XÃ HỘI CÔNG DÂN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ: TỪ ARIXTOT ĐẾN HÊGHEN

THS. TRẦN TUẤN PHONG – Phó trưởng phòng Triết học Chính trị, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Bài viết phân tích tư tưởng của Arixtốt về cộng đồng chính trị – một khái niệm được coi là khởi thuỷ của khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự sau này. Đồng thời, phân tích tư tưởng về xã hội dân sự trong thời cận đại qua một số đại biểu điển hình. Đặc biệt, tác giả đã làm rõ sự kế thừa và phát triển của Hêghen đối với quan điểm của Arixtốt về xã hội công dân. Theo tác giả, tư tưởng của Hêghen về xã hội dân sự và nhà nước tuy mang tính duy tâm, song những luận điểm của ông đóng vai trò nhất định trong sự hình thành tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về xã hội dân sự, về vai trò của nhà nước.

Có thể nói, khái niệm xã hội dân sự bắt nguồn từ phương Tây. Thuật ngữ Civil society được dịch sang tiếng Việt là xã hội công dân hoặc xã hội dân sự. Xung quanh các thuật ngữ này có rất nhiều nhận định và bàn luận khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chính các cách kiến giải khác nhau về nội hàm của khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự đã đem đến những cách hiểu khác nhau về mối liên hệ giữa xã hội công dân/xã hội dân sự, gia đình, thị trường và nhà nước. Theo quan điểm của chúng tôi, nội hàm của khái niệm này mang tính lịch sử cụ thể, nó biến đổi theo từng thời kỳ phát triển khác nhau của lịch sử phương Tây. Trong phạm vi nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một cách khái quát về sự biến đổi của khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự trong lịch sử tư tưởng triết học chính trị phương Tây giai đoạn từ Arixtốt đến Hêghen.

1. Arixtốt và cộng đồng chính trị

Về mặt thuật ngữ, khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự chưa xuất hiện trong tư tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp. Thuật ngữ “Koinonia politike” mà Arixtốt dùng để miêu tả đời sống chính trị của Hy Lạp cổ đại thường được dịch là cộng đồng chính trị có thể được coi là “tiền thân” của khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự về sau này. Cộng đồng chính trị chính là hình thức tổ chức đời sống chính trị xã hội của Hy Lạp cổ, nó cũng được hiểu là polis (thành – bang). Khái niệm cộng đồng chính trị được Arixtốt dùng để phân biệt với đời sống gia đình, để phân biệt lĩnh vực công (public) với lĩnh vực (private) trong cách tổ chức đời sống con người.

Lĩnh vực tư của con người, hay gia đình, theo Arixtốt, là lĩnh vực đời sống được tổ chức để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu nhất của con người nhằm đảm bảo sự tồn tại về mặt sinh học của cá thể và duy trì sự tồn tại của giống loài. Sự tồn tại này đòi hỏi sự liên kết giữa các cá thể một cách tự nhiên, liên kết tiêu biểu nhất là hình thức sống chung trong gia đình giữa đàn ông và đàn bà. Trong hình thức tổ chức của gia đình thì người đàn ông đóng vai trò là ông chủ cai trị và điều hành cuộc sống của người vợ, các con và nô lệ. Đời sống kinh tế của Hy Lạp cổ đại chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp và vì thế, được bó gọn trong lĩnh vực tư của gia đình. Kinh tế được hiểu là điều hành gia đình (Oikos) (1) và nằm trong “vương quốc thiết yếu” mà ở đó, cuộc sống của con người bị chi phối bởi các nhu cầu thiết yếu. Ở đây không có sự bình đẳng, người đàn ông là chủ có quyền quyết định hầu hết mọi việc quan trọng trong gia đình mà không cần tham vấn các thành viên khác trong gia đình, anh ta điều hành gia đình thông qua mệnh lệnh và sự cưỡng ép đối với vợ con và nô lệ. Trong quan điểm của Arixtốt, hình thức liên kết cộng sinh ở dạng gia đình này của con người không khác mấy so với đời sống của động vật, của xã hội hoang dã bầy đàn.

