THỦ TỤC ĐẦU TƯ – CẦN MỘT CUỘC “ĐẠI PHẪU”

LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPLawyers)

Nhìn lại các quy định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2006 mới thấy đã và đang có những lúng túng từ phía cơ quan quản lý nhà nước dẫn đến những khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp.

Từ định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Hiện nay, việc xác định chính thức thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNĐTNN) vẫn đang tồn tại những cách hiểu, giải thích không thống nhất khiến cho việc áp dụng các quy định liên quan trở nên phức tạp và không đồng nhất tại các bộ, ngành, hay từng địa phương.

Theo điều 3.6 Luật Đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định gồm (1) doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc (2) doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như vậy doanh nghiệp chỉ cần có một tỷ lệ rất nhỏ vốn đầu tư nước ngoài dù trực tiếp hay mua lại cổ phần cũng đều xem là DNĐTNN.

Cũng theo Luật Đầu tư, đã là “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD)”.

Rõ ràng quy định này bất hợp lý ngay từ tên gọi bởi bản chất pháp lý của GCNĐKKD xác lập tư cách và địa vị pháp lý của một doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh đồng thời với việc xác lập tính hợp pháp của các hành vi kinh doanh cụ thể. Chính vì thế, trên thực tế, quy định này đã không được thực thi thống nhất và đầy đủ.

Đến nghị định khác luật

Điều 9 Nghị định 139/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đã phân định tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh. Cùng là nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư tại Việt Nam sẽ thực hiện các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư khác nhau, tùy theo tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ.

Theo đó, trường hợp doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trên 49% vốn điều lệ thì phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đăng ký (hoặc thẩm tra) đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.

Trường hợp doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định Đăng ký kinh doanh của Luật Doanh nghiệp và việc đăng ký đầu tư (của các DNĐTNN) trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước. Tất nhiên là khó có thể áp dụng quy định tương ứng với dự án đầu tư trong nước bởi những điều kiện chắc chắn có khác biệt.

Continue reading

QUYỀN LỰC VÀ ĐẠO ĐỨC

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Theo "Từ điển tiếng Việt", quyền lực được hiểu là "quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy"… Còn theo "Từ điển từ và ngữ Hán – Việt" của Giáo sư Nguyễn Lân thì quyền lực được hiểu "sức mạnh của quyền lực được giao để bắt buộc người khác phải theo (ví dụ: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước). Còn quyền uy – cũng theo Nguyễn Lân – là quyền lực và uy thế.
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, đối với chính đảng của mình và đối với chính đảng và các giai cấp khác…. Những khái niệm về thiện và ác, về lương tâm và danh dự, nghĩa vụ và quyền lợi, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… là những phạm trù thuộc ý thức đạo đức. Đạo đức mang tính giai cấp. Đạo đức chiếm vị trí chi phối, giữ địa vị thống trị đạo đức xã hội là đạo đức của giai cấp cầm quyền.
Như vậy, quyền lực, quyền uy, đạo đức trong xã hội có giai cấp, trong điều kiện đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức đúng điều này sẽ góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, chống suy thoái về đạo đức.

Không nhận thức đúng về quyền lực sẽ dẫn tới suy thoái đạo đức

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến tận cuối đời, Bác Hồ luôn trăn trở với sứ mệnh cầm quyền của Đảng. Nỗi bận tâm của người sáng lập Đảng là hoàn toàn có cơ sở, vì nước ta là nước dân chủ, nghĩa là dân làm chủ và dân là chủ.
Từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Đảng có quyền lực chính trị lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn diện đất nước, lãnh đạo toàn dân xây dựng xã hội mới. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền lấy dân làm gốc. Quyền lực của Đảng do dân uỷ thác.
Theo Hồ Chí Minh, "Đảng cầm quyền trong một nước dân chủ, thì việc giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi. Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại". Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào.

