VẬN ĐỘNG HÀNH LANG Ở MỸ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

TRẦN ĐÌNH TUẤN

Thời gian gần đây, vấn đề vận động hành lang (lobby) đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam. Đã có những cuộc hội thảo lớn được tổ chức về vấn đề này. Điều đó cho thấy rằng vận động hành lang là một vấn đề quan trọng đang ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chúng ta.

Trên thực tế, từ “lobby” bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1840 tại Quốc hội Anh, khi công dân Anh có quyền đến hành lang Quốc hội gặp các nghị sĩ để bày tỏ nguyện vọng của mình. Dần phát triển và lan rộng, giờ đây ở Mỹ, Châu Âu, Canada – được xem là những nơi mà các hoạt động lobby chuyên nghiệp và sôi động nhất.

Tại các nước phát triển, lobby được pháp luật thừa nhận và hoạt động công khai. Hoạt động lobby không phải ở trong phòng họp mà ở ngoài hành lang với nhiều hình thức phong phú. Khi Liên minh Châu Âu (EU) chọn Bruxells (Bỉ) làm trụ sở thì dòng chảy các chuyên gia lobby cũng ồ ạt về đây bởi các công ty biết rằng những gì diễn ra ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tương lai và chiến lược hoạt động của họ. Các chuyên gia lobby thường hoạt động dưới những hình thức như: văn phòng đại diện báo chí, đại diện thương mại, văn phòng luật…

Vận động hành lang ở Mỹ

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Ngày nay, từ lobby tại Mỹ chỉ việc người dân tìm cách ảnh hưởng đến quyết định của các nhân viên chính phủ, tới các nghị sĩ đến các nhân viên trong guồng máy hành chính bằng nhiều cách hình thức khác nhau như gặp mặt, gửi thư, gửi các văn bản góp ý, biểu tình. Lobby có nền tảng vững chắc trong Hiến pháp Mỹ – đó là quyền được đề nghị với chính phủ trong Hiến pháp. Tại Mỹ, hiện có rất nhiều công ty tư vấn về lobby. Thông thường họ là các cựu nghị sĩ. Các tổ hợp luật chuyên về nhà nước cũng thường làm lobby. Các công ty lớn thường có một văn phòng ngoại giao hay văn phòng liên chính phủ chuyên về lobby. Các văn phòng này thường đặt ở thủ đô Washington D.C. Các tổ chức phi chính phủ lớn cũng thường có một văn phòng hay chí ít là một nhân viên chuyên về liên hệ chính phủ.

Trong lobby ở Mỹ cũng có xảy ra tham nhũng. Vì vậy Quốc hội Mỹ tìm cách giảm tham nhũng bằng cách yêu cầu các chuyên gia lobby (tiếng Anh là lobbyist) đăng ký với Quốc hội trong một danh sách công khai. Luật pháp Mỹ cấm nhân viên nhà nước nhận quà trên 25 USD. Các công ty nước ngoài cũng có thể lobby tại Mỹ, thông thường là qua một công ty chuyên về lobby. Đài Loan được coi là bỏ chi phí lớn nhất cho việc lobby tại Mỹ vì họ cần Mỹ hỗ trợ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Các công ty Trung Đông cũng khá tốn kém về lobby khi muốn đầu tư tại Mỹ.

Continue reading

ĐỂ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÚC ĐẨY KINH TẾ

HÀ PHƯƠNG

Triển khai Chương trình hành động của Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010, năm 2007 Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ hoàn thiện khung pháp lý cho sắp xếp, đổi mới tổ chức quản lý DNNN nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN đến phê duyệt Đề án và tổ chức thực hiện sắp xếp, trọng tâm là cổ phần hoá DNNN.

Kết quả khiêm tốn

Năm 2007 đã sắp xếp được 271 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá (CPH) 150 doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp, nâng tổng số đơn vị được sắp xếp là 5.366 doanh nghiệp, trong đó CPH là 3.756 doanh nghiệp. Những doanh nghiệp thuộc diện duy trì 100% vốn nhà nước tiếp tục được chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với với kế hoạch của Chính phủ đề ra cho giai đoạn 2007-2010 là cần phải sắp xếp 1.553 doanh nghiệp, trong đó CPH 950 doanh nghiệp thì mới thấy được kết quả đạt được là khá khiêm tốn.

