GÓP Ý SỬA ĐỔI LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

GS.TSKH LUẬT. NGUYỄN VÂN NAM

Kính gửi: ông Nguyễn Văn Thuận – Chủ tịch Ủy ban Pháp luật của Quốc hội

Thưa ông chủ tịch,

Luật Sở hữu trí tuệ là một bộ luật có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh, trong phát triển kinh tế thời hội nhập. Tuy nhiên, Luật SHTT của chúng ta vẫn còn nhiều hạt sạn. Là người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực quyền SHTT, cho phép tôi tham gia vào việc góp ý sửa đổi Luật SHTT bằng cách chỉ ra những hạt sạn to nhất và cũng mới chỉ là trong những điểm then chốt nhất của lĩnh vực quyền tác giả mà thôi.

I. Phát sinh quyền tác giả:

Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của cơ quan công quyền, không cần một thủ tục đăng ký nào (trừ ngoại lệ tại Hoa kỳ). Do nó phát sinh dễ dàng và không được thẩm định trước nên khi có tranh chấp hay vi phạm quyền tác giả, thì công việc đầu tiên của tòa án luôn luôn là xác định có hay không có quyền tác giả đối với sản phẩm là đối tượng tranh chấp, nghĩa là phải xác định sản phẩm đó có phải là một tác phẩm thỏa mãn các điều kiện của luật quyền tác giả để tác giả được hưởng quyền tác giả hay không. Các điều kiện này gồm hai nhóm:

a) Nhóm các điều kiện liên quan đến tác phẩm:

– Sản phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học.

– Kết quả hoạt động tinh thần có tính sáng tạo.

b) Nhóm các điều kiện liên quan đến tác giả: Continue reading

TÒA BẢO HIẾN Ở VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Có thể so sánh-một cách giản dị nhất- Hiến pháp (HP) với qui định (luật chơi) không thể thiếu của bất cứ cuộc chơi nào ( bóng đá, cờ tướng, …). Thừa nhận và tuân thủ qui định là điều kiện để được tham gia cuộc chơi. Trong khuôn khổ chuẩn mực này, ai cũng có quyền phát triển chiến thuật , chiến lược nhằm đạt mục tiêu riêng. Danh sách người cùng chơi trong „cuộc chơi“ „mưu cầu hạnh phúc cá nhân trong xã hội tự do, công bằng “, mà chuẩn mực cuộc chơi hợp thành HP, rất dài: cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, hiệp hội, công đoàn, đảng phái, chính phủ, ….

Tuy nhiên, Nhà nước (NN) không có trong danh sách này, vì NN không phải người cùng chơi mà chính là cuộc chơi. NN không phải người bảo vệ hệ thống các chuẩn mực căn bản của HP mà nó chính là cái được HP điều chỉnh, giống như qui định của cuộc chơi xác định cuộc chơi vậy.

Trong NN của dân, do dân và vì dân, HP chính là hệ thống các chuẩn mực cơ bản cho một trật tự xã hội xác định mà toàn dân mong muốn và chuẩn y. Đó là các chuẩn mực cho quan hệ giữa con người với nhau; giữa họ với cơ quan công quyền; giữa cá nhân với các chủ thể khác và chuẩn mực cho phép khi nào có thể buộc họ phải làm gì.

Trong „cuộc chơi“ Nhà nước pháp quyền (NNPQ), các điều luật bảo đảm cho chúng ta tính hợp pháp của mọi hành vi quản lý NN và HP bảo đảm cho chúng ta tính hợp hiến của các điều luật. Nghĩa là bảo đảm „cuộc chơi Nhà nước“ đúng là cuộc chơi mà toàn dân đã lựa chọn.

Xét cho cùng, bất cứ điều luật nào cũng xuất phát từ triết lý sống, triết lý về luật pháp. Nhưng điều này trong HP thể hiện trực tiếp nhất, rõ ràng nhất. Và bởi toàn bộ triết lý luật pháp trong từng điều luật đều xuất phát từ triết lý sống chung được toàn dân chấp nhận, nên HP chính là nơi tập trung đầy đủ nhất, trừu tượng đến mức có thể nhất, những chuẩn mực trên cơ sở triết lý chung đó. Vì thế, quá trình lý giải, vận dụng các chuẩn mực cơ bản để xây dựng và áp dụng các điều luật, bộ luật cụ thể hơn, trong thực tế không tránh khỏi những tranh chấp, mẫu thuẫn giữa các cơ quan hiến định, giữa các cơ quan công quyền, giữa họ với công dân và giữa các điều luật. Việc có một cơ quan tự chủ, độc lập, có thẩm quyền cao nhất quyết định cái gì phù hợp, cái gì vi phạm HP là một điều tất yếu. Đó là Tòa án Hiến pháp. (Tòa Hiến pháp, THP). Continue reading

