THÔNG TƯ SỐ 11/2009/TT-NHNN NGÀY 27 THÁNG 5 NĂM 2009 VỀ SỬA ĐỔI KHOẢN 1 ĐIỀU 7 THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-NHNN NGÀY 02 THÁNG 3 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi Thông tư số 03/2009/TT-NHNN ngày 02 tháng 3 năm 2009 quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng như sau:

Điều 1. Khoản 1 Điều 7 được sửa đổi như sau:

“1. Tiêu chuẩn giấy tờ có giá được cầm cố:

a. Được phép chuyển nhượng;

b. Giấy tờ có giá thuộc sở hữu hợp pháp của ngân hàng xin vay;

c. Có thời hạn còn lại tối thiểu bằng thời gian vay.”

Continue reading

MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH CHỦ YẾU TRONG QUAN HỆ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ

TS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG – Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Đại học Kinh tế Quốc dân

Năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay nền kinh tế đã có những bước tiến đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng liên tục trong 15 năm liền, trung bình từ 6-7%/năm. Thu nhập quốc dân tăng gấp đôi trong vòng 10 năm. Xuất nhập khẩu tăng mạnh. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh. Kết quả này cho thấy nguồn lực trong nước đã được khai thác có hiệu quả.

Theo một số dự báo, nền kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng cao trong thời gian tới. Những kết quả đạt được to lớn trên đây chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Trong số các yếu tố đó, việc đổi mới quan niệm về sở hữu toàn dân để dẫn đến việc điều chỉnh các quan hệ sở hữu được coi là bước “đột phá” trong tư duy hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế. Điều này đã mở ra những cách tiếp cận mới, rộng lớn và đa dạng hơn để nâng cao hiệu quả sở hữu mà kết quả tiếp theo là việc tăng hiệu quả của cả nền kinh tế.

Các hình thức sở hữu khác được thừa nhận và được tạo điều kiện để phát triển mạnh theo phương châm đa dạng hoá. Điều này được khẳng định rõ ràng và nhất quán trong chính sách, Hiến pháp và các văn kiện chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đổi mới đến nay. Continue reading

"TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN" VỚI VẤN ĐỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

GS.TS. NGUYỄN NGỌC LONG

Chế độ sở hữu là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu cả về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội. Về lý luận, chủ nghĩa Mác – Lê-nin coi việc xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. “Thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội”(1). Nhưng mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân (thực ra là sở hữu nhà nước) và sở hữu tập thể đã lâm vào khủng hoảng, chế độ xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu.

Ở nước ta, quan điểm về xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhân tố rất quan trọng góp phần vào thắng lợi to lớn của quá trình đổi mới hơn mười lăm năm qua. Trong nền kinh tế nhiều thành phần đó có sự tồn tại đan xen và kết hợp nhiều chế độ sở hữu, bao gồm cả sở hữu tư nhân. Vậy vấn đề chế độ sở hữu trong chủ nghĩa xã hội cần được “nhận thức lại” như thế nào ?

Mặt khác, mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ với nền kinh tế thị trường dựa trên chế độ tư hữu có sự điều tiết của nhà nước lại đã có một thời được không ít người ngưỡng mộ. Rồi quá trình tư nhân hóa kinh tế nhà nước diễn ra vài thập kỷ vừa qua như một tất yếu kinh tế ở một loạt nước, cả những nước tư bản chủ nghĩa phát triển cũng như những nước đang phát triển.

Continue reading

CẠNH TRANH: PHƯƠNG THUỐC CHỐNG LẠM PHÁT

NGUYÊN TẤN

Cạnh tranh tự do, công bằng sẽ thúc đẩy sản xuất, kích thích doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm. Theo TS. Nguyễn Vân Nam, Giám đốc Công ty Luật Nam Hùng, đây là phương thuốc căn bản nhất để chống lạm phát.

