LUẬT TỤC CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN VỚI QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

TS. VÕ QUANG TRỌNG – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian

1- Luật tục của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên với nhiều tên gọi khác nhau như Phạtkđi hay Biđuê của người Ê Đê, Phạtkđuôi của người M Nông, Tơlơidjuat hay Tơlơiphian của người Gia Rai, Ađatmuca của người Ra Glai, Dâytơrônkđi của người Mạ, Nri của người S Rê… được coi là sự biểu hiện thái độ ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và cộng đồng xã hội. Bên cạnh mặt hạn chế, nhìn chung các bộ luật trên trong một chừng mực nhất định, vẫn phát huy tác dụng tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Luật tục đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau trong đời sống tộc người từ môi trường tự nhiên, quan hệ sản xuất và sở hữu, tổ chức và các quan hệ xã hội, phong tục tập quán, hôn nhân và gia đình…

2- Trước hết phải thấy rằng, xã hội truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M Nông, Gia Rai… là xã hội mẫu hệ. Dòng họ mẹ thống trị mọi mặt trong đời sống xã hội như quyền thừa kế tài sản, hôn nhân và gia đình. Do vậy, luật tục là công cụ hữu hiệu để bảo vệ xã hội mẫu hệ, khẳng định vai trò của dòng họ nữ, khẳng định vị trí to lớn của người phụ nữ trong xã hội.

Trong luật tục Ê Đê, mọi của cải trong gia đình do người phụ nữ quản lý, giữ gìn cho tổ tiên dòng họ. Luật tục nói rõ : "Dù là cái chén sứ con, cái bát đồng nhỏ hay những đồ lặt vặt cũng không được cả gan đem bán đi để ăn mà phải mãi mãi cất giữ.

Từ những cái gùi Gia Rai (có nắp đậy) đến những cái sọt, cái túi, cái nải và những đồ lặt vặt, người chị cả đại diện cho người mẹ là người có nhiệm vụ chăm nom, giữ gìn.

Tất cả những cái bát vỏ bầu, cái thúng đựng tro, cái hòn để mài, các cái trã để luộc rau, người chị cả là người phải bảo quản.

Các ché tuk đỏ, các ché êbak Mnông, các vòng đeo tay, các chén bát đẹp bằng bạc bằng vàng là những của cải quý giá do tổ tiên xưa kia giàu có để lại, chính người chị cả là người phải giữ gìn" (1).

Tài sản trong gia đình đều thuộc về quyền quản lý của người mẹ hay người đại diện cho mẹ là chị cả. Việc thừa kế tài sản chỉ thực hiện theo dòng họ nữ. Khi vợ chết, mọi của cải và cả con cái đều thuộc về phía gia đình vợ (dì, bà ngoại) quản lý, còn người chồng phải trở về sinh sống với cha mẹ mình mà không được mang theo tài sản và con cái. Trong trường hợp người chồng được gia đình bên vợ cho nối dây (lấy em vợ) thì cùng với vợ tiếp tục quản lý con cái và tài sản đó.

Công việc quản lý và phân chia tài sản được tiến hành như sau : nếu gia đình có nhiều chị em sống chung với nhau, thì số tài sản, của cải đó do người con gái lớn nhất quản lý. Trường hợp có người đi lấy chồng và ra ở riêng thì mới phân chia cho họ một phần. Các anh em trai đều không được chia phần trong số tài sản đó. Nếu không có các con gái thì các con trai về ở với bà ngoại hoặc các dì và số tài sản do mẹ để lại thuộc về bà hoặc các dì.

Như vậy, luật tục Ê Đê về thừa kế tài sản có phần ưu ái với phụ nữ mà không bình đẳng giữa chồng và vợ, giữa trai và gái, gia đình chồng và gia đình vợ. Quy định này không phù hợp với pháp luật dân sự hiện hành.

Continue reading

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ BẢO VỆ NGƯỜI BIỂU DIỄN, NHÀ SẢN XUẤT GHI ÂM, TỔ CHỨC PHÁT SÓNG – CÔNG ƯỚC ROME 1961

Các nước ký kết, với mong muốn bảo hộ quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, và các tổ chức phát sóng, đã nhất trí như sau:

Điều 1 [ Bảo đảm sở hữu cá nhân quyền tác giả ]

Sự bảo hộ theo Công ước này là thống nhất và không hề ảnh hưởng đến sự bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật. Do vậy, không ai được phép giải thích bất kỳ điều khoản nào của Công ước này theo cách làm phương hại tới sự bảo hộ đó.