Continue reading

SỰ LỰA CHỌN CHO TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

HUỆ NGUYỄN

Mới đây, các chuyên gia kinh tế của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) đã đưa ra một báo cáo về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, trong đó gợi ý hai mô hình tăng trưởng của Đông Nam á và Đông á. Sau một loạt các thành tích kinh tế mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua, báo cáo này là nhận định tỉnh táo và tổng quát về hiện trạng cũng như hướng đi của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Tạp chí Kinh tế và Dự báo xin trích đăng một số nội dung chính của báo cáo để bạn đọc tham khảo.

1. Đánh giá chung:

Sau hơn 20 năm đổi mới với thành tích tăng trưởng kinh tế cao, nhiều người dân Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Việt Nam ngày càng được nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trên trường quốc tế. Tuy nhiên, thành công trong quá khứ không phải là một sự đảm bảo vững chắc cho tương lai. Mục tiêu phát triển của Việt Nam đầy tham vọng: Trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Thế nhưng, nếu những xu thế như hiện nay vẫn được tiếp tục thì có lẽ Việt Nam sẽ không thể đạt được những mục tiêu này. Để lý giải cho điều này, báo cáo của Harvard đưa ra kết quả đánh giá về Việt Nam trên 6 phương diện chính sách then chốt sau:

Thứ nhất, về giáo dục

Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện đang khủng hoảng. Mặc dù tỷ lệ đi học ở các cấp phổ thông tương đối cao, nhưng chất lượng của các bậc học này rất đáng lo ngại. Kết quả trượt tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2007 cho thấy nhiều học sinh thậm chí còn không nắm được kiến thức cơ bản. Không những thế, chất lượng đào tạo ở các trường đại học của Việt Nam chưa đạt chuẩn. Trên thực tế, trường đại học của Việt Nam thua xa khi so với ngay các trường của các nước Đông Nam á – vốn chưa phải là những trường đẳng cấp quốc tế. Nếu nhìn vào sản phẩm đào tạo thì khoảng phân nửa sinh viên ra trường ở Việt Nam không được làm đúng ngành đào tạo.

Những kết quả đáng buồn trên không phải do hệ thống giáo dục hiện nay thiếu tiền. Trên thực tế, tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP của Việt Nam hầu hết cao hơn các nước trong khu vực. Vấn đề thực sự nằm ở chỗ nguồn lực này được sử dụng như thế nào, và đặc biệt nằm ở cấu trúc quản trị xơ cứng và bất cập ở mọi cấp độ của hệ thống giáo dục.

Để cải thiện chất lượng giáo dục đại học và khoa học, các trường đại học của Việt Nam phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất với những ưu đãi hấp dẫn nhất để thu hút được những nhà khoa học hàng đầu. Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các trường đại học của mình xâm nhập thị trường chất xám toàn cầu, và các trường này đang ngày càng thành công trong việc mời được những nhà khoa học Trung Quốc xuất sắc nhất từ Mỹ và các nước khác trở về với mức đãi ngộ và hỗ trợ nghiên cứu cạnh tranh. Trái lại, Việt Nam chưa sẵn sàng chấp nhận tham gia “cuộc chơi” săn lùng chất xám này. Trên thực tế, những người xuất sắc nhất trong hệ thống của Việt Nam vẫn phải chịu một sự ghen tỵ nếu như họ có được một chút đãi ngộ hơn những người khác. Thị trường chất xám là một thị trường toàn cầu, và những nhà khoa học xuất sắc nhất của Việt Nam có rất nhiều lựa chọn trong thị trường này. Chắc chắn là chỉ có một số rất ít nhà khoa học xuất sắc chịu chấp nhận các điều kiện làm việc ở các trường đại học của Việt Nam như hiện nay. Lòng yêu nước của mỗi nhà khoa học đều có, nhưng họ cũng cần cả những sự đãi ngộ và tôn trọng xứng đáng nữa.