Gương sáng thì dân soi, gương mờ thì dân quay lại

Về mặt lý luận và thực tiễn, giành chính quyền đã khó, giữ và xây dựng chính quyền còn khó hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chống đế quốc phong kiến là tương đối dễ, thắng nghèo nàn lạc hậu khó khăn hơn nhiều". Chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng (cần hiểu theo tinh thần Hồ Chí Minh là hư hỏng cả tổ chức và con người), để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là một cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nêu việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng. Tại sao như vậy?

Continue reading

BÁO CÁO THẨM TRA SƠ BỘ CỦA ỦY BAN KINH TẾ QUỐC HỘI VỀ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CÁC LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN SỐ 709/BC-UBKT12 NGÀY 15/4/2009

I. Sự cần thiết ban hành Luật

Ủy ban Kinh tế tán thành với việc khẩn trương sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản như: Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, … Việc sửa đổi các luật trên mới giải quyết được tổng thể những vấn đề đang đặt ra: tình trạng yếu kém trong đầu tư xây dựng cơ bản xuất phát từ hệ thống văn bản còn vướng mắc, thủ tục quy định còn phiền hà, nội dung của một số luật và văn bản hướng dẫn thi hành chưa phù hợp với thực tế hoặc không thống nhất.

II. Về phạm vi sửa đổi, bổ sung, tên gọi của Luật và quy trình Quốc hội xem xét, thông qua Dự án Luật

– Về phạm vi sửa đổi: Ủy ban Kinh tế QH đề nghị, trước mắt chỉ nên tập trung sửa đổi, bổ sung những nội dung về quy trình, thủ tục đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị đầu tư trong các luật liên quan trực tiếp đến đầu tư xây dựng cơ bản mà đa số nội dung về quy trình, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản được quy định trong Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu. Nên, cần tập trung sửa đổi, bổ sung 2 luật này và một số quy định trong các luật có liên quan (Vì: Những vấn đề như quản lý và sử dụng đất đai, giá đền bù, bồi thường giải phóng mặt bằng, quy hoạch, phân cấp quản lý đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, quy trình, thủ tục đầu … đang được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản ở các luật liên quan trong thời gian tới; Vấn đề bức xúc nhất hiện nay là tiến độ các dự án sử dụng vốn nhà nước còn rất chậm, số vốn xây dựng cơ bản không giải ngân được phải chuyển sang năm sau rất lớn mà nguyên nhân chính là thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều vướng mắc; Thời gian để Quốc hội xem xét, thông qua Dự luật là rất gấp);

– Về tên gọi của Luật: Ủy ban Kinh tế tán thành với tên gọi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản;

– Về quy trình Quốc hội xem xét thông qua Dự án Luật: Ủy ban Kinh tế thẩy rằng, cần trình Quốc hội xem xét, thông qua Dự án Luật ngay tại kỳ họp thứ 5, vì yêu cầu đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản ngay trong năm 2009 và 2010 để thực hiện các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, các cấp, các ngành góp phần thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế và với phạm vi sửa đổi, bổ sung tập trung vào những vấn đề vướng mắc, bức xúc nhất.

III. Những nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể trong các Luật

1. Về thống nhất các khái niệm, thuật ngữ trong luật

Cần thống nhất các thuật ngữ:

– Báo cáo đầu tư

– Báo cáo nghiên cứu khả thi

– Báo cáo kinh tế – kỹ thuật

– Chủ đầu tư

– Chủ dự án

– Vốn nhà nước

Continue reading

TỔNG KẾT 20 NĂM LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN HỮU THẮNG

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nay là Luật Đầu tư là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tại Việt Nam trong suốt 20 năm qua.

KẾT QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 20 NĂM QUA (Chưa tính kết qủa đầu tư năm 2008 hơn 64 tỷ đô la – Civillawinfor)

Tình hình cấp phép chung: Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD.

Tình hình tăng vốn đầu tư chung: Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động đã mở rộng quy mô sản xuất, tăng vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có trên 4.000 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 19,2% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới.