Hình thức sắp xếp chủ yếu vẫn là cổ phần hoá và được thực hiện ở các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Năm 2007 có 17 doanh nghiệp CPH có vốn nhà nước trên 100 tỷ đồng, trong đó có những doanh nghiệp có vốn nhà nước trên 1.000 tỷ đồng như: Công ty Phân đạm và hoá chất Dầu khí, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Công ty Tài chính Dầu khí… Tổng vốn nhà nước ở doanh nghiệp CPH năm 2007 là 29.766 tỷ đồng (bằng 42% tổng vốn nhà nước của các doanh nghiệp đã CPH).

Một số công ty lâm vào tình trạng phá sản, không còn vốn nhà nước đã được Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp cơ cấu tài chính và chuyển đổi sở hữu xong trong năm 2007 như: Mía đường Sơn La, Xây lắp I Nam Định, Kinh doanh chế biến hàng xuất khẩu Đà Nẵng, Sadico. Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp đang thực hiện cơ cấu tài chính của 13 doanh nghiệp để chuyển đổi sở hữu trong 6 tháng đầu năm 2008. Đây là giải pháp tích cực, đã làm sống lại những doanh nghiệp trên bờ vực phá sản nhưng có tiềm năng phát triển, tiếp tục đảm bảo việc làm cho người lao động.

Việc bán đấu giá cổ phần và niêm yết, đặc biệt là các tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp có quy mô lớn, đã cung cấp cho thị trường chứng khoán hàng hoá có chất lượng, tác động mạnh đến phát triển thị trường vốn, đồng thời tăng cường sự kiểm soát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2007, Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chức đấu giá lần đầu cho 96 DNNN CPH với tổng vốn điều lệ 53.433 tỷ đồng, tổng số cổ phần chào bán trên 745 triệu cổ phần, số cổ phần bán được là trên 687 triệu, đạt 92%. Tổng giá trị thu được cho Nhà nước và doanh nghiệp qua đấu giá là trên 38.893 tỷ đồng, trong đó Nhà nước đã thu được là 32.023 tỷ đồng, bằng 4,66 lần so với số vốn Nhà nước bán ra.

Continue reading

TIẾP TỤC ĐẨY NHANH, MẠNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

PGS.TS. NGUYỄN THỊ DOAN*

Sau chiến tranh thế giới thứ II, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở hầu hết các nước trên thế giới phát triển rất nhanh chóng và chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Nhưng đến những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, khu vực DNNN ở hầu hết các quốc gia đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém, nhất là về hiệu quả kinh tế. Khu vực DNNN nắm đại bộ phận tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và công nghệ của toàn xã hội, song sức sinh lợi của đồng vốn bỏ ra luôn thấp hơn so với khu vực kinh tế khác. Trong khi đó, nhà nước lại phải chi những khoản lớn cho khu vực DNNN.

Vì vậy, chính phủ nhiều nước đã tiến hành cải cách và cơ cấu lại khu vực DNNN làm cho nó năng động và hoạt động hiệu quả hơn. Nhưng mỗi quốc gia có bước đi và mức độ thực hiện khác nhau. Chẳng hạn, như chính phủ các nước Anh và Pháp đã tiến hành tư nhân hóa đồng loạt khu vực DNNN thông qua hình thức bán DNNN cho tư nhân và cho phá sản. Cùng với quá trình tư nhân hóa thì chính phủ Tây Ban Nha lại áp dụng cả các biện pháp sáp nhập và giải thể các DNNN. Vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, thì quá trình tư nhân hóa hàng loạt DNNN cũng đã diễn ra tại các nước này. Trên thực tế, quá trình ấy chưa hẳn đã đem lại hiệu quả cao, mà ngược lại, những cú "sốc" đối với người lao động và nền kinh tế đã gây hậu quả khá nặng nề về mặt xã hội.

Đối với nước ta, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đa dạng hóa sở hữu thông qua chuyển đổi sở hữu DNNN mà trọng tâm là cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN cũng được xác định là một chủ trương lớn đã thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội. Song chúng ta có cách làm riêng, từng bước ổn định và vững chắc ; đồng thời, giải quyết thỏa đáng quyền lợi cho người lao động. Điều này nói lên bản chất ưu việt của chế độ ta, cổ phần hóa nhưng không làm tăng thêm số người thất nghiệp.