Continue reading

ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: RỦI RO TỪ THỰC TẾ VÀ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT

LS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Trong cơ chế thị trường, nhu cầu vay vốn của các tổ chức kinh tế và cá nhân, hộ gia đình cần được xem xét, giải quyết kịp thời nhằm bảo đảm cơ hội kinh doanh/mục đích sử dụng của khách hàng. Để đáp ứng được yêu cầu này, bên cạnh việc các ngân hàng không ngừng cải cách hành chính theo hướng đơn giản thủ tục, hồ sơ và rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ vay vốn, thì hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay vốn của ngân hàng cũng cần được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với thực tế và tình hình mới.

Hiện nay, các ngân hàng đã được phép chủ động xem xét, quyết định cho vay có bảo đảm hoặc không có bảo đảm đối với khách hàng. Thực tế, những khách hàng đủ điều kiện vay không có bảo đảm bằng tài sản chưa nhiều, nên đa số khách hàng vay vẫn phải có tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng. Quan điểm chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước là không nới lỏng các điều kiện vay, kể cả các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng được vay vốn có hỗ trợ lãi suất theo Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Do đó, khi thực hiện thủ tục giao kết giao dịch bảo đảm, ngân hàng phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, sự bất cập của pháp luật đã làm cho ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong quá trình mở rộng cho vay có bảo đảm bằng tài sản. Vì vậy, ngân hàng không chỉ mất nhiều thời gian để xem xét, giải quyết hồ sơ vay vốn mà còn có thể phải gánh chịu những rủi ro tiềm ẩn về vốn vay do phải thu nợ trước hạn hoặc không có khả năng thu hồi được nợ đến hạn.

1. Rủi ro được cảnh báo từ việc nhận tài sản bảo đảm tại khu đô thị mới

Trong thời gian qua, các yêu cầu về đăng ký giao dịch bảo đảm đã tăng lên đáng kể. Nhưng so với số giao dịch được thực hiện trên thực tế, thì số lượng đăng ký giao dịch bảo đảm vẫn còn quá ít. Mới đây, dư luận xã hội nổi lên một số vụ việc người dân tham gia các giao dịch mua bán/chuyển nhượng tài sản mà không biết tài sản đó đang được thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại ngân hàng. Điển hình là vào trung tuần tháng 3/2009, bản tin Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo chí đưa tin về việc Công ty D&T lừa bán cho người dân 47 căn biệt thự tại Khu du lịch sinh thái cao cấp An Khánh, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ). Đây là Dự án được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) cấp phép cho Tập đoàn Bảo Sơn năm 2004 để xây dựng khu biệt thự kinh doanh. Đến tháng 12/2007, Công ty Bảo Sơn (thuộc Tập đoàn Bảo Sơn) ký hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty D&T; theo đó, Công ty Bảo Sơn góp vốn bằng quyền sử dụng 47 lô đất tại Dự án và Công ty D&T góp vốn bằng tiền mặt (97 tỷ đồng) để xây dựng 47 căn biệt thự trên 47 lô đất nêu trên. Vì nhiều lý do khác nhau, Công ty D&T không góp vốn bằng toàn bộ vốn tự có của mình để thực hiện hợp đồng hợp tác đầu tư nêu trên mà vay vốn của GPBank (Ngân hàng) trên cơ sở thế chấp chính 47 căn biệt thự được hình thành trong tương lai tại Dự án. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, căn cứ đề nghị của Ngân hàng, Tập đoàn Bảo Sơn, Công ty D&T và Ngân hàng ký biên bản cam kết 3 bên, trong đó quy định rõ: Trong thời gian Công ty D&T còn nợ vay tại Ngân hàng, Tập đoàn Bảo Sơn không giải quyết bất cứ yêu cầu nào liên quan đến việc thế chấp, cầm cố, tặng cho, thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất đối với 47 căn hộ nêu trên khi chưa có chấp thuận của Ngân hàng. Tuy nhiên, đến thời điểm tháng 12/2008, Công ty D&T đã rao bán hết 47 căn biệt thự nêu trên cho hàng chục cá nhân. Trong hợp đồng mua bán ký với các cá nhân, Công ty D&T cam kết sẽ bàn giao nhà xây thô cho bên mua vào cuối năm 2008. Toàn bộ tiền bán 47 căn biệt thự hình thành trong tương lai nói trên đã không được Công ty D&T dùng để trả nợ vay Ngân hàng. Phát hiện thấy hành vi vi phạm hợp đồng của Công ty D&T, Ngân hàng đã ra thông báo thay thế Công ty D&T thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp đối với 47 căn biệt thự nêu trên. Khi đến thời hạn bàn giao biệt thự theo cam kết, Công ty D&T mới chỉ làm được cơ sở hạ tầng đường sá. Lúc đó, những khách hàng mua đến nhận bàn giao nhà xây thô mới biết được mình bị Công ty D&T lừa và đã gửi đơn tố cáo với cơ quan công an.