Cơ cấu vốn ĐTNN chung từ 1988 đến 2007:

(1) Theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 66,8% về số dự án, 60,2% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện; Lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,2% về số dự án, 34,4% số vốn đăng ký và 24,5% vốn thực hiện; Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 10,8% về số dự án, 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,7% vốn thực hiện.

(2) Theo vùng và lãnh thổ: Từ năm 1988 đến hết năm 2007, các tỉnh phía Bắc đã thu hút 2.220 dự án với vốn đầu tư khoảng 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 29% tổng vốn đăng ký cả nước và 24% tổng vốn thực hiện của cả nước. Các tỉnh phía Nam từ Ninh Thuận trở vào thu hút được 5.452 dự án với tổng vốn 46,8 tỷ USD, đã góp vốn thực hiện đạt 15,68 tỷ USD, chiếm 63% về số dự án, 56% về vốn đăng ký và 51% vốn thực hiện của cả nước, trong đó, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 8 địa phương (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Bình Phước) chiếm 64,3% về số dự án và 55,7% về vốn đăng ký và 48,4% vốn thực hiện của cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long tuy là vựa lúa, vựa trái cây, giàu tiềm năng thuỷ, hải sản của cả nước nhưng thu hút vốn ĐTNN còn rất thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước. Bắc và Nam Trung Bộ, trong đó Quảng Nam và Đà Nẵng đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN quá ít như vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

360255 

Continue reading

LÃI SUẤT: ÔN CỐ TRI TÂN

CHÂU ĐÌNH PHƯƠNG

Lãi suất là một trong những công cụ tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách tiền tệ quốc gia. Việc sử dụng lãi suất như thế nào trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam luôn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia kinh tế, mà còn của cả xã hội. Để có thể phát huy tốt công cụ quản lý này, sẽ không thừa khi nhìn lại những kinh nghiệm trong quá khứ.

Từ “Cơ chế lãi suất thỏa thuận”…

Năm 2002, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng “cơ chế lãi suất thoả thuận”. Theo đó, mức lãi suất huy động vốn và cho vay dựa trên nguyên tắc “thoả thuận” giữa ngân hàng và khách hàng. Lúc bấy giờ, trong giới chuyên môn cũng có nhiều ý kiến băn khoăn về sự ra đời “sớm” của cơ chế này, vì kinh tế – xã hội Việt Nam còn nhiều yếu tố cản trở tính hiệu quả của nó; đặc biệt là còn có sự khác biệt không nhỏ giữa các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước vẫn phải giữ vai trò chủ đạo (nhưng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao, thường bị thua lỗ…). Ngoài ra, lúc bấy giờ kinh tế nước ta vẫn đang là một nền kinh tế thị trường chưa đầy đủ do còn những bất hợp lý, thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật; sự pha trộn, đan xen giữa 2 cung cách làm ăn cũ và mới vẫn là những trở lực rất lớn cho tính năng động sáng tạo của người lao động trong các cơ quan quản lý nhà nước cũng như trong các doanh nghiệp.

Những băn khoăn về sự ra đời “sớm” của cơ chế lãi suất thoả thuận như đã nói trên là có cơ sở thực tế. Đây cũng chính là nguyên nhân mà, sau khi có cơ chế lãi suất thoả thuận ra đời thì chỉ số hàng hoá-dịch vụ tiêu dùng liên tục tăng lên, làm cho lạm phát tiền tệ của Việt Nam ngày càng một nặng nề thêm. Năm 1999, mức lạm phát chỉ là 0,1%; 2 năm sau đó mức lạm phát đều âm (2000: -0,6%; 2001: -0,2%); nhưng sang năm 2002, con số này đã là 4% và đến năm 2004 là 8,4%.

Cơ chế lãi suất thoả thuận cũng đã trở thành cơ sở cho sự xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau trong việc sử dụng lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong những năm sau đó; đặc biệt là từ năm 2004.