Lạm phát thấp, cao tùy “độ mở”

TS. Nguyễn Vân Nam cho rằng muốn có cạnh tranh tự do, công bằng thì trước hết đặc quyền, đặc lợi của một số doanh nghiệp phải bị xóa bỏ và thị trường phải được đảm bảo tự do cho nhiều đối tượng tham gia cạnh tranh. Thực tế đã chứng minh rất rõ thị trường ở lĩnh vực nào có độ mở càng cao thì ở đó giá cả càng có xu hướng rẻ. Mặt hàng điện tử là một ví dụ thú vị. Bất chấp lạm phát đang diễn ra, giá các mặt hàng này hầu như không tăng, thậm chí còn giảm.

Vì sao vậy? Vì điện tử là lĩnh vực mà mức độ cạnh tranh hiện nay hết sức khốc liệt, hầu hết các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới như LG, Philips, Sony, Sumsung, Toshiba… đều đã hiện diện tại Việt Nam. Chưa nói, chính sách thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng điện tử khá thông thoáng khi thuế nhập khẩu được giảm sớm hơn so với lộ trình cam kết với WTO.

Continue reading

Những xu hướng ảnh hưởng đến chính sách xã hội trong cơ chế thị trường VÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN

VŨ NGỌC LÂN

Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường thường đem lại nền kinh tế phát triển nhưng thường lại có những ‘tác dụng phụ’ không có lợi cho đông đảo người lao động. Ngay ở các nước có nền kinh tế phát triển th́ cũng chưa có nước nào đạt được sự hài ḥa giữa phát triển kinh tế với công bằng và tiến bộ xă hội. Sự phân hóa giàu nghèo thường đồng hành với kinh tế thị trường. Do đó, cuộc đấu tranh cho sự b́nh đẳng xă hội, cho sự phát triển bền vững đang là mục tiêu của tất cả nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Dưới góc độ chính sách xă hội, đối với đông đảo người lao động, khi xây dựng nền kinh tế thị trường, nói chung luôn luôn có những xu hướng hy sinh các chính sách xă hội, bỏ qua những văn hóa truyền thống để tăng trưởng và phát triển. Và thường là trong sự tăng trưởng ấy, người nghèo, nhóm yếu thế của xă hội ít được hưởng thụ thành quả của sự tăng trưởng kinh tế, mà ngược lại nhiều khi họ c̣n bị nghèo hơn. Người ta đă thống kê được 10 xu hướng có hại cho chính sách xă hội cho đông đảo người lao động trong nền kinh tế thị trường. 10 xu hướng này thường ảnh hưởng xấu đối với nhiều nước, nhất là một số nước trải qua khủng hoảng, đổ vỡ trong xây dựng chủ nghĩa mới bước vào kinh tế thị trường những năm gần đây. Vậy những xu hướng đó là ǵì?

Continue reading

NHỮNG XU HƯỚNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN

VŨ NGỌC LÂN

Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường thường đem lại nền kinh tế phát triển nhưng thường lại có những ‘tác dụng phụ’ không có lợi cho đông đảo người lao động. Ngay ở các nước có nền kinh tế phát triển th́ cũng chưa có nước nào đạt được sự hài ḥa giữa phát triển kinh tế với công bằng và tiến bộ xă hội. Sự phân hóa giàu nghèo thường đồng hành với kinh tế thị trường. Do đó, cuộc đấu tranh cho sự b́nh đẳng xă hội, cho sự phát triển bền vững đang là mục tiêu của tất cả nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Dưới góc độ chính sách xă hội, đối với đông đảo người lao động, khi xây dựng nền kinh tế thị trường, nói chung luôn luôn có những xu hướng hy sinh các chính sách xă hội, bỏ qua những văn hóa truyền thống để tăng trưởng và phát triển. Và thường là trong sự tăng trưởng ấy, người nghèo, nhóm yếu thế của xă hội ít được hưởng thụ thành quả của sự tăng trưởng kinh tế, mà ngược lại nhiều khi họ c̣n bị nghèo hơn. Người ta đă thống kê được 10 xu hướng có hại cho chính sách xă hội cho đông đảo người lao động trong nền kinh tế thị trường. 10 xu hướng này thường ảnh hưởng xấu đối với nhiều nước, nhất là một số nước trải qua khủng hoảng, đổ vỡ trong xây dựng chủ nghĩa mới bước vào kinh tế thị trường những năm gần đây. Vậy những xu hướng đó là ǵì?