Continue reading

LUẬT PHÁP HƯỚNG TỚI PHÁP QUYỀN

BÙI NGỌC SƠN

Chưa bao giờ người ta lo lắng cho nền giáo dục Việt Nam như bây giờ, dù Luật Giáo dục đã ra đời gần chục năm nay. Luật Giao thông đường bộ cũng đã ban hành, nhưng vấn đề tai nạngiao thông vẫn trầm trọng. Rồi Luật Đất đai, Luật Xây dựng… cũng trong những tình thế tương tự. Không thể đổ lỗi hoàn toàn cho luật, mà chỉ muốn nói rằng ban hành luật không phải là cách duy nhất để giải quyết những vấn đề bức thiết của cuộc đời. Có người còn hài hước cho rằng, mặc dù có cả một "rừng luật"nhưng người dân vẫn hành xử theo "luật rừng"? Việc luật một đàng, đời một nẻo phải tìm nguyên do từ nơi sinh ra luật – ngành lập pháp.

Hàng loạt cố gắng hiện nay như: "nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội", "đổi mới quy trình lập pháp", "tăng cường năng lực lập pháp’?.. là những việc cần làm để ngành lập pháp có thể cho ra những sản phẩm tốt hơn. Nhưng, một chiếc cày bằng đồng cũng không hiệu quả nhiều hơn một chiếc cày bằng gỗ là bao. Vấn đề là, cần thay đổi hẳn sang dùng máy cày- thay đổi nguyên lý mới là quan trọng. Muốn hướng tới một nền pháp quyền, vì dân giầu, nước giầu, tư duy về lập pháp phải có những thay đổi.

1. Luật pháp trong nền pháp quyền

Tư duy về lập pháp trong nền pháp quyền bắt đầu từ nhận thức luật pháp được hiểu là gì theo pháp quyền?

Luật là khuôn mẫu cho hành vi của chúng ta. Danh từ "Luật"theo tiếng La tinh "Lex" có gốc từ nguyên là "ligare" (buộc lại, cột lại). Luật, như vậy, là những quy tắc ràng buộc hành vi của con người. Nhưng hành vi của con người được hướng dẫn bởi lý trí. Mà theo Thomas d’Aquin1 lý trí lại hướng đến mục đích cuối cùng của đời sống con người là hạnh phúc. Bởi vậy, ông đã viết: "Luật phải liên quan chủ yếu tới trật tự có trong hạnh phúc"2.Luật pháp, với nghĩa là các quy tắc được chính quyền thiết lập hoặc chấp nhận để điều tiết xã hội, không thể nằm ngoài ý nghĩa đó: luật phải khởi nguồn từ ước muốn chung của dân chúng về một đời sống hạnh phúc.

Dẫn lại lời của Augustine3 “điều gì không công bằng thì hoàn toàn không phải là luật”, D’aquin nói thêm rằng: “Do đó, sức mạnh của luật tuỳ thuộc vào sự công bằng. Vậy, trong các vấn đề của con người, điều gì được coi là đúng và công bằng là tuỳ thuộc vào quy luật của lý trí. Nhưng quy luật thừ nhất của lý trí là luật tự nhiên… Do đó, mọi luật của con người cũng có cùng bản chất với luật tự nhiên vì nó xuất phát từ luật tự nhiên. Nhưng nếu ở điểm nào đó nó rời xa luật tự nhiên, nó không còn là luật mà là một ‘sự xuyên tạc luật."4.

