LS. PHẠM CHÍ CÔNG – Giám đốc Công ty Luật Khai Phong (KPLawyers)
Nhìn lại các quy định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2006 mới thấy đã và đang có những lúng túng từ phía cơ quan quản lý nhà nước dẫn đến những khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp.
Từ định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay, việc xác định chính thức thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNĐTNN) vẫn đang tồn tại những cách hiểu, giải thích không thống nhất khiến cho việc áp dụng các quy định liên quan trở nên phức tạp và không đồng nhất tại các bộ, ngành, hay từng địa phương.
Theo điều 3.6 Luật Đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định gồm (1) doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc (2) doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như vậy doanh nghiệp chỉ cần có một tỷ lệ rất nhỏ vốn đầu tư nước ngoài dù trực tiếp hay mua lại cổ phần cũng đều xem là DNĐTNN.
Cũng theo Luật Đầu tư, đã là “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD)”.
Rõ ràng quy định này bất hợp lý ngay từ tên gọi bởi bản chất pháp lý của GCNĐKKD xác lập tư cách và địa vị pháp lý của một doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh đồng thời với việc xác lập tính hợp pháp của các hành vi kinh doanh cụ thể. Chính vì thế, trên thực tế, quy định này đã không được thực thi thống nhất và đầy đủ.
Đến nghị định khác luật
Điều 9 Nghị định 139/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đã phân định tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh. Cùng là nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư tại Việt Nam sẽ thực hiện các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư khác nhau, tùy theo tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trên 49% vốn điều lệ thì phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đăng ký (hoặc thẩm tra) đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.
Trường hợp doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu không quá 49% vốn điều lệ thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định Đăng ký kinh doanh của Luật Doanh nghiệp và việc đăng ký đầu tư (của các DNĐTNN) trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước. Tất nhiên là khó có thể áp dụng quy định tương ứng với dự án đầu tư trong nước bởi những điều kiện chắc chắn có khác biệt.
Filed under: LTM - Đầu tư | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