LUẬT TỤC NÚI RỪNG

ĐINH THỊ NGA – QUẾ HÀ

Bên cạnh những tục lệ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày nay đã trở thành những nét văn hóa đặc sắc mang yếu tố truyền thống đa dạng, thì nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn dai dẳng đeo bám, không chỉ cản trở nếp sống văn minh mà còn là những nguyên nhân trực tiếp đẩy không biết bao nhiêu thân phận nam nữ thanh niên vào bi kịch.

1. Bắt chồng

Có mặt ở nhiều bản làng, PV Thanh Niên chứng kiến nhiều hủ tục đáng sợ: Từ thách cưới đến việc kết hôn cùng huyết thống; từ chuyện tảo hôn đến thân phận chàng rể trong chế độ mẫu hệ…

Bắt chồng là một nét văn hóa đặc thù không chỉ của người Chu Ru ở Đơn Dương (Lâm Đồng) mà hiện còn tồn tại ở rất nhiều tộc người khác ở vùng dọc Trường Sơn – Tây Nguyên nhưng “giá” của các chàng trai ở đây cao ngất ngưởng đã đẩy không biết bao nhiêu gia đình bên vợ vào bước đường cùng.

Huyện Đơn Dương chỉ cách Đà Lạt khoảng 40 km, nhưng khi tìm hiểu về tục “bắt chồng” ở đây, chúng tôi cảm tưởng như mình đang lạc vào một thế giới khác…

Lễ vật lấy chồng

Xã Ka Đơn có 538 hộ người Cơ Ho, 215 hộ người Chu Ru vẫn đang lưu giữ tục “bắt chồng”. Theo đó, người con gái đến tuổi lấy chồng sẽ được cha, mẹ hoặc người mai mối “tia” cho một tấm chồng. Tất cả việc đám hỏi, đám cưới do nhà gái lo liệu. Sau khi cưới, chàng rể về sống bên nhà vợ. Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO (2007 – 2008)

PGS. TS. NGUYỄN SINH CÚC – Tổng cục Thống kê

Sau 2 năm vào WTO, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc đáng ghi nhận. Tốc độ tăng trưởng khá cao, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kỷ lục, xuất khẩu tăng trưởng cao, tình hình tài chính lành mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.

1. Những thành tựu đáng ghi nhận

Tổng sản phẩm trong n ước (GDP), năm 2007 tăng 8,46%; năm 2008 tăng 6,18%. Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dịch theo hư ớng tích cực, năm 2007, tỷ trọng GDP khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm còn 20,0% so với 20,81% năm 2006; 20,97% năm 2005; 21,81% năm 2004 và 22,54% năm 2003. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm 41,7% so với 41,56%; 41,02% ; 40,21% và 39,47% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08%; 38,01%; 37,98% và 37,99% các năm t ương ứng. Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao trong điều kiện có nhiều khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, th ương mại, tài chính ngân hàng. Năm 2008 lại có xu h ướng chuyển dịch ngư ợc lại do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu là khó tránh khỏi.

Do kinh tế tăng trư ởng cao nên tình hình tài chính 2 năm qua khá lành mạnh. Thu chi ngân sách nhà n ước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép.

Đạt được kết quả trên đây là do sau khi vào WTO các ngành sản xuất và dịch vụ có chuyển biến tích cực theo hướng hội nhập với kinh tế thế giới.

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện, tăng trưởng khá và chuyển dịch theo hướng hàng hoá. Tranh thủ thời cơ thuận lợi do WTO tạo ra, 2 năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã từng bước chuyển thành nền nông nghiệp đa canh, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu. Số lượng sản phẩm tăng nhanh, chủng loại sản phẩm đa dạng, chất lượng ngày càng cao, cơ cấu sản phẩm có nhiều thay đổi, điều kiện và tính chất của các yếu tố sản xuất cũng có nhiều điểm mới so với trước.

