chí pháp lư cố định để xác định trong số các hoạt động v́ lợi ích chung, hoạt động nào có tính chất dịch vụ công. Theo các tác giả, có thể đưa ra các tiêu chí như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở: MUA NHÀ 3 NĂM VẪN CHƯA ĐƯỢC Ở

VĂN ĐOÀN

Phía chủ bán lúc nói hợp đồng giả mạo, lúc nói làm sai thủ tục khiến vụ tranh chấp bị đẩy đến nhiều cơ quan khác nhau. Đầu năm 2006, ông Trương Quang Lượng (ngụ xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, Đồng Nai) có mua của ông K. một căn nhà với diện tích đất gần 400 m2. Đây là căn nhà mà ông K. đã mua lại của người chủ trước đó. Sau khi hoàn tất các thủ tục mua bán, ông Lượng đã được UBND huyện Tân Phú cấp giấy đỏ.

Rắc rối phát sinh

Đáng nói là nhà, đất trên đã được người chủ đầu cho thuê và nay thì người thuê không chịu giao lại cho ông Lượng. Theo người thuê, người chủ đầu mượn của ông hơn 60 triệu đồng và có viết giấy cam kết nếu không trả được nợ sẽ bán nhà, đất đó cho ông. Nhưng rồi chủ đầu đã không giữ đúng cam kết mà lại bán cho ông K. và ông K. bán cho ông Lượng… Do UBND xã Phú Sơn hòa giải không thành nên vụ tranh chấp được chuyển đến TAND huyện.

Cuối tháng 5-2006, TAND huyện Tân Phú đã thụ lý vụ án. Tòa này xác định ông K. là nguyên đơn, người chủ đầu là bị đơn, người thuê nhà và ông Lượng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Thật bất ngờ là khi được triệu tập đến tòa, người đã bán nhà, đất cho ông K. phủ nhận việc từng mua bán nhà, đất với ông K. và cho rằng hợp đồng trên là giả mạo, đồng thời đề nghị TAND huyện giám định chữ ký trên hợp đồng. Song theo kết quả giám định, chữ ký trên bản hợp đồng đúng là của người chủ trước chứ không phải giả mạo như ông đã nói.

Nhưng rồi ông Lượng chờ quá lâu mà vẫn không thấy tòa xử. Tháng 11-2007, ông Lượng liên hệ với tòa thì được biết do người thuê nhà khiếu nại việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông K. và chủ trước không đúng quy định nên UBND huyện đã yêu cầu tòa tạm ngưng giải quyết để thanh tra.

Continue reading

SỐNG CHUNG VỚI HÀNG TRUNG QUỐC?

KIM HẠNH

Trung Quốc là nhà máy của toàn thế giới và hàng Trung Quốc có mặt khắp các châu lục. Chúng ta chắc chắn sẽ còn sống chung với hàng Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế với họ, qua lại với họ về sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là điều không thể tránh khỏi. Song đó là một chiến lược lớn cần đề cập căn cơ, quan niệm tỉnh táo và có tầm nhìn, định hướng lâu dài, hai bên cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng nhau chứ không được áp đặt, lấn lướt giành phần khôn, phần lợi về mình.

Một chiến lược giao thương và hợp tác kinh tế với Trung Quốc trong tình hình mới hiện nay cần được bàn luận trong toàn dân để Nhà nước trên cơ sở đó mà có quyết sách hợp lòng dân. Khi có quyết sách hợp lòng dân thì Nhà nước ta mới đủ sức mạnh đàm phán và làm ăn với anh bạn lớn, đủ sức đương đầu vượt qua những lá lay, lấn lướt thường thấy lâu nay.

Riêng về vấn đề “nhà nhà đánh hàng, bán hàng Trung Quốc” hiện đang xảy ra thì theo tôi có hai biện pháp cần quan tâm sớm:

1. Doanh nghiệp Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam cần có đầy đủ thông tin về đối sách Trung Quốc đang sử dụng cho thị trường Việt Nam, về chiến lược lâu dài cũng như các sách lược, các chiêu thức, kỹ xảo của Trung Quốc đang áp dụng cho Việt Nam.

Họ có đội ngũ nghiên cứu giỏi, được trang cấp mọi phương tiện và có nhiều kênh thông tin cấp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp. Một công ty dệt may vừa đi mua nguyên phụ liệu ở Trung Quốc kể rằng đã bị nhiều nhà bán lẻ Trung Quốc chặn hỏi, phải chăng Nhà nước Việt Nam đang có chiến dịch đưa hàng dệt may Việt Nam về tranh chỗ của hàng dệt may Trung Quốc ở nông thôn Việt?

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỚI TIỀN TRÚNG THƯỞNG: VẪN CÒN NHIỀU TRANH CÃI

LINH LÂM

Luật Thuế thu nhập cá nhân đã quy định rõ: Thu nhập tính thuế đối với trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino đối với phần vượt trên 10 triệu đồng áp dụng theo biểu thuế suất toàn phần là 10%. Tuy nhiên trên thực tế với những đặc điểm riêng có của trò chơi mà việc quản lý thuế TNCN đối với người trúng thưởng casino và máy chơi bạc tự động đang gặp nhiều vướng mắc.

Theo thông lệ quốc tế thì người thắng bạc không phải chịu thuế TNCN. Chính vì vậy, khi các casino của TP HCM thực hiện khấu trừ thuế TNCN thì người chơi đã tranh cãi, phản ứng gay gắt và rất nhiều khách chơi đã bỏ đi nhiều làm doanh thu tại các CLB giảm sút rõ rệt. Thực tế này đặt ra nhiều vấn đề phải cân nhắc khi triển khai thuế TNCN.

Thứ nhất, Luật Thuế TNCN sử dụng khái niệm “thu nhập trúng thưởng” chung cho tất cả các loại hình: xổ số, khuyến mãi, cuộc thi có thưởng, cá cược và casino. Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm “trúng thưởng” không phải lúc nào cũng đúng với bản chất của từng loại hình. Đối với người chơi xổ số với nguyên tắc 1 ngày quay số 1 lần thì có thể phân định được ranh giới được – thua rõ ràng của từng lần mua xổ số. Hơn nữa, giá trị phải bỏ ra để mua xổ số thường rất nhỏ để mong đợi giải thưởng rất lớn, nên khái niệm “trúng thưởng” mới đúng ý nghĩa. Còn đối với việc chơi bạc, người chơi thường phải bỏ ra số tiền rất lớn và hết cuộc chơi thường là thua, mặc dù có thể có vài lần thắng. Nhưng vài lần thắng trong một cuộc chơi thì không thể gọi là “trúng thưởng”. Bởi vậy, nếu áp dụng thu thuế ngay đối với từng lần chơi, tức là phải yêu cầu khách dừng lại để thu thuế thì khách chơi sẽ phản ứng vì chắc gì lần chơi sau họ thắng.

Continue reading