MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

CÔNG TY LUẬT MAYERBROWN JSM

Chúng tôi hoan nghênh Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã điều kiện cho chúng tôi có cơ hội được tham gia góp ý kiến vào bản Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu Trí tuệ ("Dự thảo Luật").

Nhìn chung, so với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, vấn đề xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đồng bộ và đầy đủ, cụ thể là Bộ luật dân sự năm 2005 ("LDS") và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 ("LSHTT") cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện do Chính phủ và các Bộ liên quan ban hành đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động sáng tạo. Nhận thức được lợi ích từ việc Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ("QSHTT"), số lượng đơn xin đăng ký bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp tăng lên đáng kể trong một vài năm gần đây, kể từ khi Việt Nam tích cực ký kết các điều ước quốc tế song phương, khu vực và đa phương về vấn đề bảo vệ QSHTT.

Nhưng qua đó cũng đã bộc lộ nhiều vướng mắc trong quá trình xác lập và thực thi QSHTT do các quy định trong các văn bản pháp luật không có sự thống nhất hoặc không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia.

Vì vậy chúng tôi đánh giá cao việc sửa đổi, bổ sung LSHTT lần này. Qua xem xét bản Dự thảo Luật, chúng tôi có một số góp ý như sau:

Góp ý chung

1. Vấn đề:

Bản Dự thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung 33 điều của LSHTT theo 4 nhóm vấn đề như

được nêu tại Báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch số 202/BC-BVHTTDL ngày 10 tháng 12 năm 2008 về tổng kết hai năm thực hiện về kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của LSHTT, cụ thể là:

(i) Nhóm 1: gồm các sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới nội dung của quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng;

(ii) Nhóm 2: gồm các sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp;

(iii) Nhóm 3: gồm các sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;

(iv) Nhóm 4: gồm các sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan.

Continue reading

LỒNG GHÉP GIỚI VÀO KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

HỒ MINH CHIẾN

Lồng ghép giới và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) là một khái niệm tương đối mới ở nước ta. Cũng như lồng ghép giới vào chính sách, thực chất lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển KT-XH không có nghĩa là có các kế hoạch riêng biệt cho phụ nữ và nam giới, thậm chí cũng không phải là kế hoạch riêng cho phụ nữ. Thay vào đó, lồng ghép giới vào kế hoạch là xem xét sự ảnh hưởng, sự tác động của mỗi kế hoạch (quốc gia, ngành, địa phương, cơ sở…) đối với nhu cầu và sự phát triển của phụ nữ.

Luật Bình đẳng giới bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành công của Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam. Tuy vậy, điều này cũng đòi hỏi việc lồng ghép giới vào công tác kế hoạch hoá phát triển KT-XH của đất nước phải thực sự đạt được hiệu quả, thúc đẩy việc đạt được công bằng trong sự phát triển xã hội, tức là tạo cơ hội như nhau cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ để họ có thể phát triển hài hoà, đúng hướng, đúng mục đích.

Những vấn đề về bình đẳng giới hiện nay

Bất bình đẳng giới về kinh tế

Tham gia các hoạt động sản xuất và hưởng thụ kết quả sản xuất kinh doanh trong xã hội có sự góp mặt của cả nam và nữ. Tuy nhiên thực tế cho thấy luôn luôn có bất bình đẳng về cơ hội có việc làm, về lợi thế của các loại hình nghề nghiệp lựa chọn được, về tiền lương, thu nhập và cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ, gây nên hàng loạt bất bình đẳng khác cho xã hội. Thực tế cho thây: dư thừa lao động trong khu vực quốc doanh tác động mạnh đối với phụ nữ nhiều hơn nam giới; Sức ép về kéo dài ngày lao động và tăng sức lao động tiếp tục đè nặng lên đôi vai người phụ nữ; Sự khác biệt về lương, thu nhập và cơ hội về việc làm, về thăng tiến vẫn còn khá phổ biến. Đây là những vấn đề bức xúc về bình đẳng giới cần phải giải quyết hiện nay.

