DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

image Hồ Chủ tịch đặt bút viết bản Di chúc ngày 10/5/1965, khi đó Người đã bước sang tuổi 75, vào tuổi "xưa nay hiếm", nói như nhà thơ Đỗ Phủ (đời Đường – Trung Quốc). Trong 3 năm sau đó, cứ từ mồng 10/5 đến 20/5, hàng ngày Người chọn giờ đẹp nhất (tức là 9 giờ sáng) để chỉnh sửa bản Di chúc – tài liệu đặc biệt bí mật, như cách Người gọi.

 

(Bản công bố năm 1969)

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—000—

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

………………………………….

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

+++

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là: “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chu nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào Cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

+ + +

Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

+ + +

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đông quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1969

HỒ CHÍ MINH

Bản thảo Di chúc cuối cùng của Bác:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

(Tuyệt đối bí mật)

Năm nay tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người "trung thọ". Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khoẻ càng thấp. Đó là một điều bình thường.

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy năm nữa?

Vì vậy, tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là "hỏa táng". Tôi mong rằng cách "hỏa táng" sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì "điện táng" càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây một một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ để nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

Điểm này không đi sâu vào chi tiết.

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chúng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra và trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh".

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rằng luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn ra một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc buôn lậu,v.v.. thì nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng vào ta nhất là đồng bào nhân dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý định miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn. Để giành lấy thắng lợi trong công cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

10-5-69

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày nào đó, tôi sẽ đi khắp miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng "nhân sinh thất thập cổ lai hy" nghĩa là "người thọ 70, xưa nay hiếm".

Năm nay, tôi 79 tuổi, đã là hạng người "xưa nay hiếm" nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột…

HỒ CHÍ MINH

SOURCE: Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh – NXB Thông Tấn, 2004

Trích dẫn từ:

http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Ho_Chi_Minh_voi_van_de_con_nguoi/3.viePortal

NGHỊ ĐỊNH SỐ 47/N2009/NĐ-CP NGÀY 13 THÁNG 5 NĂM 2009 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN

 CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan đối với tổ chức, cá nhân có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan mà không phải là tội phạm và theo quy định của Nghị định này phải bị xử phạt hành chính.

2. Vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan quy định tại Nghị định này bao gồm những hành vi vi phạm quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3. Hình thức xử phạt

1. Hình thức xử phạt chính: mỗi hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân phải chịu một trong hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.

2. Các hình thức xử phạt bổ sung bao gồm:

a) Tịch thu hàng hóa vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện và thiết bị được sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan;

b) Đình chỉ có thời hạn từ 90 ngày đến 180 ngày hoạt động kinh doanh, tư vấn, dịch vụ;

c) Tịch thu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan và các giấy tờ tài liệu liên quan khác bị sửa chữa, tẩy xóa, giả mạo hoặc đã bị hủy bỏ hiệu lực;

d) Tước quyền sử dụng Thẻ giám định viên về quyền tác giả, quyền liên quan.

Điều 4. Biện pháp khắc phục hậu quả

Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại Điều 3 Nghị định này, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị buộc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

1. Buộc khôi phục lại quyền đứng tên, đặt tên, giới thiệu tên, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng;

2. Buộc tiêu hủy hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan;

3. Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng để sản xuất hàng hóa vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan với điều kiện không làm ảnh hưởng đến việc khai thác quyền của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan;

4. Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất đối với:

a) Hàng hóa quá cảnh, nhập khẩu vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan;

b) Phương tiện, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng để sản xuất, kinh doanh bản sao mà không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, tổ chức đại diện tập thể quyền liên quan.

c) Thiết bị quá cảnh, nhập khẩu được sử dụng để làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ: MƯỢN NHÀ KHÔNG TRẢ, ĐEM HÓA GIÁ CHO CÁN BỘ

VŨ HOÀNG

Chuyện bắt đầu từ ngày 13-5-2003, khi ông Huỳnh Thanh Bạch, Chủ tịch UBND thị trấn Định Quán làm đơn xin mua căn nhà và đất thổ cư tại ấp Hiệp Cường, thị trấn Định Quán. Ngày 9-9-2004, UBND huyện Định Quán có công văn số 664/UBH duyệt bán hóa giá căn nhà trên cho ông Bạch. Sau khi ông Bạch nộp tiền, UBND huyện Định Quán ra Quyết định số 259 ngày 6-10-2005, công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bạch và vợ là bà Nhung. Ông Bạch cho người đến ở thì xảy ra tranh chấp. Bà Vũ Thị Cau là người ở sát vách, đã khiếu nại và cho rằng căn nhà và đất huyện ký bán cho ông Bạch, là của gia đình bà.

