XÃ HỘI DÂN SỰ, TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

NGUYỄN NGỌC GIAO

Tổ chức bầu cử chỉ cần 6 tháng, lập nên một nền kinh tế thị trường thì một năm, còn muốn tạo ra một xã hội dân chủ phải cả một thế hệ. Mà không có xã hội dân sự thì không thể có dân chủ.

Ralf Dahrendorf

Trong câu chuyện nổi tiếng của Lewis Carroll, Alice ở Xứ Thần Tiên, có con mèo Cheshire. Đó là con mèo ảo, khi hiện ra khi biến mất, sắc sắc không không. Nó lại có đặc điểm là thường hay mở miệng cười. Đặc biệt là có khi nó mất dạng, nhưng nụ cười của nó vẫn còn đó. Khiến cho cô bé Alice, một người ít khi ngạc nhiên vì bất cứ cái gì, kể cả những điều nghịch lí nhất, cũng phải kinh ngạc thốt lên: “Tôi từng thấy những con mèo không cười, chứ chưa bao giờ thấy cái cười không mèo”. Nhà Trung Quốc học người Pháp Yves Chevrier[1] đã nhắc tới con mèo Cheshire khi ông bàn tới “xã hội dân sự” ở Trung Quốc, hay đúng hơn, khi ông nghiên cứu những bước truân chuyên lao tâm khổ tứ của những nhà Trung Quốc học khi họ đi tìm “xã hội dân sự” ở Trung Quốc, cổ đại và hiện đại, để rồi rốt cuộc hình như không đi xa hơn cuộc tranh luận nảy lửa: có thể “áp đặt” khái niệm “Tây phương” là “societas civilis” vào việc nghiên cứu một nước phương Đông là Trung Quốc hay không?

Có nhà nghiên cứu còn viện dẫn G. W. F. Hegel, nhà triết học nghe nói đã viết ở đâu đó rằng Trung Quốc là một Nhà nước không có xã hội.[2] Chẳng biết, chẳng hiểu gì về Hegel, nhưng nghe câu nói động trời ấy, tôi vội gõ vào cái cửa thích đáng nhất là địa chỉ email của người đã dịch Hiện tượng học tinh thần.[3] Được trả lời: câu ấy không thấy trong văn bản, không có trong mấy chục trang Hegel viết về phương Đông, cụ thể trong Các bài giảng về Lịch sử triết học (tập I) và Các bài giảng về triết học Lịch sử. Nó phản ánh phần nào cái nhìn của Hegel về Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng câu chữ như vậy, nếu có, thì không “hê-ghê-liên” chút nào, vì đối với Hegel, “Nhà nước” cao hơn “xã hội”.

Nhưng thôi, chuyện Hegel, chúng ta lát nữa sẽ đề cập. Xin trở lại “con mèo Cheshire” và cái “cười” của nó. Trước khi xem ở Trung Quốc và Việt Nam có mèo, có  mèo cười hay mèo không cười, có cười có mèo hay không mèo, chúng ta hãy làm công việc “chính danh”: thử định nghĩa “xã hội dân sự”, và rất nhanh chóng, chúng ta sẽ thấy nó là một mớ bòng bong khá rối rắm, nó là A và là không-A, nó được giá và mất giá, nó đáng sợ, đáng nghi và nó rất cần, “không có nó thì không có dân chủ” ; tóm lại, muốn gỡ mối bòng bong ấy, để biết chúng ta bàn về cái gì, thì trước hết, xin điểm qua lịch sử của cụm từ “xã hội dân sự”. Sau đó, chúng ta sẽ xét tới số phận của cụm từ ấy ở “phương Đông” là Trung Quốc và Việt Nam, và từ đó, bàn qua thực trạng và triển vọng của bản thân xã hội dân sự ở đó.