Điều 2 [ Sự bảo hộ theo Công ước. Định nghĩa thế nào là đối xử quốc gia]

1. Theo mục đích của Công ước này, đối xử quốc gia được hiểu là sự đối xử theo luật quốc gia của Nước ký kết  nơi công bố bảo hộ:

a) những người biểu diễn là công dân của nước đó, đối với các buổi biểu diễn được thực hiện, phát sóng hoặc định hình lần đầu trên lãnh thổ nước đó;

b) những nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của nước đó, đối với các bản ghi âm được định hình lần đầu hay công bố lần đầu trên lãnh thổ nước đó;

c) tổ chức phát sóng có trụ sở tại lãnh thổ nước đó, đối với các buổi phát sóng được truyền từ các đài phát đặt tại lãnh thổ nước đó.

2. Đối xử quốc gia phải tuân thủ sự bảo hộ đã được bảo đảm một cách cụ thể, tuân thủ các điều hạn chế quy định cụ thể trong Công ước này.

Điều 3 [ Định nghĩa: (a) người biểu diễn; (b) bản ghi âm; (c) nhà sản xuất bản ghi âm; (d) công bố; (e) sao chép; (f) phát sóng; (g) tái phát sóng]

Theo mục đích của Công ước này:

a) “người biểu diễn” là các diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác đóng vai diễn, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc thể hiện các tác phẩm

văn học và nghệ thuật;

b) “bản ghi âm” là bất kỳ một bản định hình thuần túy về âm thanh của các âm thanh của buổi biểu diễn hoặc của các âm thanh khác;

c) “nhà sản xuất bản ghi âm” là một cá nhân hoặc pháp nhân đầu tiên định hình âm thanh của buổi biểu diễn hoặc của các âm thanh khác;

d) “công bố” là cung cấp các bản sao của một bản ghi âm tới công chúng với số lượng hợp lý;

e) “sao chép” là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của một bản ghi âm;

f) “phát sóng” là việc truyền bằng phương tiện vô tuyến những âm thanh hoặc những  hình ảnh và âm thanh để công chúng thu.

g) “tái phát sóng” là sự phát sóng đồng thời bởi một tổ chức phát sóng một buổi phát sóng của một tổ chức phát sóng khác.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: TÒA BỎ QUÊN TÀI SẢN TRÊN ĐẤT

VĂN ĐOÀN

Từ thiếu sót của tòa phúc thẩm, cơ quan thi hành án tỉnh không có cơ sở để kê biên, định giá tài sản. Tháng 1-2009, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H. và bà B. cùng ngụ tại TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Chủ đất thua kiện

Tại tòa, bà H. khai đầu năm 2007, bà B. đã viết giấy tay nhận của bà 150 triệu đồng tiền đặt cọc mua hai lô đất ở xã Long Phước, thị xã Bà Rịa với giá 450 triệu đồng. Theo thỏa thuận, bên bán chịu trách nhiệm sang tên, bên mua chịu chi phí sang tên. Từ tháng 3 đến tháng 8-2007, bà B. viết giấy tay nhận thêm của bà H. gần 200 triệu đồng. Tháng 9-2007, do bà B. không làm thủ tục sang tên như đã cam kết, bà H. đã kiện bà B. ra TAND thị xã Bà Rịa.

Đáng nói là trong khi tòa đang thụ lý vụ án thì bà B. đã bán hai lô đất trên cho hai người khác và hai người này đã được cấp “giấy đỏ”. Do vậy, bà H. đã yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà B. với hai người mua, đồng thời yêu cầu bà B. tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất với mình. Nếu không đồng ý, bà B. phải trả lại cho bà toàn bộ số tiền cọc và tiền lãi hàng tháng theo quy định.

Phía bà B. không chấp nhận yêu cầu này với lý do bà không chuyển nhượng đất cho bà H. mà chỉ cầm giấy tờ nhà đất để vay tiền. Vì không có khả năng trả nợ nên bà H. đã ép bà ký giấy nhận cọc bán hai lô đất trên.

Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà B. và bà H., buộc bà B. trả lại cho bà H. gần 500 triệu đồng (gồm có tiền đặt cọc và tiền lãi), hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà B. với hai người mua đất. Tòa này cũng kiến nghị UBND thị xã Bà Rịa thu hồi hai “giấy đỏ” đã cấp cho hai người mua đất, phục hồi cho bà B. quyền sử dụng gần 6.000 m2 đất. Hai người mua đất được quyền khởi kiện bà B. bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

Chưa thể thi hành án

Đầu tháng 3-2009, do bà B. không tự nguyện thi hành án (THA) nên THA thị xã Bà Rịa đã ra quyết định kê biên hai lô đất của bà B. Thế nhưng đến khi THA thị xã lên kế hoạch cưỡng chế đối với bà B. thì một người mua đất đã gửi đơn xin hoãn THA.

Continue reading

KINH NGHIỆM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦA THẾ GIỚI: GIẢI PHÁP PHẢI ĐỒNG BỘ

VĂN TẠO

Lạm phát là sự tăng giá liên tục của hàng hoá, vật tư, dịch vụ hoặc là việc đồng tiền nội tệ bị giảm giá. Lạm phát ở mức dưới 5% có tác dụng động viên các nguồn lực trong xã hội, giúp tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỷ lệ này vượt quá 5% sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế, tác động xấu đến đời sống dân cư. Mức tăng giá tiêu dùng của Việt Nam hiện nay đang ở mức cao, nhiều giải pháp đã được đưa ra và đã phần nào phát huy tác dụng. Tuy nhiên, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong cuộc chiến với lạm phát trong thời điểm hiện nay cũng không phải là việc không nên.

Cải cách Ngân hàng trung ương

Những năm 90 của thế kỷ trước, lạm phát ở các nước Mỹ La tinh lên tới 500%, Achentina, Brazil và Peru là những nền kinh tế lớn nhất khu vực, lạm phát còn tăng lên đến 4 con số. Trước tình hình đó, Chính phủ các quốc gia này đã có nhiều cải cách sâu rộng, đặc biệt là việc cải cách Ngân hàng Trung ương (NHTW).

Năm 1989, Chi lê là nước đầu tiên và tiếp đến các nước Châu Mỹ La tinh khác đã thông qua luật tăng cường quyền tự chủ cho NHTW để nâng cao trách nhiệm của tổ chức này. Cuộc cải cách nhằm thực hiện 4 mục tiêu theo mức độ ưu tiên khác nhau tuỳ từng quốc gia: (1) Sự uỷ nhiệm rõ ràng trong việc theo đuổi ổn định giá cả hơn là tăng trưởng kinh tế (trước đó ưu tiên mục tiêu tăng trưởng); (2) độc lập về mặt chính trị trong việc xây dựng chính sách tiền tệ, tách rời hoạch định chính sách với quá trình bầu cử cơ quan lập pháp hoặc hành pháp; (3) độc lập trong hoạt động quản lý và điều hành chính sách tiền tệ từ việc thiết lập lãi suất đến việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ khác mà không có sự can thiệp của Chính phủ; (4) tính trách nhiệm trong việc đạt đến mức lạm phát mục tiêu.

Hầu hết các quốc gia trên đều thực hiện thêm chính sách thay đổi chế độ tỷ giá. Với việc neo chặt tỷ giá hối đoái trong hơn 10 năm, tình hình lạm phát của họ đã được cải thiện rõ rệt, tăng trưởng kinh tế được khôi phục.

Thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

Theo các nhà kinh tế học Thomas Laubach, Rick Mickin và Adam Poxen, chính sách lạm phát mục tiêu (CSLPMT) được hiểu là một nền tảng cơ sở cho chính sách tiền tệ, được đặc trưng bởi việc NHTW công bố với công chúng một mục tiêu định lượng chính thức (thường là một khung phạm vi hơn là một giá trị cụ thể) cho tỷ lệ lạm phát trong một hoặc vài thời kỳ, dựa trên quan điểm ổn định giá cả là mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ trong dài hạn. Một trong những đặc trưng về quan điểm có tác động mạnh là công khai với công chúng về những kế hoạch, mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách và trong nhiều trường hợp là cả về cơ chế truyền tải trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của NHTW trong việc theo đuổi mục tiêu”.