1. Cho mượn, mất nhà

Theo đơn khiếu nại của gia đình bà Vũ Thị Cau, chúng tôi đã đến địa phương tìm hiểu sự việc. Cơ quan chức năng đưa ra công văn số 928/UBND-NC ngày 20-7-2006 của UBND huyện Định Quán, xác định rõ nguồn gốc đất tranh chấp: Thời gian từ năm 1976 – 1977, Hợp tác xã mua bán xã Phú Hiệp đã “quản lý” hai gian nhà này để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Đến năm 1985, HTX Phú Hiệp giải thể nên bàn giao hai căn nhà này cho UBND thị trấn Định Quán quản lý. Từ đó đến trước ngày 15-12-2005, không có ai khiếu nại, thắc mắc gì về vấn đề này. Do vậy mà UBND huyện đã bán hóa giá cho ông Huỳnh Thanh Bạch. Văn bản này nêu: “Việc bà Cau và chồng là ông Nhương cho là nhà và đất nói trên của gia đình ông bà tạo lập, nhưng hai ông bà không cung cấp được các giấy tờ liên quan để chứng minh nguồn gốc đất và nhà là của gia đình ông bà. Theo quy định của pháp luật, một trong những căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình là được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất … (khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự 2005). Người sử dụng đất không chỉ có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp bảo vệ đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính mà còn phải có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất mình sử dụng (khoản 2 Điều 107 Luật Đất đai năm 2003). Trong suốt thời gian này ông bà không tiến hành đăng ký kê khai đối với diện tích 186,8m2 để thực hiện quyền của người sử dụng đất hợp pháp của mình. Hiện nay trong sổ mục kê và sổ địa chính của UBND thị trấn Định Quán thì không có tên của ông bà đối với diện tích đất đang tranh chấp. Bên cạnh đó bà chỉ cung cấp được những thông tin qua lời khai và xác nhận của những người làm chứng ngày 28-2-2008, thể hiện họ chỉ nghe, biết, nhưng không biết cụ thể về nguồn gốc tài sản khi Hợp tác xã Phú Hiệp thuê mướn căn nhà, đất nói trên.”

Sau vụ việc trên, ông Huỳnh Thanh Bạch lại làm đơn kiện bà Vũ Thị Cau và ông Phan Đình Nhương ra tòa. TAND huyện Định Quán đã chấp nhận đơn kiện của ông Huỳnh Thanh Bạch, buộc bà Vũ Thị Cau và ông Phan Đình Nhương phải trả lại tài sản gắn liền với QSD đất là căn nhà tọa lạc tại ấp Hiệp Cường, TT. Định Quán, cho ông Huỳnh Thanh Bạch.

Continue reading

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NHÀ ĐẤT TRUNG QUỐC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA WTO

TRUNG TÂM TIN HỌC – BỘ XÂY DỰNG

I. S phát trin ca ngành nhà đất Trung Quc

1. Khái quát:

Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế. Những quan điểm như thương mại hoá nhà ở và quyền về bất động sản nhà đất đã được các nhà lý luận đưa ra. Năm 1990 "Quỹ tích tụ nhà ở" đư ợc thành lập ở Thư ợng Hải. Giai đoạn từ 1987 đến 1991 là giai đoạn khởi đầu của thị trư ờng bất động sản Trung Quốc.

Năm 1992, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách nhà ở, "Quỹ tích tụ nhà ở" cũng được triển khai trên diện rộng. Ngành bất động sản nhà đất của Trung Quốc trong giai đoạn này phát triển rất nhanh, tuy nhiên ở một số thị trường địa phương bắt đầu xuất hiện những yếu tố không bền vững, một số nơi có hiện tượng phát triển bong bóng trong lĩnh vực bất động sản. Vào cuối năm 1993, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra thực hiện "chính sách kinh tế vĩ mô", mà hậu quả của chính sách này là tốc độ tăng trư ởng đầu tư trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc bị suy giảm dần. Thị trường bất động sản nhà đất sau đó phát triển rất chậm.