Lịch sử một cụm từ – khái niệm

Cụm từ “civil society” / “société civile” mãi đến thế kỉ 17 mới xuất hiện trong các văn bản tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng “nguyên bản” bằng tiếng Latinh của nó, “societas civilis”, đã được Cicéron sử dụng  từ thời Cổ La Mã, với một nội dung tương đương với  cụm từ Hi Lạp koinōnia politikē. Trong thời cổ đại và trung cổ, cái xã hội được gọi là civilis ấy chính là xã hội con người được tổ chức thành Nhà nước, nó hầu như đồng nhất với khái niệm Nhà nước, civilis được hiểu với hai nghĩa: một là nó văn minh / civilisé, đối nghịch với trật tự tự nhiên, hoang dại, tức là nó có pháp luật, có lễ độ ; hai là công dân, người tham gia trực tiếp vào sinh hoạt dân chủ của thành quốc – tất nhiên, tại thành quốc Athènes, cái nôi của nền dân chủ ấy, số công dân chỉ là một thiếu số nhỏ bé, vì trong đó không có đàn bà, không có nô lệ, không có mê-téc μετοίκος / metoikos nghĩa là “người ngoài”, những người “ngụ cư” (chắc cũng không có… Việt kiều luôn).

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP VÀ PHƯƠNG THỨC HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Lut Dân s– Trường Đại hc Lut Hà Ni

1. M đầu

Bên cạnh tài sản hữu hình, tài sản vô hình (trong đó bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ)[1] cũng khẳng định vai trò thiết yếu của nó đối với không chỉ các nhà sản xuất, các doanh nghiệp[2] mà còn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Theo ngài Kamil Idris – Tổng giám đốc Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), “Mặc dù tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều này không còn đúng nữa. Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên tri thức”[3]. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cũng khẳng định rằng: Sở hữu trí tuệ thuộc về tất cả các dân tộc, liên hệ tới mọi thời đại và nền văn hoá, đồng thời sở hữu trí tuệ cũng đánh dấu sự tiến triển của thế giới, có đóng góp trong qúa trình lịch sử cho tiến bộ xã hội.[4]

Nhận thức được tầm quan trọng của tài sản vô hình cũng như quyền sở hữu trí tuệ và yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từ nhiều thế kỷ trước, các quốc gia đã có chính sách, chiến lược thích hợp cho việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tụê[5]. Hiện nay, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, cơ sở pháp lý cho sở hữu trí tuệ đã ở mức độ hoàn thiện. Tuy vậy, ở Việt nam, văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ được ban hành rất muộn và những quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ bộc lộ quá nhiều hạn chế. Để bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả những giá trị to lớn của tài sản trí tuệ, đồng thời thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế[6], chúng ta cần phải nghiêm túc, thận trọng, và khách quan xem xét những bất cập của các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện các quy định này. Có như vậy, sở hữu trí tuệ mới thực sự là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế.

Đề tài này được thực hiện trong hoàn cảnh BLDS năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ mới có hiệu lực, nhiều văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ được ban hành trước khi ban hành BLDS năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ vẫn được áp dụng. Bởi vâỵ, đề tài này tập trung vào phân tích cả những bất cập của các quy định pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ trước khi ban hành BLDS năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ và những hạn chế trong các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của BLDS năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của nước ta.

2. Nhng bt cp ca các quy định pháp lut Vit Nam v quyn s hu trí tu[7]

Trước hết, phải khẳng định rằng ở nước ta, các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ được ban hành trước đây và những quy định hiện hành đã tạo được cơ sở pháp lý cho hoạt động sáng tạo trí tuệ, khuyến khích sự sáng tạo của cá nhân, tổ chức; đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

Bên cạnh đó, tuy nhiên, nhiều hạn chế còn tồn tại. Sau đây, tác giả xin chỉ ra những bất cập cơ bản của các quy định pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ[8].

Continue reading

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TS. NGUYỄN NGỌC KHÁNH – Phó Tổng biên tập Tạp chí Kiểm sát

1. Vị trí, vai trò Viện kiểm sát (Viện công tố) của một số nước trên thế giới trong tố tụng dân sự

1.1. Vị trí, vai trò Viện công tố Pháp trong tố tụng dân sự

Viện công tố Pháp có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc với hai tư cách: Thứ nhất, với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công, Viện công tố có thể tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự, đưa yêu cầu giải quyết việc dân sự ra trước Toà án (như đưa ra yêu cầu tuyên bố một người mất tích hay là đã chết, đưa ra yêu cầu Toà án chỉ định người quản lý di sản thừa kế…), hoặc tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước khi bị kiện; thứ hai, với vai trò đại diện và bảo vệ luật pháp, Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) và tham gia tố tụng để cho ý kiến về việc áp dụng pháp luật tại phiên toà giải quyết vụ việc dân sự.