Lạm phát mục tiêu thực chất là một kiểu chính sách tiền tệ được cụ thể và lượng hoá; để thực thi chính sách này đòi hỏi NHTW phải được quyền định đoạt các công cụ chính sách tiền tệ trước các tình huống kinh tế và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị.

Thực thi CSLPMT là một chiến lược quan trọng để các chính sách của NHTW trở nên công khai, minh bạch, dễ dự đoán hơn, giúp cho lạm phát giảm xuống, giảm lãi suất cho vay, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ tính ưu việt này nên nhiều nước đã áp dụng khá thành công CSLPMT để kiềm chế lạm phát.

Continue reading

ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRẦN ĐỨC LƯƠNG  – Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Một nền tư pháp kiểu mới – nền tư pháp nhân dân đã từng bước được thiết lập. Gần 60 năm qua, các cơ quan tư pháp đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó, đã đóng góp không nhỏ vào thắng lợi chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh phạm vi nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phù hợp. Nguyên tắc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải được đề cao hơn bao giờ hết. Trong cải cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng. Bởi vì, các cơ quan tư pháp là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội. Từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, thực hiện chủ trương cải cách bộ máy nhà nước, các cơ quan tư pháp đã tham gia tích cực và chủ động vào việc soạn thảo văn bản pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân. Trong những năm qua, các cơ quan tư pháp đã luôn luôn đứng ở tuyến đầu của nhiệm vụ bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và các vi phạm pháp luật, giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật các tranh chấp nảy sinh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế, phát huy tính chủ động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình đổi mới. Có thể nói, quyền lực tư pháp đã được thực hiện có hiệu quả với sự đóng góp lớn lao của toàn bộ hệ thống tư pháp.

Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta luôn đề cao các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện pháp luật. Để hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về vấn đề này như : Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII). Có thể nói, các Nghị quyết nói trên của Đảng đã từng bước đi vào cuộc sống. Tuy kết quả bước đầu của cải cách tư pháp còn khiêm tốn, nhưng đó là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng để tiến hành những bước cải cách tiếp theo. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội những năm tới. Trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2001 – 2005, bên cạnh những nhiệm vụ kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ là nhiệm vụ "giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia" (1), vai trò của các cơ quan tư pháp cần được củng cố và tăng cường. Đại hội cũng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Nói một cách khái quát, nhà nước pháp quyền là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và quản lý theo pháp luật và đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của con người, quyền công dân. Căn cứ vào những đặc trưng đó của Nhà nước pháp quyền, có thể thấy nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay là phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh. Do đó yêu cầu "cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp" (2) là một trong những đòi hỏi bức xúc hiện nay, là một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Continue reading

NGHỀ LUẬT SƯ TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ THỜI KỲ HỘI NHẬP: ĐỂ VƯƠN XA CẦN MỘT ĐIỂM TỰA VỮNG CHẮC

HUY ANH – QUỲNH LƯU

Nghề LS là một hoạt động bổ trợ tư pháp, có vị trí quan trọng đặc biệt trong Nhà nước pháp quyền, đặc biệt trong điều kiện thực hiện cải cách tư pháp, đổi mới và hội nhập quốc tế như ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở những quy định ngày càng thông thoáng hơn của pháp luật về LS cộng với sự nỗ lực, giới LS Việt Nam đã có nhiều điều kiện “vẫy vùng” để cung cấp các dịch vụ pháp lý hết sức đa dạng, đáp ứng yêu cầu xã hội.

LS tham gia tố tụng  – tăng tính khách quan

Tham gia tố tụng là lĩnh vực hành nghề chủ yếu của các LS hiện nay. Trong thời gian qua, các LS đã tham gia vào việc giải quyết hàng trăm nghìn vụ án. Nhờ thế, vai trò của LS trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển về chất. Đặc biệt sau khi có Nghị Quyết số 08/NQ-TW (ngày 02/01/2002) của Bộ chính trị, vai trò của LS trong quá trình tham gia tố tụng đã được nâng lên một bước. Hoạt động tham gia tố tụng của LS đã góp phần quan trọng thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà, một trong những yêu cầu trọng tâm của cải cách tư pháp, góp phần cải thiện một bước chất lượng hoạt động tố tụng, làm tăng thêm tính dân chủ, công bằng, khách quan của các phiên toà.