Sự tiếp tục cải cách sâu rộng chính sách nhà ở, trong bối cảnh thu nhập của ngư ời dân không ngừng tăng lên, đã khiến cho mức độ tiêu thụ nhà ở trở thành điểm nóng kinh tế ở Trung Quốc. Sau năm 1998, hệ thống cũ "phân phối nhà ở" đã bị bãi bỏ, và Trung Quốc chuyển sang thực hiện "hệ thống bán nhà" (người dân mua nhà từ thị trường). Ngành bất động sản nhà đất Trung Quốc đã bư ớc vào giai đoạn phát triển nhanh và vững chắc, nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế quốc dân.

Từ năm 2003, giá cả trên thị trường bất động sản Trung Quốc tăng nhanh chóng, thậm chí tăng trư ởng quá nóng. Để kiểm soát tình hình, Chính phủ Trung Quốc một lần nữa đã ban hành những chính sách để điều tiết ngành này.

2. Th trưng bt động sn nhà đất Trung Quc

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì việc kinh doanh ở Trung Quốc là rất khó khăn. Bên cạnh những rào cản về ngôn ngữ và văn hoá, nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn phải đối mặt với nhiều trở ngại khác như hệ thống các quy định và pháp luật chư a thực sự minh bạch, hệ thống thuế quá phức tạp và các cơ quan công quyền mang đậm tính chất quan liêu, mặc dù Trung Quốc đã đạt đư ợc bư ớc tiến lớn kể từ khi mở cửa ra thế giới bên ngoài từ cuối thập niên 1970 và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã gần 30 năm. 10 năm trư ớc đây, có lẽ rất ít người dân Trung Quốc nghĩ đến việc sở hữu một ngôi nhà. Hiện nay, với tỷ lệ sở hữu nhà đã đạt đến trên 60% ở các đô thị, Trung Quốc đã chứng tỏ là một quốc gia thành công nhất thế giới trong việc phát triển thị trường xây dựng nhà ở tư nhân trong một thời gian ngắn như vậy.

2.1. Th trư ng bt động sn nhà đất và s phát trin kinh tế.

Ngay sau khi nước CHND Trung Hoa mới đư ợc thành lập năm 1949, hầu hết các thửa ruộng của tư nhân hoặc thuộc sở hữu tư nhân đều đư ợc tập thể hoá đưa vào hợp tác xã. Sở hữu tư nhân về nhà ở trong các đô thị gần như bị xoá bỏ. Nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, Chính phủ Trung Quốc trong các thập niên 1960 và 1970 đã nỗ lực đầu tư. Một phần lớn sản lư ợng kinh tế của đất nư ớc do chính phủ sắp xếp và quản lý. Chính phủ đề ra mục tiêu sản xuất, quản lý giá và phân phối các nguồn lực cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đến năm 1978, gần 3/4 sản lư ợng công nghiệp là do các doanh nghiệp Nhà nư ớc sản xuất (SOEs) trên cơ sở các chỉ tiêu sản ư ợng kế hoạch hoá tập trung. Các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp vốn đầu tư nư ớc ngoài hầu như không tồn tại. Một trong những mục tiêu chính của Chính phủ Trung Quốc khi đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự cường.

Continue reading

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI KINH TẾ VIỆT NAM

VŨ KHOAN – Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ

Khủng hoảng kinh tế đang diễn ra mang tính toàn cầu, xem xét từ nhiều góc độ và đánh giá về những tác động của nó đối với nước ta là một vấn đề khó khăn, nhưng có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện.

I – Cuộc khủng hoảng hiện nay và tác động của nó đối với thế giới

1 – Khủng hoảng luôn là bạn đồng hành của kinh tế tư bản chủ nghĩa với biên độ ngày càng dầy hơn.

Các cuộc khủng hoảng đều diễn ra theo một trình tự đại thể như nhau, cho dù lĩnh vực và quốc gia hứng chịu đầu tiên, mức độ mạnh yếu, phạm vi lan tỏa, độ dài thời gian có thể khác nhau.

Về mức độ, quy mô cuộc khủng hoảng hiện nay là nghiêm trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và có thể so sánh với cuộc đại suy thoái 1929 – 1933. Giữa hai cuộc khủng hoảng mang tính thế kỷ này có nhiều điểm giống nhau, song cũng có nhiều điểm khác nhau.