Có thể khái quát quá trình cổ phần hóa DNNN ở nước ta như sau : giai đoạn 1992 – 1995, là thời kỳ thực hiện thí điểm theo Quyết định 202/HĐBT (1992) của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về thí điểm chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần ; giai đoạn 1996 – 1998, là thời kỳ thực hiện Nghị định 28/CP (1996) về cổ phần hóa DNNN ; giai đoạn 1999 đến nay, là thời kỳ thực hiện Nghị định 44/1998 NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN và Nghị định 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán, cho thuê DNNN (Xem thêm – Civillawinfor)

Hai nghị định gần đây đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việc cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN. Về tổ chức, các ban chỉ đạo đổi mới DNNN từ trung ương đến các bộ, ngành, Tổng công ty 91 và các địa phương đã được thành lập. Nhưng quá trình cổ phần hóa DNNN diễn ra rất chậm. Từ năm 1992 đến năm 1998, cổ phần hóa được 120 doanh nghiệp. Từ chỗ tự nguyện đăng ký số doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đã trở thành chỉ tiêu pháp lệnh. Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ giao chỉ tiêu cổ phần hóa 450 doanh nghiệp cho các bộ, Tổng công ty 91 và các địa phương, nhưng chỉ thực hiện được 220 doanh nghiệp, đạt 49% kế hoạch. Năm 2000, chỉ tiêu cổ phần hóa DNNN là 508 doanh nghiệp, trong đó 337 doanh nghiệp cổ phần hóa theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP và 171 doanh nghiệp giao, bán, khoán, cho thuê theo Nghị định 103/1999/NĐ-CP, nhưng chỉ thực hiện được 196 doanh nghiệp đạt gần 38,6% kế hoạch đề ra, trong đó có 171 doanh nghiệp cổ phần hóa, đạt 50,7% kế hoạch và 25 doanh nghiệp thực hiện hình thức bán, khoán, cho thuê, đạt 14,6% kế hoạch. Mặc dù doanh nghiệp đã cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê còn ít, nhưng khả năng cạnh tranh và hiệu quả đã rõ ràng, hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa thì doanh thu, thu nhập của người lao động, lợi nhuận, vốn, nộp thuế đều tăng hơn so với trước khi cổ phần hóa. Hiệu quả đã rõ ràng, song cổ phần hóa DNNN không những không đạt chỉ tiêu Chính phủ đề ra mà còn có chiều hướng chững lại. Tình trạng này cần phải được làm rõ nguyên nhân và tìm biện pháp khắc phục để đẩy nhanh hơn nữa quá trình sắp xếp lại và cổ phần hóa DNNN.

Continue reading

25% GIẢNG VIÊN LÀ TIẾN SĨ VÀO NĂM 2010: VÔ VỌNG!

TR. HIỆU – P. NGUYỄN

Chỉ tiêu đến năm 2010 phải có 40% giảng viên ĐH, CĐ có trình độ thạc sĩ cũng khó khả thi với các trường CĐ. Ngày 12 tháng 5 năm 2009, Bộ GD&ĐT đã tổ chức hội nghị trực tuyến sơ kết ba năm thực hiện Quyết định 09/2005 của Thủ tướng về đổi mới công tác tổ chức cán bộ, quản lý cơ sở giáo dục. Tại hội nghị, bên cạnh các nhóm vấn đề như chế độ chính sách đãi ngộ giáo viên, công tác đào tạo sư phạm, nâng cao trình độ quản lý cán bộ…, nổi cộm nhất vẫn là việc nhìn nhận lại đội ngũ nhà giáo hiện nay.

Giáo viên thiếu, yếu và mất cân đối

Các đại biểu cùng nhìn nhận trong ba năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều bước phát triển mạnh, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng mạnh về số lượng, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. Sự bất hợp lý về cơ cấu đội ngũ nhà giáo giữa các bậc học, chuyên môn, ngành nghề và giữa các vùng, miền đã dần được khắc phục.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển, đội ngũ nhà giáo còn nhiều hạn chế và yếu kém. Đội ngũ giáo viên mầm non còn thiếu về số lượng. Một bộ phận giáo viên mầm non còn hạn chế về năng lực (kiến thức, kỹ năng và thái độ) trong việc nuôi dạy trẻ.

“Đội ngũ giáo viên phổ thông nhìn chung vẫn đang ở tình trạng vừa thiếu vừa thừa: thừa giáo viên ở khu vực thuận lợi, đặc biệt là giáo viên dạy các môn cơ bản nhưng lại thiếu giáo viên dạy các môn đặc thù. Còn ở vùng dân tộc thiểu số, vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thì thiếu cả giáo viên cơ bản và giáo viên dạy các môn đặc thù. Phương pháp dạy học, đánh giá học sinh vẫn là điểm yếu của đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay” – ông Hiển nhận định.

Trong khi đó, khả năng giảng dạy, thực hành, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp còn hạn chế. Số lượng giáo viên dạy nghề chưa tăng tương ứng với mức tăng quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề còn chưa hợp lý. Năng lực giảng dạy, kỹ năng thực hành nghề của giáo viên còn hạn chế.