Với nghĩa như vậy, gắn kết với luật tự nhiên – hệ thống các quyền lợi chung của con người, không chỉ là một yêu cầu đối với pháp luật mà là bản chất của pháp luật. Một quy tắc được gọi là luật khi quy tắc đó được xây dựng để mưu cầu hạnh phúc cho con người, không trái với luật tự nhiên. Đây chính là cơ sở đạo đức của pháp luật. Do đó, đạo đức gắn với bản chất của pháp luật.

Continue reading

NGHỆ THUẬT NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG

KIỀU THẨM

Ông cha ta từng dạy: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Chắc các bạn không nghĩ “học nói” ở đây là việc phát âm của đứa trẻ lên 3 lúc bi bô đối với người lớn. Vâng. Rõ ràng nói phải học, bởi không phải ai cũng có khả năng nói khiến người khác chịu nghe, thích nghe. Nói bất cứ điều gì, bạn phải nói thế nào để người ta lắng nghe, rồi thấy thích thú, muốn nghe thêm nữa. Mà “chịu”, “thích” ở đây lại phải tự nhiên, tự nguyện, chứ không do một sức ép, sự nể nang, “tế nhị” nào (như trường hợp thầy nói, trò dẫu không thích cũng phải ngồi im nghe hoặc “sếp” giáo huấn thì nhân viên không thể bỏ đi.v.v…). Nói làm sao để “con kiến trong lỗ cũng phải bò ra” không dễ chút nào.

Chẳng thiếu những vị chức sắc, giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học, chính khách tài giỏi uyên bác thực sự, thậm chí nổi tiếng, có thể viết rất hay nhưng nói, truyền đạt, giảng dạy đã không khiến người nghe hứng thú, họ cảm thấy mỏi mệt nếu như các vị nói trong khoảng thời gian dài. Người nói giỏi là người có thể diễn thuyết liền mạch 3-4 giờ, mà người nghe vẫn thích thú. Cử toạ bị lôi cuốn và hoàn toàn trở nên thụ động trước nhà hùng biện. Có khi, họ như bị bắt mất hồn, biến thành tín đồ trước giáo lý.

Còn gì đáng tiếc bằng, khi bạn là thủ trưởng cơ quan, trước nhân viên bạn không thuyết phục được họ bằng lý luận, lại đáng phiền hơn khi đối ngoại, bạn trở nên lúng túng, ấp úng, mất hết “tư thế”, tổn hại đến thể diện cơ quan mà bạn đang đứng đầu. Bạn làm công tác Tuyên huấn, luôn là các “Báo cáo viên” trước những đối tượng công chúng, mà truyền đạt không “thủng” một chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước do khả năng nói hạn chế thì thật đáng buồn! Các nhà giảng dạy từ tiểu học đến đại học mà diễn đạt không gãy gọn một kiến thức cần thiết trước học sinh thì làm sao chúng có thể tiếp thu?

Tất cả những hiện tượng trên đã là sự thật, ít nhiều hạn chế hiệu quả công việc mà các đối tượng vừa nhắc tới luôn mong muốn đạt được ở mức tối đa.

Vậy khi nói, muốn gây được hứng thú cho người nghe, ta cần chú ý những điều gì?

Nghệ thuật nói thâu tóm gọn trong mấy tiếng: Nói cái gì, nói với ai và nói thế nào?

Nội dung nói tức là phần thông tin ta cần chuyển tải đến người nghe. Đối tượng nghe ta nói bao giờ cũng chú ý đến lượng thông tin ta cung cấp cho họ. Thông tin phải bảo đảm những yêu cầu: chính xác, phong phú, mới mẻ và bổ ích. Tôi xin bàn qua về từng yêu cầu này.

