Một số vấn đề về quản lý kinh tế thị trường ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

TS. VŨ THỊ NHÀI

Tiếp cận nghiên cứu vấn đề quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay, chúng ta cần tập trung giải quyết làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

1. Lý luận

Kinh tế thị trường là gì?

Khi bàn về kinh tế thị trường các nhà kinh tế đều cho rằng, đó là một kiểu, một mô hình tổ chức kinh tế – xã hội, nó bao gồm các quan hệ hàng hoá của các thành phần kinh tế trong xã hội thông qua thị trường, trong đó phản ánh các yếu tố của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Điểm đặc biệt cần nhấn mạnh đến ở đây là nó không xa rời khỏi sự quản lý của chế độ chính trị – xã hội do nhà nước đó điều hành.

Trên thực tế chúng ta đều thừa nhận không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế nhất định là những nền kinh tế hàng hoá cụ thể. Về vấn đề này, C.Mác viết: Sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau…

Lịch sử còn cho thấy, sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quy luật tất yếu dựa trên cơ sở của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá. Và như vậy, kinh tế thị trường tồn tại trong các hình thái kinh tế xã hội. Đồng nghĩa là trong chủ nghĩa tư bản hay trong chủ nghĩa xã hội đều tồn tại kinh tế thị trường. Hiện thực hoá của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó chứa đựng hàng hoá của nhiều thành phần kinh tế trong xã hội. Chỉ có điều cần nắm vững để phân biệt ở đây là nền kinh tế thị trường đó phục vụ mục đích cho ai, vì ai phục vụ và có công bằng hay không. Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

TS. VŨ THỊ NHÀI

Tiếp cận nghiên cứu vấn đề quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay, chúng ta cần tập trung giải quyết làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

1. Lý luận

Kinh tế thị trường là gì?

Khi bàn về kinh tế thị trường các nhà kinh tế đều cho rằng, đó là một kiểu, một mô hình tổ chức kinh tế – xã hội, nó bao gồm các quan hệ hàng hoá của các thành phần kinh tế trong xã hội thông qua thị trường, trong đó phản ánh các yếu tố của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Điểm đặc biệt cần nhấn mạnh đến ở đây là nó không xa rời khỏi sự quản lý của chế độ chính trị – xã hội do nhà nước đó điều hành.

Trên thực tế chúng ta đều thừa nhận không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế nhất định là những nền kinh tế hàng hoá cụ thể. Về vấn đề này, C.Mác viết: Sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau…

Lịch sử còn cho thấy, sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quy luật tất yếu dựa trên cơ sở của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá. Và như vậy, kinh tế thị trường tồn tại trong các hình thái kinh tế xã hội. Đồng nghĩa là trong chủ nghĩa tư bản hay trong chủ nghĩa xã hội đều tồn tại kinh tế thị trường. Hiện thực hoá của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó chứa đựng hàng hoá của nhiều thành phần kinh tế trong xã hội. Chỉ có điều cần nắm vững để phân biệt ở đây là nền kinh tế thị trường đó phục vụ mục đích cho ai, vì ai phục vụ và có công bằng hay không. Continue reading

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

TS. NGUYỄN VĂN THỨC

Bài viết góp phần làm rõ thêm những nội dung cơ bản của khái niệm trách nhiệm xã hội và vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và thực thi trách nhiệm xã hội. Theo tác giả, vai trò đó của Nhà nước thể hiện tập trung ở những điểm: 1) Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động của đời sống xã hội, 2) Xây dựng và đảm bảo thực hiện các chính sách xã hội, 3) Quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 4) Đảm bảo cung cấp các dịch vụ công cho xã hội, 5) Thực hiện phân phối các nguồn lực và lợi ích một cách công bằng, 6) Đại diện cho quốc gia tham gia tích cực vào các hoạt động chung của khu vực và thế giới.

Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội là những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời cũng là những yếu tố quan trọng quyết định sự ổn định xã hội. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới một trong những vấn đề quan trọng trên – đó là vai trò của nhà nước và vấn đề trách nhiệm xã hội. Để góp phần làm rõ vấn đề này, trước hết cần phải làm rõ trách nhiệm xã hội là gì và nhà nước có vai trò như thế nào trong việc tổ chức và thực thi trách nhiệm xã hội? Theo nghĩa thông thường, trách nhiệm được hiểu là điều phải làm, phải gánh vác, hoặc phải nhận lấy về mình. Trách nhiệm thuộc phạm trù đạo đức học và luật học, phản ánh thái độ xã hội đặc biệt và thái độ đạo đức pháp luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung), thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật. Phạm trù trách nhiệm bao quát vấn đề triết học – xã hội học về mức độ năng lực và khả năng của con người thể hiện ra với tư cách chủ thể (người làm ra) của những hành động của mình, cũng như những vấn đề cụ thể hơn, như khả năng của con người có thể thực hiện một cách tự giác (có chủ ý, tự nguyện) những nhu cầu nhất định và hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra cho mình, thực hiện một sự lựa chọn đúng đắn, đạt tới một kết quả nhất định, cũng như các vấn đề có liên quan khác: sự đúng đắn hay tội lỗi của con người, khả năng tán thành hay lên án những hành vi của họ, khen thưởng hay trừng phạt… Continue reading