Chúng giống nhau ở chỗ cả hai cuộc đều bùng phát ở Mỹ rồi lan tỏa sang các nền kinh tế khác, trước hết là châu Âu. Đại suy thoái 1929 – 1933 đã châm ngòi cho sự sụp đổ nhanh chóng của thị trường chứng khoán (trong vòng 2 tháng giá trị của 50 thị trường chủ yếu giảm 1/2). Cuộc khủng hoảng lần này bùng phát trước tiên trong hệ thống ngân hàng. Cả hai lần đều kéo theo tiêu dùng giảm sút, sản xuất đi xuống, thất nghiệp gia tăng đưa tới xáo động chính trị – xã hội. Riêng tại Mỹ, trong cả 2 cuộc khủng hoảng Đảng Dân chủ đều giành đa số ở cả Thượng viện và Hạ viện, cả 2 lần tổng thống thuộc Đảng Dân chủ thay thế tổng thống của Đảng Cộng hòa (lần trước Ph. Ru-dơ-ven thay H. Hu-vơ, lần này B. Ô-ba-ma thay G. Bu-sơ).

Về nguyên nhân nổ ra khủng hoảng cũng có nhiều điểm giống nhau. Cả hai cuộc đều bắt nguồn từ sự yếu kém trong việc quản lý hệ thống tài chính – tiền tệ và đều do "xài quá cái làm ra". Khủng hoảng lần trước do các ngân hàng mọc ra quá nhiều không kiểm soát nổi, đồng lương vượt xa lợi nhuận, tiêu dùng vượt ngưỡng tín dụng an toàn. Lần này, khủng hoảng cũng bắt nguồn từ chính sách tín dụng và tiêu dùng quá dễ dãi kéo dài nhiều năm, các ngân hàng đua nhau cấp tín dụng cho việc mua nhà trả góp, tạo nên bong bóng bất động sản, khi bong bóng nổ thì hệ thống ngân hàng tức thời đổ vỡ.

Phác đồ chữa trị cũng có nhiều điểm giống nhau. Trong cả 2 cuộc khủng hoảng nhà nước đều phải ra tay can thiệp (chính sau đại suy thoái 1929 – 1933 đã xuất hiện học thuyết kinh tế Giôn Kên (J. Keynes) chủ trương nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước), đều phải kích cầu và bảo hộ sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, bối cảnh nổ ra khủng hoảng có phần khác nhau. Khác với những năm 20 – 30 thế kỷ trước, ngày nay dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa và công nghệ thông tin, đồng tiền được dịch chuyển tự do trên mạng với giá trị gấp hàng trăm lần giá trị hàng hóa, nói cách khác, tiền tách khỏi hàng, hình thành đồng tiền ảo chuyển dịch trên mạng toàn cầu không ai kiểm soát nổi. Mặt khác, cũng dưới tác động của toàn cầu hóa, tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia tăng mạnh mẽ, trước nguy cơ chung các nước phải tìm cách phối hợp xử lý thông qua nhiều cơ chế toàn cầu, điều mà những năm 20, 30 thế kỷ trước không có được.

Continue reading

TÁI CẤU TRÚC – YÊU CẦU CẤP THIẾT CỦA NHIỀU DOANH NGHIỆP

LÊ THỊ VÂN CHÂU – Ngân Hàng Công Thương 14 – Tp.HCM

Đứng trước những thách thức mới của môi trường kinh doanh, cũng như nhu cầu phát triển, cùng với những khó khăn phát sinh trong kinh doanh nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp (DN) Việt Nam đang rất cần được tái cấu trúc lại (Restructuring) để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững.

Tái cấu trúc là quá trình nâng cao thể trạng của DN trên nền tảng hiện có, là quá trình thực hiện những thay đổi căn bản trong DN nhằm giúp DN hoạt động hiệu quả hơn, tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho DN để thực hiện những mục tiêu đã đề ra.

Một chương trình tái cấu trúc toàn diện sẽ bao trùm hầu hết các lĩnh vực như  cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của DN. Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai “cục bộ” tại một hay nhiều mảng của DN như tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất… nhằm đạt mục tiêu là nâng cao “thể trạng” của bộ phận đó.
Nội dung của việc tái cấu trúc trong điều kiện hiện nay cần bao gồm:
• Thay đổi tư duy quản lý từ các cấp lãnh đạo DN;
• Cải cách công tác quản lý, đưa ra một sơ đồ tổ chức chuẩn và phù hợp, trong đó phân định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm từng phòng ban, của Hội đồng quản trị và Ban điều hành, bố trí lại nhân sự, đưa ra các phương thức quản trị, báo cáo và đánh giá công việc đem lại hiệu quả;
• Tái cấu trúc lại các quy trình cung ứng, sản xuất, phân phối, kinh doanh nhằm hợp lý hóa các công việc, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả làm việc của từng bộ phận phù hợp với định hướng kinh doanh của DN;