Khác biệt giới trong giáo dục, đào tạo

Trong vòng 25 năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều tiến bộ đáng ghi nhận về bình đẳng giới trong giáo dục. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến cuối năm 2005, có 96,87% số phụ nữ dưới 40 tuổi biết chữ, tỷ lệ lao động nữ được đào tạo đạt 20,45%. Trong tổng số lao động được đào tạo trên đại học, có 30,1% là nữ. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều vấn đề bất bình đẳng giới: Tỷ lệ trẻ em gái đi học tiểu học và trung học còn thấp, đặc biệt ở vùng nghèo và dân tộc. Số phụ nữ không biết chữ vẫn còn cao. Thậm chí, phụ nữ người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn thiều người chưa biết tiếng phổ thông, nên nhận thức xã hội bị hạn chế, rất ít tham gia vào công tác xã hội.

Khác biệt về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ

Tồn tại lớn nhất vẫn là nhận thức về bình đẳng giới và sự chỉ đạo của các cấp các ngành trong việc triển khai lồng ghép giới và các nhiệm vụ cụ thể trong chăm sóc sức khoẻ, như tỷ suất mẹ chết, sức khoẻ bà mẹ, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi và tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giữa các vùng miền còn là những vấn đề bức súc. Tình trạng nạo phá thai còn khá phổ biến.

Khác biệt trong việc tham gia công tác xã hội và vai trò đối với việc ra quyết định quản lý KT-XH

Thời gian qua, với sự chỉ đạo của Chính phủ có sự tham mưu của Uỷ ban Quốc gia vì Sự tiến bộ của Phụ nữ và các Bộ, ngành liên quan, việc triển khai thực hiện Mục tiêu 4 của Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ quan trọng. Bước đầu đã nâng cao được chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; đã tăng được số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành; tham gia lãnh đạo quản lý KT-XH của đất nước.

Continue reading

CHỐNG THAM NHŨNG PHẢI TỪ LUẬT ĐẤT ĐAI

NGUYÊN TẤN

Đất đai có thể nói đã và đang trở thành một nguồn lợi béo bở nhất, đồng thời cũng dễ dàng nhất cho nạn tham nhũng hiện nay. Do đó, không nên bỏ qua mục tiêu ngăn chặn tham nhũng khi sửa đổi Luật Đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Dù với tư cách đại diện chủ sở hữu nhưng Nhà nước có quyền gần như tuyệt đối trong việc định đoạt đối với đất đai.

Ví dụ, theo điều 5, Luật Đất đai, Nhà nước có các quyền: quyết định mục đích sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất; định giá đất; quyết định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất…

Với những quyền to lớn đó, nếu không có quy định ràng buộc chặt chẽ và cơ chế giám sát hữu hiệu thì tất yếu sẽ nảy sinh tham nhũng, nhất là khi đất đai trở thành một thứ hàng hóa có giá trị như hiện nay.

Thực tế cho thấy, tiêu cực, sai phạm đang có mặt trong hầu hết tiến trình thực thi quyền lực đối với đất đai nhưng phổ biến hơn cả là trong việc thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất… Việc thu hồi đất dù thủ tục xem ra hết sức phức tạp, rối rắm, nhưng lại đang bị lợi dụng, lạm dụng đến mức có người cho rằng “không đâu như ở Việt Nam thu hồi đất dễ như vậy”.

Một trong những cách thu hồi đất nhanh và rẻ là “thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế”. Với trường hợp này, người được giao đất được lợi rất nhiều thứ. Một mặt, việc thu hồi đất sẽ do Nhà nước “gánh” giùm và mặt khác tiền đền bù luôn luôn thấp vì áp theo khung giá do Nhà nước ấn định. Nói cách khác, họ được “cấp” đất với chi phí rẻ so với giá đất trên thị trường, ngược lại người bị thu hồi luôn luôn phải chịu thua thiệt nặng nề. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, chỉ hơn một năm qua, từ đầu năm 2008 đến nay, trong 12.039 vụ thanh tra tại các tỉnh, thành phố, cơ quan chức năng đã phát hiện 8.052 héc ta đất có sai phạm, kiến nghị thu hồi 3.790 héc ta, đã thu hồi 361,9 héc ta đất.

Với những mặt tiêu cực có thể xảy ra, việc thu hồi đất lẽ ra nên hết sức hạn chế, thế nhưng, pháp luật về đất đai lại mở rộng cho quá nhiều đối tượng được áp dụng.

Theo điều 40, Luật Đất đai, có bốn trường hợp Nhà nước được thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế gồm đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn.

Continue reading