1.2. Vị trí, vai trò Viện kiểm sát Liên bang Nga trong tố tụng dân sự

Viện kiểm sát Liên bang Nga tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, Kiểm sát viên Liên bang Nga thực hiện 2 nhóm quyền cơ bản: Thứ nhất, khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương; thứ hai, tham gia tố tụng và phát biểu kết luận đối với những vụ án liên quan đến việc buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ, hoặc trong những trường hợp khác do luật quy định.

1.3. Vị trí, vai trò Viện kiểm sát Trung Quốc trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, vị trí, vai trò Viện kiểm sát Trung Quốc được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu: Thứ nhất, nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng để khởi kiện vụ án dân sự, cụ thể là trường hợp tài sản quốc gia, tài sản tập thể bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây nên, mà cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không tự đề xuất khởi kiện dân sự, Viện kiểm sát có thể quyết định việc khởi kiện dân sự kèm theo cùng với việc đưa ra cáo trạng buộc tội. Việc khởi kiện dân sự sẽ được xét xử đồng thời với vụ án hình sự. Kiểm sát viên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án có quyền, nghĩa vụ tương tự như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ nộp các lệ phí tố tụng; thứ hai, thực hiện chức năng giám sát pháp luật trong tố tụng dân sự thông qua hoạt động kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Continue reading

ĐÂU TƯ CÓ ĐIỀU KIỆN: QUI ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC, THỰC TIỄN TRIỂN KHAI, VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

NGUYỄN ĐÌNH TÀI

Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định một số lĩnh vực, ngành nghề đầu tư – kinh doanh có điều kiện (1). Quy định này không phải chỉ riêng Việt Nam mới áp dụng, mà trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều có quy định về điều kiện để đầu tư (2) trong một số lĩnh vực, ngành, nghề mà từng quốc gia đó cho là có những ảnh hưởng quan trọng đến xã hội, kinh tế, an ninh của đất nước. Trong chừng mực nào đó, điều kiện đầu tư hay đầu tư có điều kiện còn được các tổ chức quốc tế đặt ra cho các thành viên trong tổ chức đó phải tuân thủ.

Các quy định hiện hành của Việt Nam về lĩnh vực ĐT có điều kiện

Hiện tại, những lĩnh vực ĐT có điều kiện được quy định trong các văn bản chủ yếu sau:

Điều 29 Luật ĐT 2005 qui định 9 lĩnh vực ĐT có điều kiện áp dụng chung cho cả nhà ĐT nước ngoài và nhà ĐT trong nước: Lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Lĩnh vực tài chính, ngân hàng; Lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng; Văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản; Dịch vụ giải trí; Kinh doanh bất động sản; Khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên; môi trường sinh thái; Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; Một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật.

Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định 14 lĩnh vực ĐT có điều kiện áp dụng cho nhà ĐTNN: Phát thanh, truyền hình. Sản xuất, xuất bản và phân phối các sản phẩm văn hoá. Khai thác, chế biến khoáng sản. Thiết lập hạ tầng mạng viễn thông, truyền dẫn phát sóng, cung cấp dịch vụ viễn thông và internet. Xây dựng mạng bưu chính công cộng; cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát. Xây dựng và vận hành cảng sông, cảng biển, cảng hàng không, sân bay. Vận tải hàng hoá và hành khách bằng đường sắt, đường hàng không, đường bộ, đường biển, đường thuỷ nội địa. Đánh bắt hải sản. Sản xuất thuốc lá. Kinh doanh bất động sản.ĐT trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối. Giáo dục, đào tạo. Bệnh viện, phòng khám. Các lĩnh vực ĐT khác trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cam kết hạn chế mở cửa thị trường cho nhà ĐTNN..

Biểu cam kết cụ thể về thương mại và dịch vụ của Việt Nam với WTO có quy định các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong 14 ngành dịch vụ.

Tiếp tục triển khai thực hiện cam kết, hiện nay Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tiến hành nghiên cứu, rà soát và đề xuất việc thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO theo hướng rút ngắn thời gian hạn chế mở cửa và mở rộng tỷ lệ vốn tham gia đối với một số ngành nghề, lĩnh vực. Dự kiến những dịch vụ đó là: Cho thuê máy móc, thiết bị; nghiên cứu thị trường; phân tích và kiểm định kỹ thuật; tư vấn khoa học, kỹ thuật; sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị; khai thác mỏ; giáo dục; môi trường; y tế, xã hội; khách sạn và nhà hàng.