Tái cấu trúc phải được bắt đầu bằng việc “tái lập chính mình” ở cấp lãnh đạo cao nhất của DN. Không có sự “tái lập chính mình” ấy, người chủ DN không thể thay đổi được nhận thức và không thể có được quyết tâm “xới” lên mọi ngóc ngách của DN để tìm ra những loại “bệnh tật” từng được che giấu dưới nhiều hình thức. Đa phần, những bệnh tật ấy có nguyên nhân sâu xa là từ người lãnh đạo cao nhất của DN. Và việc “chữa” được chúng hay không, phần lớn phụ thuộc vào chủ DN.
Tái cấu trúc DN đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng, ban, bộ phận và cần có những con người am hiểu về hệ thống quản lý chuẩn. Các Công ty tư vấn có thể hổ trợ DN tìm ra các giải pháp tái cấu trúc thích hợp. Hệ thống quản trị nội bộ, bộ máy nhân sự cũng nên được thiết lập lại cho phù hợp với chiến lược mới. Ví dụ như mới đây, để đáp ứng chiến lược mới đề ra, một công ty quản lý quỹ nước ngoài đã sa thải toàn bộ “dàn lãnh đạo” của mình để thay vào đó một ban điều hành mới.
Tái cấu trúc sẽ rà soát lại tất cả các quy trình hoạt động tại DN, từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối đến các mảng quản trị nhân sự, quản trị kế toán, tài chính. Từ đó, tìm ra những “lổ hổng” cần khắc phục, chỉnh sửa, yêu cầu phác hoạ lại các quy trình quản lý một cách logic, khoa học nhằm đảm bảo các công việc được xử lý nhanh chóng, hiệu quả.

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA VẤN NẠN THAM NHŨNG ĐỐI VỚI MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

PHẠM THỊ TÚY

Tham nhũng là một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Bởi tham nhũng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia, bởi nó làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước, xói mòn nguyên tắc pháp quyền, cản trở tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực xoá đói giảm nghèo, biến dạng điều kiện cạnh tranh trong giao dịch kinh doanh.

Khái quát về vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phát triển, trong đó có vấn nạn tham nhũng. Ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, tham nhũng thường bắt nguồn từ những căn nguyên:

Thứ nhất, những thiếu hụt hoặc bất cập từ sự chưa hoàn thiện của thể chế mà tập trung chủ yếu là cơ chế chính sách và pháp luật.

Đã hơn 20 năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kết quả đạt được thật đáng khích lệ, song những vấn đề còn tồn đọng cũng đáng kể, nổi bật đó là những thiếu hụt, bất cập về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật. Về cơ bản, những thể chế này đã được hình thành và đang có những tác động nhiều chiều đến sự phát triển của quốc gia, nhưng vẫn thiếu, chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở sự phát triển.

Thiếu hụt, bất cập của cơ chế, chính sách thông thường và phổ biến là tạo ra những “lỗ hổng” để các dạng thao túng kinh tế, thao túng chính trị hoành hành, ví như sự thiếu rõ ràng, chặt chẽ trong tổ chức, quản lý, giám sát việc thu thuế hay các hoạt động cấp phép như cấp các giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu, quy hoạch lại đất đai, thu các khoản phí và lệ phí… Chính những “khe hở” của cơ chế, chính sách ban hành đã tạo những cơ hội khác nhau cho các dạng tham nhũng hoặc dưới dạng tham nhũng kinh tế, hoặc tham nhũng về quyền lực, nhưng tựu chung đều hướng đến việc làm lợi cho một hay một số cá nhân có thế lực.

Thứ hai, năng lực quản lý và điều hành xã hội của bộ máy công quyền hạn chế

Thông thường ở những quốc gia đang phát triển và Việt Nam không phải là ngoại lệ, bộ máy công quyền nói chung, Chính phủ nói riêng thường phải đối mặt với quá nhiều vấn đề, trong khi năng lực, kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành xã hội là rất hạn chế so với yêu cầu. Điều đó, một mặt thể hiện ở việc tạo lập những cơ chế, chính sách và các thiết chế xã hội thiếu tính khả thi hoặc không bao quát và hiệu quả thấp, mặt khác, vừa do tính khả thi yếu của các thể chế, vừa do khả năng điều hành, tổ chức thực thi kém hiệu quả dẫn đến tình trạng bộ máy công quyền không thể kiểm soát hoặc kiểm soát rất hạn chế các “hoạt động” xã hội cũng như kiểm soát chính hoạt động của bộ máy. Vì thế, những yếu kém của thể chế kinh tế – xã hội có điều kiện bộc phát, từ đó dẫn đến những tiền đề cho các vấn nạn xã hội, trong đó có vấn nạn tham nhũng.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DỊCH VỤ CÔNG: BÀI TOÁN KHÓ GIẢI