Continue reading

Các văn bản pháp luật liên quan đến đất đai: NHIỀU QUI ĐỊNH CHƯA THỐNG NHẤT

THIÊN LONG

Nhiều quy định nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau (Luật Công chứng, quy định về đăng ký bất động sản…) có nhiều điểm “vênh” so với các quy định của Luật Đất đai hiện hành. Đây là nhận định của nhiều chuyên gia pháp lý. Điều quan trọng bây giờ là phải nhận thấy những điểm “vênh” đó để sửa chữa đưa vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2010.

Cần thống nhất dùng cụm từ “công chứng”

Luật sư Tuấn Anh- Đoàn Luật sư TP. Hà Nội nêu ý kiến: hai cụm từ công chứng trong Bộ luật Dân sự và công chứng nhà nước trong Luật Đất đai, Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã nảy sinh cách hiểu khác nhau: công chứng Nhà nước có giá trị pháp lý cao hơn công chứng tư. Nhưng thực chất, không có sự khác nhau giữa hai cụm từ này và Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng chỉ là hình thức hành nghề công chứng khác nhau nhưng giá trị văn bản công chứng là như nhau. Vì thế, luật sư Tuấn Anh kiến nghị: cần thống nhất sử dụng cụm từ “công chứng” trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai. Continue reading

CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT ĐAI: NHIỀU QUI ĐỊNH CHƯA THỐNG NHẤT

THIÊN LONG

Nhiều quy định nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau (Luật Công chứng, quy định về đăng ký bất động sản…) có nhiều điểm “vênh” so với các quy định của Luật Đất đai hiện hành. Đây là nhận định của nhiều chuyên gia pháp lý. Điều quan trọng bây giờ là phải nhận thấy những điểm “vênh” đó để sửa chữa đưa vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2010.

Cần thống nhất dùng cụm từ “công chứng”

Luật sư Tuấn Anh- Đoàn Luật sư TP. Hà Nội nêu ý kiến: hai cụm từ công chứng trong Bộ luật Dân sự và công chứng nhà nước trong Luật Đất đai, Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã nảy sinh cách hiểu khác nhau: công chứng Nhà nước có giá trị pháp lý cao hơn công chứng tư. Nhưng thực chất, không có sự khác nhau giữa hai cụm từ này và Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng chỉ là hình thức hành nghề công chứng khác nhau nhưng giá trị văn bản công chứng là như nhau. Vì thế, luật sư Tuấn Anh kiến nghị: cần thống nhất sử dụng cụm từ “công chứng” trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai. Continue reading

ĐƯỜNG HƯỚNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI MỸ

TRẦN LÊ ANH – PGS Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Đại học Lasell, Mỹ

Trong một hội thảo gần đây, khi được hỏi ông nhận xét thế nào về chính sách thương mại của chính phủ Obama, Giáo sư Greg Mankiw, cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế của Tổng thống George W. Bush, có nói các cố vấn kinh tế của Tổng thống nhìn chung đều ủng hộ chính sách thương mại tự do, nhưng ông Obama thì không rõ ràng lắm.

Ủng hộ thương mại tự do hay bảo hộ thương mại?

Nhận xét trên phần nào nói lên thực trạng không thể tách rời giữa đường hướng chính sách thương mại và môi trường chính trị Mỹ. Động thái của ông Obama “không rõ ràng” không phải là vì ông không hiểu vấn đề mà do ông bị ràng buộc bởi các yếu tố chính trị, phải đáp ứng những mong muốn của các khối cử tri và nhóm lợi ích khác nhau.