Thực hiện quy định về điều kiện ĐT

Sau hơn hai năm chính thức là thành viên của WTO, Việt Nam đã áp dụng nhiều nội dung cam kết theo đúng quy định và lộ trình thực hiện được rút ngắn, thông thoáng và dễ dàng hơn cho các nhà ĐT. Đặc biệt, đáng ghi nhận là việc quy định rõ ràng tỉ lệ vốn của nhà ĐTNN được phép tham gia ĐT tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực ĐT. Ví dụ, trong lĩnh vực hàng hải, nhà ĐTNN không được sở hữu quá 49%, hay trong ngành viễn thông mức khống chế là không quá 51% áp dụng đối với nhà ĐTNN kinh doanh trong lĩnh vực đường trục.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

THS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Trước tình trạng việc vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng còn diễn biến phức tạp, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta còn nhiều bất cập cả về phương diện quy định và công tác tổ chức thực thi, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) đã chính thức được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII. Đến nay, Bộ Công thương, cơ quan chủ trì soạn thảo đạo luật này đã thực hiện những công việc khởi động bước đầu, trong đó có việc đánh giá thực trạng công tác bảo vệ người tiêu dùng, thực trạng pháp luật BVQLNTD và xây dựng đề cương Dự thảo Luật BVQLNTD. Hiện có nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn về việc nên hay không nên xây dựng đạo luật này và nếu xây dựng thì phạm vi điều chỉnh ra sao. Bài viết này góp phần vào việc giải quyết những vấn đề đó.

1. Bắt đầu từ vấn đề của người tiêu dùng

Trong hệ thống pháp luật nước ta hiện nay, có khá nhiều luật, pháp lệnh có nội dung quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về bảo vệ người tiêu dùng, như: Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999, Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS), Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007, Pháp lệnh Vệ sinh, an toàn thực phẩm năm 2003, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Pháp lệnh Giá năm 2002… Như vậy, Luật BVQLNTD khi được ban hành (thay cho Pháp lệnh BVQLNTD) sẽ thực hiện những nhiệm vụ gì và những nhiệm vụ đó hiện nay đã được đáp ứng như thế nào bởi các luật, pháp lệnh hiện tại.

Chúng ta đều biết rằng, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có nhiệm vụ cung cấp các giải pháp pháp lý để giải quyết các vấn đề mà người tiêu dùng thường mắc phải trong thực tiễn mua sắm, tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ của mình. Kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và quốc tế cho thấy, trong quan hệ mua sắm hoặc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, người tiêu dùng thường gặp bốn vấn đề (hay bốn yếu thế) cơ bản sau:

– Yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hoá, dịch vụ trong quan hệ mua bán, trao đổi (vấn đề thông tin không cân xứng). Người tiêu dùng, do không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá, dịch vụ, cũng như do những hạn chế trong hiểu biết về chuyên môn, kỹ thuật nên thường không hiểu được đầy đủ tính năng, công dụng, chất lượng, các rủi ro liên quan tới quá trình tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ như các tổ chức, cá nhân sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ (tạm gọi là thương nhân). Trong giao dịch với thương nhân, ngườitiêu dùng còn có thể gặp các bất lợi khác như không nắm bắt được thông tin về giá cả của các loại hàng hoá, dịch vụ tương tự, các thông tin về chất lượng dịch vụ, hậu mãi, v.v..

– Yếu thế trong việc đàm phán, thiết lập hợp đồng, giao dịch khi quan hệ với các thương nhân trên thị trường.

– Yếu thế về khả năng chi phối giá cả, các điều kiện kinh doanh, giao dịch trên thị trường, nhất là trong các thị trường mà chỉ có một số ít doanh nghiệp chi phối, chiếm lĩnh.