NGUYỄN VẠN PHÚ

Bên cạnh khu vực doanh nghiệp nhà nước đã và đang được sắp xếp lại dưới các hình thức cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê… hàng chục ngàn đơn vị sự nghiệp công lập có thu cũng cần được đưa vào diện cải tổ để giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên cải tổ các đơn vị này như thế nào cho có hiệu quả là một bài toán cần được cân nhắc.

Gánh nặng cần giải quyết

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 7-2007, cả nước có trên 110.000 cơ sở sự nghiệp, tuyển dụng gần 2 triệu cán bộ, nhân viên. Trong số này bao nhiêu là có thu, bao nhiêu không có thu thì Tổng cục Thống kê không phân rõ. Đáng chú ý là so với năm năm trước đó, số cơ sở sự nghiệp tăng đến 43% và số cán bộ, nhân viên tăng 29%.

Trong số trên 110.00 cơ sở sự nghiệp này, chiếm tỷ trọng lớn nhất là các cơ sở giáo dục và đào tạo (trên 87.000), sau đó là đến y tế (13.700), thông tin và truyền thông (1.500), hoạt động chuyên môn, khoa học, công nghệ (1.500), nghệ thuật, giải trí (1.300), hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (430).

Với những đơn vị sự nghiệp công lập có thu như các đoàn ca nhạc nhẹ, nhà hát cải lương, ban quản lý bến xe, bến cảng… đã từng có nhiều ý kiến lẽ ra phải được chuyển giao cho tư nhân từ lâu. Thử hỏi vì sao ngân sách nhà nước phải nuôi hay góp phần để nuôi các đoàn ca nhạc nhẹ của các địa phương?

Ở những thành phố lớn như TPHCM, chỉ nên có một dàn nhạc giao hưởng do ngân sách địa phương lo, còn lại những loại hình văn hóa nghệ thuật thể thao khác nên chuyển sang cho tư nhân làm. Có người sẽ bảo, một đoàn xiếc chẳng hạn, không thể tự mình nuôi sống mình nếu hoạt động dưới cơ chế thị trường. Nếu chuyển sang cho tư nhân và thất bại thì sẽ làm mai một một loại hình nghệ thuật cần duy trì.

Thiết nghĩ những “đơn vị sự nghiệp có thu” như thế, một khi đã cổ phần hóa, không có nghĩa ngân sách nhà nước hay địa phương không thể tiếp tục duy trì tài trợ nếu thấy cần thiết phải duy trì một loại hình nghệ thuật nào đó vì lợi ích chung của xã hội. Chỉ có điều, những người chủ mới sẽ phải lập dự án, thuyết minh, thuyết phục hàng năm để được cấp kinh phí nếu chứng minh được hoạt động đó là phục vụ cho cộng đồng. Nơi cấp kinh phí như thế có thể là doanh nghiệp muốn tài trợ hay các quỹ quốc gia bảo trợ giáo dục, phát triển văn hóa…

Thật ra, các “đơn vị sự nghiệp công lập” hiện có nhiều loại, có loại tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, có loại chỉ cân đối một phần. Và Bộ Tài chính cũng đã ban hành nhiều văn bản theo hướng giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị này. Thế nhưng cho dù một đơn vị có thể thu đủ bù chi, thậm chí có lãi, vẫn là gánh nặng cho ngân sách vì việc cân đối thu chi như thế không tính đến các tài sản nhà nước giao cho họ, kể cả đất đai, cơ sở vật chất.

Bản thân các đơn vị này không được tự chủ trong việc trả lương cho nhân viên nên không giữ được người giỏi và hoạt động ngày càng yếu kém. Cổ phần hóa chúng là con đường trước sau gì cũng phải thực hiện.