Có thể nói, những năm qua, đặc biệt từ giai đoạn chúng ta thực hiện công cuộc cải cách tư pháp thì đội ngũ LS Việt Nam đã làm rất tốt “sứ mệnh” người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho công dân, bảo vệ công lý của mình. Các LS không chỉ bảo vệ được quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho thân chủ mà còn giúp các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án một cách minh bạch, khách quan; góp phần bảo vệ pháp chế.

Cũng vì thế, khi tham gia tranh tụng ý kiến của các LS ngày càng được các cơ quan tố tụng lưu tâm và tôn trọng, vị thế của LS trong các phiên toà ngày càng được nâng cao, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho LS tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được thì hoạt động tham gia tố tụng của LS còn những hạn chế, cần phải phấn đấu khắc phục.Mặc dù công cuộc cải cách tư pháp đang được tiến hành khẩn trương, nhưng ước tính hàng năm có tới 90% số vụ án do TAND các cấp giải quyết không có LS tham gia. Nguyên nhân có thể là phần lớn hoạt động tranh tụng của các LS Việt Nam mới chỉ “bó hẹp” trong các phiên toà hình sự và một số vụ án dân sự, hôn nhân gia đình; rất ít LS tham gia các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài cũng như các vụ tranh chấp kinh doanh thương mại mà cá nhân, tổ chức là người nước ngoài…

Continue reading

ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO CAM KẾT WTO: TRÔNG NGƯỜI LẠI NGHĨ ĐẾN TA!

NGUYỄN QUÁN

Thực hiện các cam kết WTO, Việt Nam đã đi được nửa chặng đường, nhưng trong quá trình thực hiện, chúng ta sử dụng công cụ hành chính, ban hành những quyết định áp đặt đối với đại hội đồng cổ đông, can thiệp “nóng” vào quyết định kinh doanh… đang là những biểu hiện không phù hợp với cam kết gia nhập WTO của cơ quan quản lý tại các doanh nghiệp nhà nước. Do đó, tham khảo và học tập những kinh nghiệm của Trung Quốc trong điều chỉnh hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) theo cam kết WTO là điều bổ ích đối với Việt Nam. Dựa trên những thông tin tại buổi Hội thảo về vấn đề này do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương tổ chức, tác giả xin trình bày một số nội chính được bàn luận tại Hội thảo.

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Năm 2001, Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Giống như các thành viên mới của WTO, Trung Quốc phải cam kết về điều chỉnh chính sách kinh tế, chính sách thương mại hàng hoá, chính sách thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, chính sách thương mại dịch vụ, minh bạch hoá, tham gia và thực thi các hiệp định thương mại quốc tế,…

Về DNNN, Trung Quốc cam kết: Chính phủ sẽ không điều hành trực tiếp các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) và các hoạt động của DN về sản xuất, cung ứng, tiêu thụ và marketing. Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp về sản xuất hàng hoá gì, sản xuất bao nhiêu và giá cả hàng hoá của DN do DN và thị trường quyết định. Các DN đều bình đẳng để cạnh tranh trong mua và bán, trong sản xuất kinh doanh và không coi việc mua sắm của DN là mua sắm của chính phủ;…

Các biện pháp điều chỉnh chủ yếu của Trung Quốc gồm có: Thay đổi cơ cấu sở hữu DNNN (cổ phần hoá, tư nhân hoá, đa dạng hoá sở hữu DNNN; Cải cách các khung khổ hoạt động DNNN nhằm đặt DNNN phải đối mặt với cạnh tranh thị trường; Cải cách quản trị DNNN (ưu tiên theo nguyên tắc của OECD- Tổ chức kinh tế các nước phát triển) nhằm đảm bảo cho sự can thiệp của chủ sở hữu (CSH) nhà nước cũng như mô hình tổ chức quản lý theo thông lệ quốc tế và không trái nguyên tắc kinh tế thị trường; Cơ cấu lại DNNN qua sát nhập, giải thể, phá sản… Nhờ đó mà chỉ trong một thời gian ngắn, số lượng DNNN ở Trung Quốc đã giảm mạnh. Năm 2000 (trước khi gia nhập WTO một năm), Trung Quốc có 190.000 DNNN, tháng 4/2003 còn 196 DNNN, đến nay còn 159 DNNN và đến năm 2010 sẽ còn 80-100 DNNN.