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: CHẬM CHO THÔNG QUAN, HẢI QUAN BỊ KIỆN

HỒNG TÚ

Doanh nghiệp nói hải quan làm trái pháp luật và đòi bồi thường hơn 200 triệu đồng. Hải quan lại bảo doanh nghiệp bôi nhọ danh dự của ngành và xem thường kỷ cương phép nước. Dự kiến hôm nay (4-5), TAND TP.HCM sẽ tuyên án vụ Công ty cổ phần Hưng Cơ kiện Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 4 (gọi tắt là Hải quan 4) vì cho rằng Hải quan 4 đã không cho thông quan hàng, gây thiệt hại cho mình. Trước đó, ngày 27-4, vụ án này đã được TAND TP đưa ra xét xử.

Bên nói phải kiểm tra, bên bảo không

Theo hồ sơ và diễn biến phiên tòa, ngày 28-11-2008, Công ty Hưng Cơ đã làm thủ tục hải quan nhập khẩu qua Cảng Sài Gòn hơn 220 tấn cáp thép dự ứng lực dùng trong xây dựng. Theo Hải quan 4, số lượng cáp thép trên là dây thép dự ứng lực làm cốt bê-tông có tiêu chuẩn kiểm tra là TCVN 6284-2:1997. Đây là mặt hàng nằm trong diện phải kiểm tra nhà nước về chất lượng theo Quyết định 50 ngày 7-3-2006 của Thủ tướng (về danh mục hàng hóa phải qua kiểm tra chất lượng trước khi cho thông quan). Như vậy, mặt hàng này chỉ được thông quan sau khi đã có kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng.

Không đồng ý, Công ty Hưng Cơ cho rằng lô hàng của mình không nằm trong diện phải kiểm tra chất lượng theo Quyết định 50. Dẫn chứng, Công ty Hưng Cơ chứng minh: Chỉ ba ngày trước, công ty cũng nhập về một lượng hàng tương tự và được Hải quan 4 cho xuất hàng ra khỏi cảng ngay trong ngày mà không bị ách lại để chờ kiểm tra chất lượng. Cạnh đó, theo công ty, phía Hải quan 4 nói rằng cáp thép trên là cáp thép dự ứng lực làm cốt bê-tông cũng chưa đúng. Cáp thép dùng làm cốt bê-tông phải là cáp thép thẳng, trong khi đó cáp thép mà công ty nhập về chỉ là cáp thép xoắn bảy sợi nên không thể làm cốt bê-tông được. Do vậy, Hải quan 4 áp dụng Quyết định 50 trong trường hợp của công ty là không đúng.

Dắt nhau ra tòa

Ngày 1-12-2008, Hải quan 4 đã có phiếu yêu cầu Công ty Hưng Cơ đến cơ quan chức năng để đăng ký kiểm tra chất lượng lô hàng cáp thép trên. Ngay trong ngày, Công ty Hưng Cơ đã có hai văn bản gửi cho Hải quan 4 với nội dung là mặt hàng của công ty không thuộc danh mục phải kiểm tra chất lượng và đề nghị Hải quan 4 phải cho thông quan ngay.

Sau đó, dù phản đối quan điểm của Hải quan 4 nhưng Công ty Hưng Cơ vẫn cử đại diện đến liên hệ với Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng 3 (Trung tâm 3) để đăng ký kiểm tra chất lượng lô hàng. Đồng thời, trong ngày hôm sau, Hải quan 4 cũng cho Công ty Hưng Cơ nhận hàng về bảo quản trong kho để chờ kết quả kiểm tra chất lượng.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: “ÔNG HỘI ĐỒNG HUYỆN” CẢN TRỞ THI HÀNH ÁN

VĂN ĐOÀN

Mặc dù Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao đã khẳng định án phúc thẩm xử đúng nhưng Hội đồng nhân dân (HĐND) huyện vẫn đòi giám đốc thẩm. Mặc dù đã hơn hai năm trôi qua nhưng ông Nguyễn Kim Cương (ngụ thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, Long An) vẫn chưa được giao trả 200 m2 đất tại địa phương trên theo phán quyết của tòa án cấp phúc thẩm.

Thắng kiện nhờ có “giấy đỏ”

Theo sổ mục kê thì mẹ ông Cương đứng tên 200 m2 đất trên. Trước đây, thấy người hàng xóm là ông C. không có nhà ở nên gia đình ông Cương đã cho ông C. sử dụng phần đất đó để cất nhà ở. Song ông C. chỉ cất nhà tạm và nay thì ông C. cũng đã có chỗ ở ổn định nên phía ông Cương yêu cầu ông C. trả lại đất.