Sau khi vào WTO, nông nghiệp Việt Nam bước đầu mang dáng dấp của một nền sản xuất hàng hoá có những nét hiện đại đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước với nhu cầu cao hơn về chất lượng. Tốc độ tăng trưởng của khu vực này theo GDP năm 2007 tăng 3,76%, năm 2008 tăng 4,07%, theo giá trị sản xuất, tăng 4% và 6% theo 2 năm tương ứng, cao hơn tốc độ tăng các năm trước. Sản phẩm nông nghiệp sản xuất bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia trong mọi tình huống dù cho cuộc khủng hoảng lương thực thế giới cuối năm 2007 đầu năm 2008 diễn ra gay gắt. Continue reading

PHÂN CÔNG, PHỐI HỢP VÀ KIỂM SOÁT TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM

TS. LƯƠNG MINH TUẤN – Viện Nghiên cứu Lập pháp

Nhà nước ta được Hiến pháp (1) khẳng định là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp còn khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (2). Bài viết trình bày về việc phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện quyền lập pháp ở Việt Nam hiện nay.

I. Phân công thực hiện quyền lập pháp

Ở nước ta, Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Hiến pháp có chứa các quy định về phân công thực hiện quyền lập pháp. Cụ thể như sau:

Điều 83 của Hiến pháp quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”. Câu hỏi được đặt ra ở đây là cụm từ “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền… lập pháp” được hiểu như thế nào cho đúng?

Về vấn đề này còn có ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp” được hiểu đơn thuần Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền làm luật và sửa đổi luật. Theo quan điểm này thì phải chăng ở Việt Nam nhiều cơ quan nhà nước (3) đương nhiên có quyền đưa ra các quy phạm pháp luật để mọi người thực hiện mà không cần Quốc hội uỷ quyền? Nếu như ở nước ta, nhiều cơ quan nhà nước đương nhiên có quyền đưa ra các quy phạm pháp luật mà không cần Quốc hội uỷ quyền, thì sự thống nhất của quyền lực nhà nước trong việc đặt ra các quy phạm pháp luật cũng như sự thống nhất của hệ thống pháp luật khó có thể được bảo đảm. Hơn nữa, điều này không phù hợp với quan điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do không có sự thống nhất quyền lực nhà nước vào một đầu mối và cũng không phù hợp với nguyên tắc dân chủ đại diện mà ở đây Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Continue reading

VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH TẾ: CẦN MỘT KHUNG PHÁP LÝ

TS. VŨ THỊ NHÀI

Vận động chính sách đối với doanh nghiệp không phải là một vấn đề mới mẻ trên thế giới, nếu không muốn nói là rất phổ biến. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này vẫn chưa tìm được một vị trí xứng đáng cũng như chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của xã hội. Để có thể đưa vấn đề này vào cuộc sống, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn trong nền kinh tế, đặc biệt là trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề trước hết cần bàn tới là việc phải tạo một khung pháp lý cơ bản.

Tiền đề pháp lý

Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ vào tính chất và nội dung của dự án, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến và tiếp thụ ý kiến đóng góp để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Điều 53, Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”.

Chỉ thị 27/2003/TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng nêu rõ: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh “trong quá trình soạn thảo VBQPPL có liên quan đến môi trường kinh doanh, đến quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp, phải lấy ý kiến tham gia của cộng đồng doanh nghiệp”. Continue reading

PHẢN BIỆN XÃ HỘI

NGUYỄN TRẦN BẠT – Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group

Quan sát cuộc sống chúng ta có thể thấy phản biện là một hoạt động diễn ra hàng ngày. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình. Trong khoa học, phản biện cũng là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học. Còn trong đời sống xã hội phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ. Phản biện xã hội là một vấn đề hoàn toàn không mới, loài người đã làm quen với khái niệm này từ rất sớm và biến nó trở thành công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ, tạo sự phát triển về chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến. Trong thời đại ngày nay, phản biện xã hội vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng, là đối tượng cần nghiên cứu, nhất là đối với các quốc gia đi sau, các quốc gia đang phấn đấu cho nền dân chủ.

I. Phản biện xã hội là một hoạt động khoa học

Phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó. Nếu không có phản biện có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không thèm đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó. Phản biện xã hội là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc trưng chuyên nghiệp nhất của cái gọi là đời sống dân chủ. Phản biện trong một xã hội dân chủ là môt loại “phản hành động” (“phản hành động” chứ không phải là “phản động”). Nó xuất hiện song song cùng với các hành động, nó xuất hiện đối lập với tất cả các hành động. Continue reading