Tuy nhiên, chính sách thương mại Mỹ là một sản phẩm chung, được tạo ra thông qua sự tác động qua lại hết sức phức tạp giữa Nhà Trắng, Quốc hội, và các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. Cho nên mặc dù hiểu rõ lợi ích chung của thương mại tự do, chính phủ Obama buộc phải cân nhắc những khuynh hướng khác để tránh bớt tổn thất vốn liếng chính trị (do mất sự ủng hộ). Nhìn ở phương diện này, những sáng kiến về thương mại tự do của Nhà Trắng sẽ gặp khó khăn trước áp lực mang tính chất bảo hộ thương mại đang gia tăng trong xã hội Mỹ. Continue reading

PHẢI HẠN CHẾ NHỮNG KHE HỞ CỦA PHÁP LUẬT

NGUYỄN TRÍ DŨNG

Để pháp luật được tuân thủ nó phải phản ánh đúng nhu cầu và sự phát triển của cuộc sống và phải khả thi. Các nhà làm luật cần sâu sát hơn với cuộc sống, với thực tiễn, cần tính đến việc làm thế nào để thực thi các quy định do mình xây dựng, đừng để các lỗ hổng pháp luật khiến người dân phải vất vả trước cửa công quyền.

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường đặt ra những đòi hỏi cấp bách kiện toàn hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ hình thành trong cơ chế này. Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, công tác xây dựng pháp luật thời gian qua của chúng ta vẫn bộc lộ nhiều hạn chế chậm được khắc phục, đặc biệt là trong hai khía cạnh.

Thứ nhất, tình trạng mà các chuyên gia gọi là “luật ống” vẫn không thể khắc phục. Luật có hiệu lực không thể đi vào cuộc sống chừng nào chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện. Thứ hai, sáng kiến và bản thân việc xây dựng luật do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện theo một quy trình khá quan liêu nên nội dung luật mang nhiều yếu tố chủ quan, xa rời thực tiễn. Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA VẤN NẠN THAM NHŨNG ĐỐI VỚI MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

PHẠM THỊ TÚY

Tham nhũng là một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Bởi tham nhũng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia, bởi nó làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước, xói mòn nguyên tắc pháp quyền, cản trở tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực xoá đói giảm nghèo, biến dạng điều kiện cạnh tranh trong giao dịch kinh doanh.

Khái quát về vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phát triển, trong đó có vấn nạn tham nhũng. Ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, tham nhũng thường bắt nguồn từ những căn nguyên:

Thứ nhất, những thiếu hụt hoặc bất cập từ sự chưa hoàn thiện của thể chế mà tập trung chủ yếu là cơ chế chính sách và pháp luật.

Đã hơn 20 năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kết quả đạt được thật đáng khích lệ, song những vấn đề còn tồn đọng cũng đáng kể, nổi bật đó là những thiếu hụt, bất cập về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật. Về cơ bản, những thể chế này đã được hình thành và đang có những tác động nhiều chiều đến sự phát triển của quốc gia, nhưng vẫn thiếu, chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở sự phát triển. Continue reading

DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP

TS. ĐẶNG NGỌC LỢI – TS. NGUYỄN VĂN HÙNG

Được ví như “nguồn của cải vật chất khổng lồ” đóng góp vào tiềm lực kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao vị thế của dân tộc trên trường quốc tế, có thể khẳng định, doanh nhân Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa sức mạnh và vai trò làm giàu cho đất nước của doanh nhân thời hội nhập thì rất cần một môi trường kinh doanh và hành lang pháp lý thông thoáng nhưng quan trọng hơn cả vẫn là vai trò “bà đỡ” của Nhà nước.

Nguồn của cải, vật chất khổng lồ

Một trong những thành tựu nổi bật nhất trong 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt trong khoảng năm năm trở lại đây, là sự trưởng thành nhanh chóng của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam với khoảng 180.000 doanh nghiệp chính thức hoạt động trong cả nước. So với các nước trong khu vực, Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nhưng rõ ràng những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội và sự tiến bộ vượt bậc về xuất khẩu của nước nhà trong những năm gần đây đã nói lên sự trưởng thành đáng kể của doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam và khẳng định rõ vai trò của đội quân tiên phong trên mặt trận kinh tế làm giàu cho đất nước, cho xã hội và là nguồn của cải vật chất khổng lồ cần được khai thác. Continue reading