Từ năm 2006, Chính phủ Trung Quốc công bố danh mục các DNNN, Nhà nước cần nắm giữ toàn bộ hoặc chi phối, đó là các DN phát và phân phối điện, dầu khí và hoá dầu, bưu chính và vũ khí; Trung Quốc cũng khẳng định sẽ kiểm soát lợi ích của mình ở các DNNN thuộc lĩnh vực khai thác than, hàng không, công nghiệp tàu thuỷ…

Continue reading

NGƯỜI TÌM CHA CHO CÁC CON CỦA MÌNH

Đ.H.CH

Khi biết mình không thể có con, cha tôi đã khuyên mẹ tôi nên có những đứa con do chính mình sinh ra, không nên nhận con nuôi. Và rồi mẹ tôi đã không thắng nổi bản năng của một người mẹ khi mà bố mẹ tôi vẫn rất yêu nhau và mẹ tôi đã khóc cạn khô nước mắt.

Tôi là con trai út trong gia đình. Trên tôi là một người chị gái. Cả hai chị em tôi đã trưởng thành và đã lập gia đình riêng. Năm năm trước, mẹ tôi mắc bệnh nan y và đã qua đời. Sau ba năm đoạn tang mẹ tôi và đúng vào ngày giỗ lần thứ ba của mẹ tôi, cha tôi đã gọi hai chị em tôi đến và bảo chúng tôi bình tĩnh để nghe ông nói một sự thật về gia đình chúng tôi. Sự thật đó là: cả hai chị em tôi đều không phải con đẻ của ông.

Cả hai chị em tôi bàng hoàng. Trong cuộc đời của mình, tôi gặp không ít những chuyện buồn phiền và bất ngờ, nhưng chưa có câu chuyện nào làm chúng tôi bàng hoàng đến như thế. Chờ chúng tôi trấn tĩnh, cha tôi trầm tĩnh kể cho nghe câu chuyện ấy. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không làm sao quên được và cũng không thể hiểu hết được vì sao cha tôi lại kể câu chuyện ấy một cách thanh thản và xúc động đến như vậy. Sau này, hai chị em tôi vẫn thường nói với nhau: phải vô cùng thương yêu mẹ tôi, thương yêu chúng tôi và nhân ái đến nhường nào với cuộc đời thì cha tôi mới có được tình cảm và thái độ như vậy đối với câu chuyện mà hầu hết mọi người rơi vào hoàn cảnh đó sẽ không làm như thế được.

Cha mẹ tôi lấy nhau thật hạnh phúc. Nhưng sau hai năm, mẹ tôi vẫn không có dấu hiệu của việc sinh đẻ. Mẹ tôi đi khám, bác sỹ khẳng định mẹ tôi không có vấn đề gì ảnh hưởng đến chuyện sinh đẻ của bà. Chính thế mà cha tôi tự động đi khám bác sỹ và cha tôi được các bác sỹ cho biết, chính cha tôi là người không có khả năng có con. Cha tôi vô cùng buồn bã trong một thời gian dài. Mẹ tôi động viên cha tôi và nói rằng sẽ tìm một đứa con nuôi. Nhưng thật bất ngờ khi cha tôi nói rằng việc sinh con, mẹ tôi vẫn có thể làm được. Mẹ tôi đã khóc và nói đừng nghi ngờ tình cảm của mẹ tôi đối với cha tôi. Nhưng cha tôi đã nói một cách nghiêm túc về chuyện sinh con của mẹ tôi. Cha tôi đã cố gắng cho mẹ tôi hiểu rằng, việc mẹ tôi sinh ra những đứa con là một việc quan trọng mà không ảnh hưởng gì đến tình cảm giữa hai người. Mẹ tôi đã chối từ làm điều ấy mặc dù rất khát khao có một đứa con do chính mình đẻ ra. Cũng từ đó mẹ tôi thường nằm mơ về trẻ con và thỉnh thoảng hát ru. Những điều đó bố tôi đều biết.