Chính xác: Bạn sẽ mất uy tín ngay khi người nghe phát hiện thấy bạn vừa nói một điều gì đó không chính xác, không đúng. Có một lần, một diễn giả ở một thành phố đến nói chuyện tại hội nghị ở một quận. Trong phần nội dung khá miên man, anh đã nói: “Chủ nghĩa Phục hưng trên thế giới thế kỷ 19 đã sản sinh ra hàng loạt nhà văn nổi tiếng…”. Rất không may hôm đó có một vài người nghe là giáo viên văn học. Họ đã cười và không giấu sự coi thường vì vị diễn giả đã nói sai: Đúng ra là thế kỷ 16 mới xuất hiện chủ nghĩa Phục hưng. Và sau đó anh ta còn hiểu sai về chủ nghĩa này. Mấy giáo viên văn học đã lặng lẽ bỏ dở buổi sinh hoạt, ra về. Diễn giả đã linh cảm thấy “vấn đề” bỗng đỏ mặt và lái sang chuyện khác. Vậy nên, tốt nhất là chỉ nên nói điều ta biết đích xác 100% (chẳng thế mà các cụ đã dạy: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”).

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

THS. HOÀNG THÚY YẾN

Sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là một việc mới mẻ. Kết quả hồi quy sử dụng dữ liệu mảng của 64 tỉnh từ năm 1999-2003, cho thấy bất bình đẳng có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế thông qua cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp. Giải pháp gì nhằm giải quyết hữu hiệu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế, đó là nội dung chính của bài viết dưới đây.

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng. Do đó, việc đánh giá đúng đắn tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách thích hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Mặc dù, đã có một số nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế, song nghiên cứu này tập trung chủ yếu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu mảng nhằm làm tăng độ chính xác và bộ số liệu cập nhật theo thời gian nhằm khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước. Hơn nữa, nghiên cứu này có thể được xem là một nghiên cứu thực chứng nhằm góp phần tìm ra các tác động bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế.

1. Tác động trực tiếp của Bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng

Sử dụng mô hình toán với phương pháp hai giai đoạn (2SLS), kết quả hồi quy cho thấy bất bình đẳng thu nhập và đầu tư có tác động tương đối rõ nét đến tăng trưởng kinh tế. ở đây, chúng ta sử dụng biến HDI99 (giá trị HDI năm gốc) để làm biến giải thích cho biến INEQUALITY99 mô hình 2SLS (instrument variable) – mà cụ thể là HDI99 được giả định không tương quan với các đại lượng ngẫu nhiên (tức ei trong biểu thức (1)). Trong đó, tăng trưởng kinh tế (REALGROWTH) phụ thuộc vào bất bình đẳng (INEQUALITY99), giáo dục (EDU-sử dụng tỷ lệ tốt nghiệp cấp 2 làm biến đại diện) và biến tương tác INVEST_GDP (Đầu tư và GDP) cho kết quả hồi quy như sau:

REALGROWTH= -15.3808 + 1.062 * INEQUALITY99 + 0.145503 * INVEST_GDP + 0.1124 * EDUC

Từ phương trình hồi quy trên ta nhận thấy, nếu bất bình đẳng thu nhập tăng 1 đơn vị (nghĩa là chênh lệch giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất tăng thêm 1 lần) thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng thêm 1.06 điểm phần trăm với điều kiện các yếu tố khác không đổi và với mức ý nghĩa có thể chấp nhận được là 5%;

Continue reading

BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ: THỰC THI KÉM

BÁ TÚ

Theo đánh giá chung, VN đã có một hệ thống pháp luật hiện đại và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về sở hữu trí tuệ (SHTT). Tuy nhiên, Cục trưởng Cục SHTT Trần Việt Hùng cũng phải thừa nhận, việc thực thi Luật SHTT vẫn còn nhiều hạn chế.

VN có nhiều lực lượng tham gia thực thi Luật SHTT như thanh tra khoa học công nghệ, hải quan, công an, toà án… Nhưng theo ông Hùng, lực lượng thì đông nhưng chồng chéo. Đặc biệt, hệ thống toà án xét xử về xâm phạm SHTT còn rất yếu và thiếu.

Kết quả xử phạt còn khiêm tốn

Mặc dù việc xử lý vi phạm quyền SHTT có chiều hướng tăng từng năm cả về số vụ và số tiền. Tuy nhiên, so với thực tế vi phạm thì còn rất khiêm tốn. Theo báo cáo của Cục quản lý thị trường, năm 2007, Cục đã xử lý 2.496 vụ, tổng số tiền phạt khoảng trên 3,5 tỷ đồng. Năm 2008, số vụ xử lý là 2.766 vụ, số tiền phạt khoảng 7,9 tỷ đồng.