Continue reading

GÓP Ý VỀ NỘI DUNG ĐIỀU 7, ĐIỀU 8 DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA CÁC LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Tôi đã nghiên cứu cụ thể Điều 7 và Điều 8 của Luật Sửa đổi, bổ sung này và đồng ý về nguyên tắc các nội dung đưa vào sửa đổi, bổ sung. Về chi tiết, tôi có các ý kiến sau đây:

1. Nội dung sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 35:

1.1. Nội dung dự thảo:

“2. Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong các trường hợp sau đây:

a) Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê;”

1.2. Nội dung góp ý:

Trong thực tế vận hành pháp luật về đất đai, đúng là đã xẩy ra tình trạng nhà đầu tư nước ngoài được thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và nhà đầu tư trong nước phải áp dụng chế độ Nhà nước giao đất trả tiền sử dụng đất, trong khi đó Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước lại tính tiền thuê đất chỉ bằng khoảng 30% tiền sử dụng đất. Như vậy, Nghị định này làm cho nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải trả khoảng 30% tiền sử dụng đất, trong khi đó nhà đầu tư trong nước phải trả 100% tiền sử dụng đất (quyền và nghĩa vụ ngang nhau).

Continue reading

ĐẶC TRƯNG CỦA MÔ HÌNH TÀI PHÁN HIẾN PHÁP ĐỨC

THS. VÕ TRÍ HẢO – GS. PhILIPS HUNIG – Freie Universitọt G – Berlin

Tài phán hiến pháp tồn tại ở nhiều nước khác nhau, muôn màu muôn vẻ, nhưng đều có thể xếp vào hai nhóm mô hình: mô hình Hoa Kỳ và mô hình Đức – áo. Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ được xem là cơ quan tài phán hiến pháp có quyền lực nhất trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình tài phán hiến pháp phổ biến nhất trên thế giới lại thuộc về người Đức. Thông qua việc phân tích bảy đặc trưng của mô hình tài phán hiến pháp Đức, bài viết góp phần lý giải sự thành công của mô hình Đức ở các môi trường chính trị, văn hóa khác nhau, điều mà mô hình Hoa Kỳ không có được.

1. Tài phán hiến pháp tập trung

Trong mô hình Hoa Kỳ, mọi tòa án đều có nghĩa vụ từ chối áp dụng một đạo luật, nếu thấy đạo luật này vi hiến. Những vị cha lập hiến của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 cho rằng không chỉ Tòa án tối cao liên bang, mà tất cả các tòa án các cấp của Liên bang đều có nghĩa vụ vô hiệu hóa các hành vi vi hiến. Nói cách khác, tài phán hiến pháp ở Hoa Kỳ thuộc về cành quyền lực tư pháp nói chung chứ không thuộc riêng về một tòa án nào. Người ta gọi đó là mô hình phi tập trung.

Khi Hans Kelsen(1) lần đầu tiên vào năm 1920 giới thiệu mô hình tài phán hiến pháp áo – Đức, dĩ nhiên ông cũng đã nghiên cứu mô hình Hoa Kỳ. Nhưng nguyên tắc “Nghị viện tối cao” cộng với truyền thống luật thực định lúc đó ở châu Âu còn quá mạnh, nên mô hình phi tập trung không được chấp nhận ở áo năm 1920 cũng như ở Đức năm 1949. Vì nếu một tòa án cấp huyện cũng có thể tuyên bố một đạo luật của Nghị viện là vi hiến, thì “lòng tự trọng của Nghị viện” sẽ bị tổn hại ghê ghớm và điều này là không thể chấp nhận được đối với các nghị sĩ Đức đương thời. áo, Đức bấy giờ hệ thống án lệ không mạnh, cũng tương tự như Việt Nam hiện nay, nếu chấp nhận hệ thống tài phán hiến pháp phi tập trung sẽ dẫn đến sự tổn hại cho nguyên tắc hệ thống pháp luật thống nhất, vì cùng một điều khoản hiến pháp sẽ được các tòa án khác nhau giải thích khác nhau dù hai vụ án có nội dung, đặc điểm giống nhau.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: THÂN CHỦ KIỆN LUẬT SƯ

HỒ KHẢI HÀ

Cho rằng luật sư thiếu trách nhiệm, xúc phạm mình, một thân chủ đã đòi luật sư trả lại một phần thù lao và xin lỗi… Bà H., ngụ tỉnh Bình Phước vừa gửi đơn đến tòa án một quận ở TP.HCM kiện đòi luật sư X. phải trả lại hơn 20 triệu đồng mà bà bỏ ra nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi trong một vụ tranh chấp. Bà cũng yêu cầu tòa buộc luật sư phải xin lỗi bà vì đã có những lời lẽ miệt thị, xúc phạm đến danh dự, uy tín của bà.

Thiếu nhiệt tâm?