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

MOLISA.GOV.VN – Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có trên 500 ngàn lao động Việt Nam đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài với số tiền mỗi năm gửi về nước khoảng 1,6 tỷ USD, góp phần quan trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

So với một số ngành khác, thu nhập của người lao động đi làm việc ở nước ngoài có hiệu quả cao, vốn đầu tư ít, đem lại lợi ích nhiều mặt… Tuy nhiên, một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động ở nước ngoài. Những vụ việc phát sinh gần đây như việc gần 700 lao động Việt Nam đình công ở nhà máy sản xuất găng tay (Malaysia) năm 2007, vụ 20 tu nghiệp sinh Việt Nam phải về nước trước thời hạn do xí nghiệp của Nhật Bản phá sản cuối năm 2006; thêm vào đó là tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ hợp đồng ra ngoài làm ăn, cư trú bất hợp pháp ở các thị trường Đài Loan, Nhật Bản và các nước có thu nhập cao đang có xu hướng tăng lên… đã ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường lao động ngoài nước.

Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc tại nước ngoài

Đến nay, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài đã tương đối đầy đủ. Điều 27 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định rõ, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có trách nhiệm:

– Trực tiếp tuyển chọn người lao động và không được thu phí tuyển chọn của người lao động. Khi tuyển chọn lao động tại địa phương, doanh nghiệp phải thông báo với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; định kỳ sáu tháng, một năm báo cáo Sở về kết quả tuyển chọn và số lượng người lao động của địa phương đã được đưa đi làm việc ở nước ngoài; Continue reading

TIẾNG NÓI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT CÓ GIÁ TRỊ?

PHAN THANH TỊNH

Khi xây dựng hệ thống pháp luật kinh doanh, các cơ quan chức năng thường tham khảo ý kiến của doanh nghiệp, đối tượng liên quan trực tiếp và chịu sự điều chỉnh của hệ thống các văn bản này. Song hiện nay, nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đang thiếu tiếng nói của doanh nghiệp, vì sao?

Mỗi văn bản điều chỉnh về một lĩnh vực nào đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều gắn liền với quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Bởi vậy khi được tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến cho một dự thảo văn bản pháp luật, các doanh nghiệp phải thể hiện được nguyện vọng trong những hoạt động này. Nói cách khác, ý kiến tham gia đóng góp, phản biện của cộng đồng doanh nghiệp đối với các văn bản pháp luật kinh doanh là một kênh quan trọng để “đưa hơi thở của cuộc sống vào đường lối, chính sách”. Việc làm này cũng đồng thời khắc phục tình trạng đơn phương, áp đặt những chính sách bất hợp lý, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp “không mặn mà”, thậm chí đã nản lòng với việc góp ý xây dựng văn bản pháp luật. Tại Hội thảo “Nâng cao năng lực doanh nghiệp, hiệp hội trong công tác tham vấn hoạch định chính sách” được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức vừa qua, nhiều ý kiến cho rằng tình trạng một số cơ quan ban hành văn bản pháp luật đã “phớt lờ” ý kiến của doanh nghiệp vẫn chưa được khắc phục. Ðơn cử như việc lấy ý kiến góp ý của doanh nghiệp đối với dự thảo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt do VCCI tổ chức trong thời gian qua, nhiều ý kiến đề nghị xóa bỏ việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các mặt hàng đang dần được “thiết yếu hóa” với đời sống hiện nay như bia hơi, máy điều hòa nhiệt độ… Nhưng rốt cục đã không có sự khác biệt giữa luật ban hành và bản dự thảo trước đó, có nghĩa là nhiều ý kiến của các doanh nghiệp đã không được ghi nhận. Như vậy phải chăng tiếng nói của doanh nghiệp không có giá trị? Continue reading

LAO ĐỘNG VÀ VĂN HÓA NGHỀ TRONG LAO ĐỘNG NƯỚC TA

TS. ĐÀM HỮU ĐẮC – Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Văn hóa nghề là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần được tạo ra do quá trình hành nghề của người lao động với sự chuẩn mực về trình độ kiến thức, kỹ năng lao động, đạo đức và thái độ hành xử với môi trường lao động nhất định. Văn hóa nghề chính là sự hành nghề có văn hóa. Một bộ phận người lao động nước ta đi làm việc ở nước ngoài để xảy ra nhiều vụ việc đáng tiếc đã bị chủ sử dụng lao động đánh giá là những người lao động thiếu văn hóa. Chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ đào tạo người lao động không chỉ có kiến thức, kỹ năng nghề mà còn có cả kiến thức văn hóa nghề.