Theo đánh giá của Cục SHTT, tình trạng xâm phạm quyền SHTT vẫn diễn ra phức tạp và ngày càng tinh vi. Đặc biệt, các dạng vi phạm liên quan đến sách báo, phim ảnh, băng đĩa… rất khó kiểm soát. Ông Huỳnh Tiết – GĐ Bến Thành Audeo – Video cho biết, một chương trình CD hiện nay đầu tư ban đầu khoảng 130 triệu đồng. Nhà sản xuất phải bán khoảng 10.000 đĩa mới thu hồi vốn nhưng thường thì mỗi chương trình chỉ bán được khoảng 2.000 đĩa. Đau xót hơn cả là đĩa vừa in thì đi đâu cũng thấy đĩa nhái bày bán từ giấu giếm đến công khai. Nếu đầu tư quay hình mất khoảng 350 – 400 triệu đồng thì số lỗ càng lớn hơn. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất hiện còn phải đối mặt với một dạng vi phạm “tinh vi” hơn nhiều. Đây là hàng trăm website nghe nhạc download miễn phí. Hai cú đánh này đã giết chết các nhà sản xuất âm nhạc.

Theo đề xuất của ông Tiết, Bộ Giáo dục có thể đưa chương trình giảng dạy SHTT vào trường trung học và đại học. Vì thực tế hiện nay, rất nhiều người dân còn chưa hiểu rõ SHTT là gì.

Thay đổi nhận thức về SHTT

Theo các chuyên gia việc thay đổi nhận thức về SHTT là mấu chốt giải quyết vấn đề. Bảo vệ hiệu quả SHTT là chìa khoá duy trì mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy các DN đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ.

Thực tế, hầu hết các DN hiện nay ít quan tâm đến đầu tư phát triển công nghệ. Theo bà Phạm Chi Lan – Chuyên gia kinh tế, các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại VN gần như hoàn toàn không hề đầu tư phát triển công nghệ. Rất nhiều DN trong nước có tiềm năng đầu tư cũng chẳng mấy mặn mà. Cũng theo bà Lan, các DN vừa và nhỏ của VN vẫn hoàn toàn có khả năng đầu tư phát triển công nghệ. Cụ thể, các DN có thể hợp tác với các viện nghiên cứu, ký kết với các nhà khoa học đặt hàng…

Continue reading

SUY NGẪM 37

littlehands2 Theo GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, chỉ có 10% nhu cầu nhà ở cao cấp còn nhu cầu nhà ở bình dân 90% (PLTPHCM –22/4/2009). Điều đó cho thấy, chính sách về nhà ở xã hội là đúng đắn và kịp thời.

Tuy nhiên, nhu cầu nhà ở là quá lớn trong khi khả năng đáp ứng thì quá nhỏ. Nghịch lý cung cầu, tất yếu sẽ làm phát sinh cơ chế “xin – cho” (cơ chế điển hình của nền quản lý hành chính quan liêu, bao cấp).

Giá trị xây dựng của mỗi căn nhà xã hội là thấp để phù hợp với khả năng của người nghèo, nhưng liệu nó có đồng nghĩa giá trị kinh tế? Những đầu nậu và những kẻ cơ hội họ sẽ nhìn vào giá trị nào?

Nhiều lo ngại phát sinh. Nhưng ông PGĐ Sở xây dựng Hà Nội cho rằng:Không thể có chuyện người đi ôtô, cuộc sống sung túc mà ở nhà xã hội. Tôi tin, người giàu sẽ thấy xấu hổ khi đến ở tại đây"(VnExpress – 13/4/2009).

Phát biểu nặng cảm tính này, gần đồng nghĩa với phát biểu của ông Cục trưởng Cục Pháp chế Bộ Văn hóa – Thông tin và Du lịch về việc cấm khiêu vũ trong phòng Karaoke là để hạn chế sử dụng thuốc lắc và những biến tướng của tệ nạn xã hội? (tuanvietnam.net).

Trên thực tế, nhiều người giàu lên vì họ không biết xấu hổ!

CIVILLAWINFOR