Khối ĐH, CĐ và dạy nghề thiếu hai vạn giảng viên

Theo ông Hiển, tình trạng thiếu giảng viên ĐH, CĐ vẫn chưa được khắc phục, đặc biệt đối với những chuyên ngành đào tạo mới, môn học mới. Phương pháp giảng dạy, khả năng nghiên cứu khoa học vẫn là những điểm yếu của đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên giỏi kế cận chưa được chuẩn bị kịp thời để thay thế đội ngũ giảng viên đầu ngành là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đến tuổi nghỉ hưu.

Continue reading

THUẾ LÀ CÔNG CỤ TẠO BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI?

THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN – Hiện nay tỷ lệ thu thuế trên GDP của nước ta đã khá cao so với các nước khác trong khu vực. Lấy năm 2006 là năm có số liệu so sánh của ADB, tỷ lệ này ở Việt Nam là 23,7% so với 12,3% ở Indonesia, 15,1% ở Malaysia, 14,3% ở Philippines và 12,9% ở Singapore. Ngay ở Trung Quốc, tỷ lệ này cũng chỉ ở mức 16,4%.

Vậy mà Bộ Tài chính vẫn đang soạn thảo một sắc thuế mới: Thuế nhà đất với các mức thuế suất khác nhau dựa vào giá trị và diện tích căn nhà. Thật ra đây cũng là điều phải làm vì hiện nay thu từ thuế đất chỉ chiếm 0,2% tổng thu thuế mà lẽ ra, cộng tất cả các loại thuế từ bất động sản, phải nâng lên khoảng 2% là hợp lý. Nhưng để sắc thuế này có thể đi vào cuộc sống một cách có hiệu quả nhất, vấn đề cần góp ý xem xét không phải là mức thuế suất mà là một số vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc.

Như đã nói ở trên, tỷ lệ thu thuế đã khá cao, nếu thêm một loại thuế, cần phải giảm thuế ở các loại khác một cách tương ứng để giảm gánh nặng thuế khóa cho xã hội nói chung và người đóng thuế có thu nhập thấp.

Lấy ví dụ, thuế giá trị gia tăng hiện nay đã được thu có hiệu quả nên “năng suất thuế” đã cao hơn cả các nước công nghiệp – cần được xem xét giảm ở nhiều mặt hàng và dịch vụ để chúng có thể đến tay người nghèo nhiều hơn nữa.

Hay thuế thu nhập doanh nghiệp, theo Ngân hàng Thế giới, số hụt thu còn rất cao mà nếu chỉ cần cải tiến cách thu, biện pháp thu, sẽ làm tăng nguồn thu một cách đáng kể. Đối với doanh nghiệp tư nhân trong nước, số thuế lẽ ra phải thu được trong năm 2007 là gần 30.000 tỉ nhưng số thực thu chỉ khoảng 8.000 tỉ, một tỷ lệ tuân thủ thuế chỉ có 26,8%.

Như vậy, mục tiêu chính của thuế nhà ở không thể là tăng nguồn thu cho ngân sách. Mục tiêu chính của nó phải là nhằm điều tiết thu nhập, tạo công bằng xã hội, hạn chế việc đầu cơ vào nhà đất, ngăn cản những quả bong bóng địa ốc từng gây xáo động lớn cho nền kinh tế.

Một khi đã xác định được như thế, những công việc còn lại sẽ dễ dàng hơn nhiều. Rõ ràng phải đánh thuế thật cao đối với những người sở hữu căn nhà thứ hai, thứ ba. Lúc đó, thuế sẽ có tác dụng buộc họ cân nhắc giữa việc nhà lên giá và chi phí thuế phải tính đến hàng năm.

Những doanh nghiệp gom đất đai với giá đền bù rẻ mạt cho nông dân để làm những dự án phi sản xuất cũng phải đối diện với mức thuế thật cao để không ai có thể hưởng lợi bất công trên chênh lệnh giá.

Mức thuế cho đại đa số người dân sở hữu một căn nhà bình thường phải thật thấp để việc thu thuế không phải là gánh nặng cho cơ quan hành thu, để không ai phải tìm cách trốn thuế. So với các loại thuế khác, thuế nhà đất có đặc điểm là giúp thể hiện tính công bằng cao.

Nhà đất cũng là loại tài sản dễ kiểm tra tính chân thật trong kê khai. Những nhà làm chính sách nên soạn thảo luật thuế này sao cho những việc đầu cơ vào đất đai không còn hấp dẫn, việc sử dụng đất đai lãng phí phải bị trả giá – như vậy cũng là góp phần hạn chế tình trạng tham nhũng ở nước ta.

Continue reading