Từ năm 2004, nhiều ngân hàng thương mại đã sử dụng lãi suất với tư cách là một trong những công cụ chủ yếu để cạnh tranh, để thu hút vốn và cho vay, để nâng thị phần hoạt động, để phát triển quy mô hoạt động của mình. Với mục đích đó, chính sách lãi suất của một số ngân hàng thương mại lúc bấy giờ được xây dựng trên nguyên tắc “tín hiệu thị trường”. Điều này có nghĩa là, sự tăng giảm lãi suất huy động vốn và cho vay hoàn toàn phụ thuộc vào diễn biến của quan hệ cung – cầutrên thị trường.

Tại những nước công nghiệp hàng đầu thế giới, có hàng mấy trăm năm kinh tế thị trường, trong khi thực hiện tự do hoá lãi suất, các nhà chức trách của đất nước vẫn có những can thiệp cần thiết khi xuất hiện những dấu hiệu bất thường trong biến động của lãi suất có thể gây hại cho hoạt động kinh doanh và đời sống của dân chúng. Chính vì vậy, nếu cho rằng, đã là kinh tế thị trường thì mọi hoạt động kinh tế đều được thực hiện theo những nguyên tắc hoàn toàn tự do thì tình trạng “mạnh ai nấy sống”, cạnh tranh theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” sẽ là “hiểm hoạ” cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ: 6 TUỔI ĐÃ BỊ KIỆN ĐÒI NHÀ

HOÀNG LAM

Khi trẻ bị kiện, người giám hộ được quyền tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền lợi của trẻ. Bé Nguyễn J. năm nay lên sáu tuổi, là con trai của chị Đ. Tháng 2-2008, bé được mẹ lập di chúc cho hưởng thừa kế một căn nhà ở phường 2, TP Vũng Tàu. Sau đó một tháng thì chị Đ. qua đời. Đầu năm nay, một người nước ngoài tên M. đã khởi kiện bé J. ra tòa để đòi lại căn nhà trên.

Cho tiền mua nhà hay chỉ nhờ đứng tên?

Theo lời khai của ông M., chị Đ. vốn là bạn gái của ông. Biết ông có ý muốn được làm chủ một căn nhà tại Việt Nam, chị đồng ý giúp ông bằng cách đứng tên mua nhà giùm. Đầu năm 2007, ông đã thỏa thuận mua căn nhà trên với giá 200 ngàn USD. Sau đó, ông dẫn chị Đ. đến gặp vợ chồng chủ nhà, đồng thời ký hợp đồng với chủ nhà để chỉ định chị Đ. đứng tên giùm mình.

Ông M. cho rằng do không phải là chủ sở hữu nhà thực sự nên chị Đ. không có quyền để thừa kế nhà cho bé J. Ông yêu cầu tòa án hủy hợp đồng mua bán nhà do chị Đ. ký tên và buộc bé J. giao trả nhà cho ông. Sau đó, ông sẽ trả lại nhà cho người bán để nhận lại tiền. Ngoài việc khai nhận giống như ông M., vợ chồng người bán cũng đồng ý thực hiện các yêu cầu đã nêu của ông M.

Ngược lại, phía gia đình chị Đ. cho biết giữa ông M. và chị Đ. có mối quan hệ tình cảm rất mật thiết, thậm chí đã tính đến chuyện kết hôn. Vậy nên ông M. mới cho chị Đ. 200 ngàn USD để chị mua nhà. Chừng khi chị Đ. mắc bệnh, ông M. đã “hợp tác” với chủ cũ để chiếm nhà của chị Đ.

Di chúc vô hiệu

Xử sơ thẩm vụ án vào tháng 1-2009, TAND TP Vũng Tàu xác định chị Đ. chỉ đứng tên giùm. Theo cấp sơ thẩm, nếu chị Đ. tự đàm phán và bỏ tiền mua nhà thì không có chuyện ông M. và người bán cứ fax đi fax lại bản hợp đồng chuyển nhượng để chỉnh sửa nội dung. Nếu không nhằm đến mục đích nhờ chị Đ. thanh toán giúp tiền mua nhà thì không cớ gì ông M. lại chuyển vào tài khoản của chị Đ. 200 ngàn USD. Lại nữa, biên bản bàn giao nhà đất không có chữ ký của chị Đ., chứng tỏ chị Đ. không phải là người mua thực.

