KINH NGHIỆM QUẢN LÝ LÝ LỊCH TƯ PHÁP Ở THỤY ĐIỂN

ĐỖ THÚY LAN – Vụ Hành chứng tư pháp

Khái niệm “Lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước (tiếng Anh là “criminal record”, tiếng Pháp là “casier judiciaire”) nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền tuyên xử đối với một cá nhân. Bài viết sau đây giới thiệu kinh nghiệm quản lý lý lịch tư pháp của Thuỵ Điển, một quốc gia Bắc Âu có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển. Hy vọng bài viết sẽ cung cấp một số thông tin tham khảo cho các nhà làm luật trong quá trình soạn thảo Luật Lý lịch tư pháp.

1. Giới thiệu chung về hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp       

Ở Thuỵ Điển có hai hệ thống dữ liệu có liên quan nhưng hoàn toàn tách biệt, đó là hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp. Hai hệ thống dữ liệu này do Tổng cục cảnh sát thuộc Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý. Ban đầu, chỉ tồn tại một hệ thống cơ sở dữ liệu chung. Tuy nhiên, đến năm 1990, hệ thống dữ liệu này được chia tách thành hai hệ thống, đó là hệ thống dữ liệu về tình nghi tội phạm (Suspicion of Crime Record) và hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp (Criminal Record).  Hai hệ thống dữ liệu này hoàn toàn khác nhau về nội dung thông tin, cách thức thu thập thông tin và mục đích sử dụng.

– Hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm là hệ thống thu thập những thông tin liên quan đến cá nhân khi có đơn kiện hoặc đơn khai báo của người dân và đã được cơ quan cảnh sát, hải quan tiến hành điều tra sơ bộ nhằm mục đích phát hiện, ngăn chặn tội phạm. Những thông tin này sau khi được điều tra sơ bộ sẽ được cơ quan cảnh sát chuyển sang Viện kiểm sát để Viện kiểm sát quyết định có khởi tố hay không khởi tố. Việc tiến hành điều tra và đưa vào hệ thống dữ liệu tình nghi chủ yếu bao gồm các thông tin như sau: có tội phạm diễn ra hay không; nạn nhân; loại hình tội phạm. Không phải mọi cá nhân đều được lưu trữ trong hệ thống dữ liệu tình nghi tội phạm mà hệ thống này chỉ lưu trữ thông tin của những người từ 15 tuổi trở lên bị tình nghi trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, khi đối tượng tình nghi được xác định có tội hay không có tội, thông tin về cá nhân đó sẽ được loại bỏ trong hệ thống dữ liệu tình nghi.

– Hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp (hay còn gọi là hệ thống dữ liệu án tích) là hệ thống chỉ lưu trữ những bản án đã được tuyên về một người có từ trước đến nay và chưa được xoá án tích. Thông tin về án tích của cá nhân bao gồm: ngày kết án, Toà án đã ra bản án, số vụ án, hình phạt, thời gian đã chấp hành xong bản án, ngày dữ liệu được xử lý. Hệ thống dữ liệu lý lịch tư pháp không chỉ lưu trữ những thông tin liên quan đến việc phạm tội đã thành án của công dân Thuỵ Điển mà còn lưu trữ những thông tin về án tích của người nước ngoài phạm tội tại Thuỵ Điển.

Continue reading

SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG XUẤT BẢN: TẢN MÁT VÀ VƯỚNG VÍU

HỒNG NAM

Từ năm nay, các tập đoàn xuất bản nước ngoài được tổ chức tự phát hành sách của mình thông qua một công ty mở tại Việt Nam. Khi đó, không cần bán tác quyền họ vẫn có thể tổ chức dịch, phát hành trên toàn Việt Nam. Lĩnh vực xuất bản vốn rất nhạy cảm với vấn đề sở hữu trí tuệ. Luật thì đã có từ lâu. Nhưng thực tế, tình hình vi phạm bản quyền trong lĩnh vực này vẫn chưa được cải thiện là bao!

Những kẽ hở “đau”

Năm 2008, vụ tranh chấp về quyền tài sản giữa công ty Phan Thị và công ty Lê Linh đối với hình vẽ nhân vật Long Tinh trong bộ truyện tranh Long Thánh khi bộ sách này được công bố đã khiến dư luận chú ý. Xuất phát từ cùng một tác giả là họa sĩ Lê Linh, hai mẫu hình nhân vật truyện tranh: Trạng Tý (trong “Thần đồng đất Việt” của công ty Phan Thị) và Long Tinh (trong “Long Thánh” của công ty Lê Linh) được cáo buộc là có những nét giống nhau, với đơn khiếu kiện từ Phan Thị cho rằng: Lê Linh đã sử dụng hình ảnh Trạng Tý để làm ra tác phẩm phái sinh là Long Tinh. Theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, đây là hành vi vi phạm quyền tài sản đối với công ty Phan Thị.