Nhưng cuối cùng mọi chuyện vẫn xảy ra như định mệnh mà mẹ tôi không làm sao chống lại được. Mẹ tôi có thai chị tôi. Khi biết mình có thai, mẹ tôi đã quỳ xuống lạy cha tôi mong ông tha thứ và xin được trở về nhà mẹ đẻ. Nhưng cha tôi đã lấy tình yêu thương và sự hy sinh vì ước muốn của mẹ tôi mà an ủi và che chở mẹ tôi. Tất cả những gì cha tôi dành cho mẹ tôi trong những ngày tháng đó làm cho mẹ tôi hoàn toàn tin tưởng vào tình cảm chân thành của cha tôi. Rồi hai năm sau, mẹ tôi lại sinh ra tôi. Dù đã cố gắng hiểu với cả trí tưởng tượng của mình, tôi cũng không làm sao hiểu được cha tôi đã sống như thế nào để mẹ tôi không thấy mặc cảm về chuyện sinh hai đứa con với những người đàn ông khác mà không phải với cha tôi. Từ lúc chúng tôi ra đời cho đến nay đã hơn 40 năm, chúng tôi luôn luôn sống hạnh phúc vì tình thương yêu của cha tôi. Có thể lòng tôi còn hẹp hòi nên tôi không thể hiểu được một người đàn ông đã yêu thương và nhân ái với một người đàn bà cùng những đứa con, khi bố đẻ ra chúng không phải là mình.

Cho đến lúc này ngồi viết những dòng thư gửi cho Tòa soạn, chị em tôi cũng không tìm được đầy đủ lý do để hiểu được tấm lòng của cha tôi. Sau khi đoạn tang mẹ, cha tôi đã nói ra sự thật nguồn gốc của chúng tôi. Mẹ tôi đã có hai chị em tôi với hai người đàn ông khác nhau. Cha tôi nói cha tôi phải đi tìm hai người bố đẻ cho hai chị em tôi. Chị em tôi đã khóc lạy cha tôi đừng làm điều đó. Chúng tôi không còn nghĩ đến ai ngoài cha chúng tôi nữa. Cha chúng tôi là người cha nhân ái nhất trên cuộc đời mà chúng tôi đã may mắn có được.

Mặc dù chúng tôi đã van xin cha chúng tôi nhiều lần, nhưng ông vẫn quyết tâm tìm những người cha đẻ của hai chị em chúng tôi. Cha tôi nói, cho đến khi mẹ chúng tôi mất, cha tôi cũng không biết được ai là cha đẻ của chúng tôi. Khi chúng tôi đã lập gia đình riêng, cha tôi thường xuyên hỏi mẹ tôi về cha đẻ của chị em tôi. Nhưng mẹ tôi cương quyết không tiết lộ và chỉ nói rằng: mặc dù cha tôi đã hiểu và vô cùng nhân ái với ba mẹ con nhưng mẹ tôi cũng không bao giờ nói ra những người cha đẻ ấy. Mẹ tôi rất dằn vặt bản thân vì lý do mẹ tôi có con với những người đàn ông khác khi mẹ tôi vẫn sống cùng cha tôi.

Nhiều đêm mẹ tôi thường hoảng hốt như người bị bệnh tâm thần khi nghĩ đến chuyện ấy. Cha tôi đã làm tất cả để mẹ tôi được thanh thản và hiểu rằng chính cha tôi là người mong ước mẹ tôi sinh ra những đứa con và chính ông đã tìm mọi cách động viên, lý giải mẹ tôi để mẹ tôi làm việc đó. Nhưng mẹ tôi đã không bao giờ tha thứ cho mình. Mẹ tôi thường xuyên đau khổ và nói là mẹ tôi bị ma quỷ ám.

Có thời gian sau khi sinh chúng tôi, mẹ tôi rơi vào trạng thái của người mắc bệnh tâm thần. Cha tôi lại chăm sóc, an ủi và động viên mẹ tôi. Cũng đã nhiều lần mẹ tôi hỏi cha tôi rằng cha tôi là ai(?). Mẹ tôi không hiểu được cha tôi là ai và bây giờ chính chị em tôi cũng không hiểu cha tôi là ai. Nếu chỉ nói những gì cha tôi làm cho mẹ con chúng tôi vì lòng nhân ái và tình thương yêu lớn thì tôi thấy vẫn chưa đủ. Phải có một điều gì kỳ lạ mới có thể giúp cha tôi làm được những điều lạ lùng như thế.