Thế là cấp sơ thẩm tuyên xử di chúc của chị Đ. vô hiệu. Bé J. phải trả lại toàn bộ nhà đất cho chủ cũ. Vợ chồng chủ cũ phải thanh toán cho ông M. 3,2 tỷ đồng (tương đương 200 ngàn USD vào thời điểm chuyển nhượng).

Cuối tháng 3-2009, khi xử phúc thẩm vụ án, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cũng có cách giải quyết tương tự như tòa sơ thẩm.

Continue reading

MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN

NGUYỄN THỊ BÍCH THỌ – Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Nghiệp vụ và Tư liệu, Ban Tuyên giáo Trung ương

Căn cứ trên kinh nghiệm của các nước đi trước và xuất phát từ nhận thức khá rơ về những tiến bộ và khó khăn, hạn chế trong thực hiện BHYT ở nước ta hiện nay, các chuyên gia của WHO đă đóng góp những ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lư BHYT ở nước ta, tiến tới BHYT toàn dân như Nghị quyết của Đảng đă chỉ ra.

Theo thông tin do cơ quan BHXH đưa ra, tổng thu so với tổng chi của Quỹ BHYT năm 2006, bị thâm thủng 1210 tỷ đồng, năm 2007, tiếp tục thâm thủng tới trên 1800 tỷ đồng. Chỉ riêng trong năm 2007, với tốc độ chi phí khám chữa bệnh như hiện nay, xă hội Việt Nam phải sử dụng hết 2800 tỷ đồng, là số kết dư quỹ của hơn 10 năm trước để lại, vẫn không có khả năng cân đối, thu không đủ chi. Vào đầu năm 2008, trước nguy cơ “vỡ” quỹ, Chính phủ đă cho phép BHXH tạm ứng 2000 tỷ đồng cho các cơ sở y tế.

Giải pháp Chính phủ bù đắp kinh phí thiếu hụt như nêu ở trên, rơ ràng là không thể kéo dài. Chính sách BHYT Việt Nam cần thiết phải điều chỉnh lại cơ chế, chính sách sao cho phù hợp để duy tŕ sự phát triển bền vững nhằm tiến tới BHYT toàn dân.

Theo bà Aviva Ron, chuyên gia tư vấn WHO, diện bao phủ BHYT ở Việt Nam hiện nay, tuy đă lên đến hơn 40% dân số, song chủ yếu là người có thu nhập thấp, mức đóng góp thấp. Những người có thu nhập cao chưa tham gia BHYT một cách đông đảo và tích cực, do vậy chưa thực hiện tốt nguyên tắc chia sẻ chi phí BHYT, người đóng phí cao chia sẻ cho người đóng phí thấp.

Chính phủ phải chịu gánh nặng quá tải trong khi khu vực liên doanh nước ngoài, khu vực tư nhân đang lớn mạnh rất nhanh, cơ bản vẫn đứng ngoài cuộc, không tham gia chia sẻ phí BHYT. Những người nước ngoài đến Việt Nam làm việc (số này ngày càng đông) hiện chưa tham gia BHYT Việt Nam trong khi ở hầu hết các nước khác theo quy định của luật pháp, những người nước ngoài sẽ không nhận được giấy phép làm việc nếu không tham gia BHYT của nước sở tại.

Chính sách của Chính phủ, bao cấp một cách đại trà cho phần lớn người được bảo hiểm (với tư cách người sử dụng lao động và thông qua trợ cấp xă hội cho tất cả trẻ em dưới 6 tuổi và cho người nghèo), có ưu điểm lớn là đă bao phủ được phần lớn diện đối tượng dễ bị tổn thương.

Continue reading