Tuy nhiên, phía Lê Linh lại cho rằng, do cùng một tác giả nên Long Tinh chỉ giống Trạng Tý về phong cách vẽ, và hình mẫu Long Tinh cũng đã được đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả.

Việc hạn chế hành vi đánh cắp ý tưởng từ các tác phẩm còn quá xa vời

Ở khía cạnh khác, khi có một vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, phía nguyên đơn còn có thể khiếu kiện theo các điều luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Luật cạnh tranh. Trong khi đó, theo giáo sư, tiến sĩ, luật sư Nguyễn Vân Nam thì Luật cạnh tranh của Việt Nam không định nghĩa thế nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Điều này tạo ra khả năng các bên bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vì quyền lợi liên quan đến kinh doanh sẽ sử dụng Luật Cạnh tranh để kiện bên vi phạm. Trở lại vụ truyện tranh trên, việc thúc thủ của công ty Lê Linh là một minh chứng.

Trong khi đó, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng có những chỗ chưa chặt chẽ, chẳng hạn không nêu ra định nghĩa về “chủ sở hữu quyền tác giả”, trong khi đó Luật quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Luật lại cũng không định nghĩa thế nào là quyền tài sản, mà chỉ quy định 6 loại hình quyền tài sản. Điều này khiến cho trong một số trường hợp, các đồng tác giả xung đột nhau về quyền tài sản, về vai trò chủ sở hữu quyền tác giả mà không biết dựa vào điều luật nào để được bảo hộ.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON: GIÀNH NUÔI CHÁU NGOẠI

VĂN ĐOÀN

Sinh được 10 ngày thì mẹ bỏ con cho người khác nuôi. Nay đứa trẻ hơn ba tuổi thì bà ngoại lại giành nuôi. Hơn tháng nay, chị Trần Thị Kim Hạnh (ngụ quận Thủ Đức, TP.HCM) phải ngược xuôi từ TP.HCM đến tỉnh Gia Lai để đòi lại đứa con mới hơn ba tuổi của mình.

Không phải là con đẻ

Chị Hạnh kể, qua người quen, chị có biết chị N. (ngụ huyện Đức Cơ, Gia Lai). Đầu năm 2005, do mang thai ngoài ý muốn nên chị N. có ý định phá thai. Chị Hạnh khuyên chị N. nên sinh con và hứa sẽ nhận đứa bé làm con mình. Sau đó, chị Hạnh đã chăm sóc chị N. cho đến ngày sinh nở. Chị Hạnh còn đưa các giấy tờ mang tên mình cho chị N. làm thủ tục nhập viện và xuất viện. Khi đứa bé được 10 ngày tuổi thì chị N. bỏ đi. Sau đó, chị Hạnh đã lấy tư cách mẹ ruột để làm giấy khai sinh cho cháu bé và nuôi cháu như con ruột.

Mọi chuyện yên ả trôi qua cho đến khi đứa bé được ba tuổi thì bà K. (bà ngoại của cháu) bất ngờ tìm đến thăm. Chị Hạnh đồng ý nhận từ bà K. một ít tiền để mua sữa cho cháu bé. Tháng 2-2009, bà K. ngỏ ý muốn đưa cháu ngoại về Gia Lai chơi một thời gian. Sau khi cân nhắc, chị Hạnh chấp nhận. Gần tháng sau, bà K. gọi điện thoại báo cho chị Hạnh biết là đứa bé bị bệnh và khóc nhiều vì nhớ mẹ. Chị Hạnh tức tốc lên Gia Lai để đưa đứa bé về lại TP.HCM nhưng bà K. nhất quyết không giao lại đứa bé.

Ai được quyền nuôi trẻ

Theo bà K., chị Hạnh đã viết giấy chuyển quyền nuôi dưỡng con cho bà với lý do không đủ điều kiện nuôi dưỡng đứa bé. Bà đã đưa cho chị Hạnh 30 triệu đồng và chị Hạnh đã đưa cho bà giấy khai sinh của đứa bé. Còn chị Hạnh cho rằng chị đã tự viết giấy chuyển quyền nuôi con với mục đích giúp bà K. không bị công an địa phương làm khó dễ khi mang đứa trẻ về nhà. Song chị khẳng định giấy đó không phải là giấy cho con bởi lẽ điều kiện kinh tế của chị rất khá giả và chị có dư khả năng nuôi đứa bé. Chị cũng phủ nhận việc bà K. đã đưa cho chị 30 triệu đồng.

Continue reading