Mấy năm nay, cha tôi vẫn lặng lẽ đi tìm những người cha đẻ của chị em tôi. Chúng tôi vẫn van xin cha tôi đừng làm như thế vì trong máu thịt chúng tôi chỉ có cha tôi là người cha duy nhất. Chúng tôi đã quá hạnh phúc vì một người cha như thế và chưa một giây nào chúng tôi nghĩ phải đi tìm những người cha đẻ của chúng tôi. Nhưng cha tôi đã nghiêm khắc nói với chúng tôi là con người phải biết được nguồn gốc của mình.

Cha tôi nhớ lại những người quen cũ của mẹ chúng tôi và cha tôi cứ thế lần hỏi. Cha tôi đã gặp vài ba người đàn ông có quen thân với mẹ tôi hồi đó và hỏi họ. Nhưng chưa một người đàn ông nào nhận rằng họ là cha đẻ của chị em tôi. Cha tôi đã tìm mọi cách nói cho những người đàn ông mà cha tôi hy vọng họ là cha đẻ của chị em tôi về sự cần thiết như thế nào đối với chị em tôi khi họ biết được nguồn gốc của họ. Cứ thế, hết tháng này đến tháng khác, cha tôi bền bỉ đi tìm những người cha đẻ cho chị em tôi. Chúng tôi không bao giờ có một chút băn khoăn về những gì cha tôi làm cho chúng tôi. Nhưng sao chúng tôi vẫn cứ phải tự hỏi mình rằng cha tôi là ai mà làm được những điều như thế. Chẳng lẽ cha tôi là một Vị Thánh?

SOURCE: CHUYÊN MỤC “CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT” BÁO AN NINH THẾ GIỚI CUỐI THÁNG

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/chuyenkhotin/2006/3/50795.cand

HIỆP ƯỚC QUYỀN TÁC GIẢ WIPO (WCT) 1996

Tóm tắt nội dung

Phần mở đầu

Điều 1:             Liên quan đến Công ước Berne

Điều 2:             Phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Điều 3:             Áp dụng Điều 2 đến Điều 6 của Công ước Berne

Điều 4:             Chương trình máy tính

Điều 5:             Sưu tập dữ liệu (Cơ sở dữ liệu)

Điều 6:             Quyền phân phối

Điều 7:             Quyền cho thuê

Điều 8:             Quyền truyền đạt tới công chúng

Điều 9:             Thời hạn bảo hộ tác phẩm nhiếp ảnh

Điều 10:           Hạn chế và ngoại lệ

Điều 11:           Các nghĩa vụ về biện pháp công nghệ

Điều 12:           Các nghĩa vụ về đến thông tin quản lý quyền

Đều 13:            áp dụng vào thời điểm bắt đầu có hiệu lực

Điều 14:           Các quy định về thực thi quyền

Điều 15:           Hội đồng

Điều 16:           Văn phòng quốc tế (Trụ sở quốc tế)

Điều 17:           Điều kiện để trở thành Bên tham gia Hiệp ước

Điều 18:           Các quyền và nghĩa vụ theo Hiệp ước

Điều 19:           Việc ký Hiệp ước

Điều 20:           Bắt đầu có hiệu lực của Hiệp ước

Điều 21:           Ngày trở thành Bên tham gia Hiệp ước

Điều 22:           Không có bảo lưu đối với Hiệp ước

Điều 23:           Rút khỏi Hiệp ước

Điều 24:           Ngôn ngữ của Hiệp ước

Điều 25:           Lưu giữ

Phần mở đầu

Các Bên Ký kết,

Mong muốn duy trì và phát triển sự bảo hộ các quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật một cách có hiệu quả và đồng bộ nhất,

Thừa nhận sự cần thiết đưa ra những quy định quốc tế mới và xác định rõ nội dung của các quy định hiện có nhằm đặt ra các giải pháp thoả đáng cho các vấn đề nảy sinh do sự phát triển mới về nền kinh tế, xã hội, văn hoá và công nghệ,

Thừa nhận ảnh hưởng sâu rộng của sự phát triển và thành tựu của công nghệ tin học và truyền thông đối với việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học và nghệ thuật,

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền tác giả như là sự khích lệ công việc sáng tạo ra tác phẩm văn học và nghệ thuật,

Thừa nhận sự cần thiết duy trì cân bằng giữa quyền của tác giả và lợi ích của công chúng, đặc biệt trong giáo dục, nghiên cứu và tiếp cận thông tin, như được nêu trong Công ước Berne,

Đã thoả thuận như sau:

Continue reading