Ông C. không đồng ý trả đất với lý do đã được cha ông Cương cho đất vào năm 1989 và cá nhân ông đã được UBND huyện cho phép xây cất nhà. Theo ông C., số đất tranh chấp giờ thuộc quyền sử dụng của ông chứ không phải của gia đình ông Cương.

Bản án dân sự sơ thẩm năm 2007 của TAND huyện Đức Hòa đã xử cho ông C. thắng kiện. Ông C. được quyền sử dụng 200 m2 đất và được phép liên hệ với các cơ quan thẩm quyền để làm thủ tục cấp “giấy đỏ”.

Tuy nhiên, bản án dân sự phúc thẩm năm 2007 của TAND tỉnh Long An lại xử cho ông Cương thắng kiện. Theo hội đồng xét xử phúc thẩm, phía ông Cương xuất trình được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (màu trắng) và UBND thị trấn cũng đã xác nhận mẹ ông Cương là người đứng tên trong sổ mục kê. Ngoài ra, ông Cương đã được UBND huyện cấp “giấy đỏ” vào năm 1991. Ngược lại, phía ông C. không cung cấp được giấy tờ chứng minh đã được cha ông Cương cho đất. Cuối cùng, TAND tỉnh Long An tuyên xử ông C. có nghĩa vụ tháo dỡ căn nhà tạm đã cất để giao trả 200 m2 đất cho ông Cương. Ông C. được quyền lưu cư trong thời hạn ba tháng tính từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Lúc phải chờ kháng nghị

Ngay sau đó, ông Cương đã nộp đơn đến Thi hành án (THA) huyện Đức Hòa để yêu cầu được THA. Nhưng không hiểu sao cơ quan này vẫn “án binh bất động”. Chờ lâu quá, ông Cương khiếu nại đến THA tỉnh Long An.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 65/2009/QĐ-Ttg NGÀY 24/4/2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH MỘT SỐ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ THUÊ

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Quy định chung

1. Nhà nước trực tiếp đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng nhà ở cho học sinh, sinh viên (sau đây gọi chung là nhà ở sinh viên) các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề không phân biệt công lập hay ngoài công lập (sau đây gọi chung là cơ sở đào tạo) thuê để ở trong quá trình học tập.

2. Việc đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên phải đảm bảo các yêu cầu: phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đáp ứng mục tiêu mỗi dự án có thể giải quyết chỗ ở cho sinh viên, học sinh của một số cơ sở đào tạo (cụm trường) trên địa bàn theo điều kiện cụ thể của từng địa phương; có hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, đảm bảo đủ các khu chức năng và không gian phục vụ nhu cầu ở, học tập, sinh hoạt văn hóa, thể dục – thể thao nhằm tạo môi trường sống văn hóa và lành mạnh.

3. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), tiến hành rà soát, điều chỉnh hoặc bổ sung quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương để tạo quỹ đất xây dựng nhà ở sinh viên. Đồng thời, phải xác định chỉ tiêu phát triển nhà ở sinh viên là một trong những chỉ tiêu cơ bản của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; các chỉ tiêu này phải được xây dựng hàng năm, từng thời kỳ, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, đặc điểm của từng địa phương và phải được tổ chức thực hiện, quy định chế độ trách nhiệm.

4. Phấn đấu đến năm 2015 giải quyết cho khoảng 60% số học sinh, sinh viên có nhu cầu được thuê nhà ở tại các dự án nhà ở trên địa bàn cả nước.

Điều 2. Thẩm quyền quyết định đầu tư dự án nhà ở sinh viên từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

1. Kế hoạch phát triển các dự án nhà ở sinh viên đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách phải được Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt trên cơ sở danh mục dự án do Bộ Xây dựng tổng hợp theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đối với các dự án nhà ở sinh viên trong khuôn viên cơ sở đào tạo thì phải có thỏa thuận của Cơ quan chủ quản. Đối với cơ sở đào tạo thuộc lực lượng vũ trang, Bộ chủ quản báo cáo trực tiếp với Bộ Xây dựng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thống nhất tổ chức quản lý các dự án nhà ở sinh viên được đầu tư xây dựng trên phạm vi địa bàn.

Continue reading