Bức xúc lao động thiếu kiến thức văn hóa

Nước ta có 46,61 triệu lao động, chiếm 54,8% số dân. Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 45,6 triệu người, chiếm 97,64% tổng số nguồn lao động. Đây là nguồn tài sản quý giá nhất của đất nước. Từ địa phương đến cả nước nếu có sự gắn kết chặt chẽ và kết hợp hài hòa giữa yếu tố lao động với tiềm năng đất đai, tài nguyên, môi trường, nguồn vốn, khoa học – công nghệ mới cùng cơ chế, chính sách, kinh tế mới, chúng ta sẽ có tốc độ phát triển kinh tế – xã hội nhanh hơn, tạo mở nhiều việc làm mới.

Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu lớn lao về kinh tế – xã hội, cải thiện rõ nét đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Song, so với một số nước trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới, nền kinh tế nước ta vẫn còn thấp kém, còn khoảng cách khá xa. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư còn thấp, trong khi GDP bình quân nước ta năm 2007 đạt khoảng 840 USD/người, một số nước trong khu vực đạt từ 10.000 USD đến 25.000 USD/người, nhiều nước trên thế giới đạt 26.000 USD – 30.000 USD/người, thậm chí một số nước đạt 36.000 USD – 40.000 USD/người. Điều đó cũng có nghĩa nước ta vẫn căn bản là nước nghèo với nền sản xuất nông nghiệp còn lớn nên thu nhập thấp. Thời gian qua, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch khá, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm, công nghiệp và dịch vụ tăng, nhưng dân số trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vẫn ở mức cao hơn 70%, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm hơn 52%. Trong khi ở các nước công nghiệp phát triển tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm dưới 10%, không ít nước lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 1% – 2%. Continue reading

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

DƯƠNG THỊ BÍCH ĐÀO – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

1. Nhật Bản:

Nhật Bản hiện tham gia hai Công ước Lahay về tống đạt giấy tờ và thu thập chứng cứ (Công ước năm 1965 và Công ước năm 1970). Mỗi năm Nhật Bản thực hiện khoảng 1400 bộ hồ sơ uỷ thác tư pháp của toà án và các cơ quan có thẩm quyền gửi.

a. Trình tự, thủ tục thực hiện uỷ thác tống đạt và thu thập chứng cứ:

Toà án Nhật Bản thực hiện uỷ thác do Toà án và các cơ quan tư pháp có thẩm quyền của nước ngoài gửi:

Việc thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp của toà án nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Luật về tương trợ tư pháp. Theo quy định của Luật này, cơ quan đầu mối thực hiện là Ban Các vấn đề về dân sự, Toà án tối cao và cơ quan thực hiện là toà án khu vực có thẩm quyền đối với địa điểm nơi việc tương trợ tư pháp này được thực hiện. Sau khi nhận được yêu cầu của phía nước ngoài, Toà tối cao sẽ xem xét từng vụ việc cụ thể, nếu thấy hồ sơ uỷ thác không được lập rõ ràng, chưa hoàn thiện thì Toà án tối cao sẽ gửi lại nơi gửi đề nghị hoàn thiện; nếu hồ sơ đã hoàn thiện thì gửi cho toà khu vực để thực hiện. Số người làm việc trong lĩnh vực này của Toà án tối cao là 7 người.

– Uỷ thác của Toà án Nhật Bản gửi ra nước ngoài:

Uỷ thác cho Lãnh sự Nhật Bản ở nước ngoài thực hiện: Việc tống đạt giấy tờ và thu thập chứng cứ đối với công dân Nhật Bản ở nước ngoài, các Toà án có thể uỷ thác cho Lãnh sự Nhật Bản để thực hiện. Toà án khu vực Nhật Bản thụ lý vụ việc sau khi lập xong hồ sơ uỷ thác theo mẫu quy định sẽ gửi lên Toà án tối cao. Toà án tối cao sẽ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ rồi chuyển đến Bộ Ngoại giao để Bộ Ngoại giao chuyển hồ sơ cho Lãnh sự quán Nhật Bản tại nước có đương sự cần tống đạt hồ sơ hoặc lấy lời khai. Thời hạn thực hiện uỷ thác đối với loại vụ việc này thường từ 4 đến 6 tháng. Tuy nhiên, đối với những trường hợp khẩn cấp, Toà án tối cao Nhật Bản có thể đề nghị Bộ Ngoại giao thực hiện theo chế độ khẩn, thời hạn rút ngắn xuống khoảng 2 tháng. Hồ sơ không phải dịch ra tiếng nước ngoài. Trình tự, thủ tục và cách thực hiện uỷ thác loại này tương đối giống với nước ta, chỉ khác cơ quan đầu mối trong của Việt trong trường hợp này là Bộ Tư pháp còn đối với Nhật Bản là Tòa án nhân dân tối cao. Continue reading