Theo đơn kiện, trước đây, bà H. cho người quen mượn tiền, thỏa thuận vài tháng sau sẽ trả cả vốn lẫn lời. Đến hẹn, người quen không trả nên bà H. khởi kiện. Nghe giới thiệu, bà tìm luật sư X. nhờ tư vấn. Tới lui vài lần, bà cảm thấy tin tưởng khả năng của luật sư nên đã nhờ luật sư bảo vệ bà trong vụ kiện với khoản thù lao gần 50 triệu đồng. Sau đó, bà ứng trước cho luật sư 30 triệu đồng để chi phí đi lại, nước nôi…

Theo bà H., dù bà đã tạo điều kiện hết sức cho luật sư tham gia vụ án như báo trước vài ngày thời điểm tòa mời lên làm việc để luật sư sắp xếp công việc lên tòa cùng bà nhưng luật sư nhiều lần viện lý do này lý do nọ vắng mặt. Trong vụ kiện, có nhiều nội dung lẽ ra cần hướng dẫn cách giải quyết cho bà thì luật sư lại… làm thinh. Tòa nói bà nộp thêm chứng cứ này, chứng cứ kia thì cũng tự bà phải làm lấy, luật sư “chỉ khoanh tay đứng nhìn”. Gần như luật sư đã để cho bà “tự bơi” trong suốt vụ kiện.

Bà H. nói còn bực hơn nữa là ngay ngày tòa xử, dù đã biết trước nhưng đến “phút 89” luật sư lại báo bận phiên xử khác, không tham gia được, chỉ có thể gửi bài bảo vệ quyền lợi đến tòa. Bà H. cho rằng nội dung bài bảo vệ này không có gì mới, không có gì đặc sắc, ngay cả bà cũng có thể soạn được. Thậm chí, nhiều nội dung trong bài bảo vệ do chính bà đưa ra những khi trao đổi với luật sư, luật sư chỉ còn mỗi việc lập lại mà thôi. Rồi bà kết luận: Luật sư bỏ công sức không đáng bao nhiêu so với số tiền mà bà bỏ ra.

Xúc phạm thân chủ?

Chưa hết, bà H. kể vì thấy luật sư làm ăn không đến nơi đến chốn nên bà đã đòi luật sư trả lại 20 triệu đồng thù lao ứng trước (10 triệu đồng còn lại bà coi như là khoản chi phí xác thực mà luật sư được hưởng). Nghe xong, luật sư “nổi đóa”, ban đầu to tiếng, đôi co một lúc thì rủa bà thậm tệ. Luật sư nói bà qua cầu rút ván, quên tình cạn nghĩa, đáng lẽ phải cảm ơn luật sư vì giúp đòi được nợ, đằng này lại quay sang “đá đít”, phủi tay… Bực, bà cũng nói toạc là “luật sư chỉ ăn tiền rồi thì sống chết mặc bay”. Luật sư đáp lại rằng bà “ăn ở thất đức nên mới vướng phải kiện tụng lung tung”. Luật sư còn đe sẽ kiện bà ra tòa đòi 20 triệu đồng còn lại theo thỏa thuận cho bà “vô phúc đáo tụng đình luôn”!

Continue reading

CHỐNG THAM NHŨNG PHẢI TỪ LUẬT ĐẤT ĐAI

NGUYÊN TẤN

Đất đai có thể nói đã và đang trở thành một nguồn lợi béo bở nhất, đồng thời cũng dễ dàng nhất cho nạn tham nhũng hiện nay. Do đó, không nên bỏ qua mục tiêu ngăn chặn tham nhũng khi sửa đổi Luật Đất đai.

Theo quy định của Luật Đất đai thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Dù với tư cách đại diện chủ sở hữu nhưng Nhà nước có quyền gần như tuyệt đối trong việc định đoạt đối với đất đai.

Ví dụ, theo điều 5, Luật Đất đai, Nhà nước có các quyền: quyết định mục đích sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất; định giá đất; quyết định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất…

Với những quyền to lớn đó, nếu không có quy định ràng buộc chặt chẽ và cơ chế giám sát hữu hiệu thì tất yếu sẽ nảy sinh tham nhũng, nhất là khi đất đai trở thành một thứ hàng hóa có giá trị như hiện nay.

Thực tế cho thấy, tiêu cực, sai phạm đang có mặt trong hầu hết tiến trình thực thi quyền lực đối với đất đai nhưng phổ biến hơn cả là trong việc thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất… Việc thu hồi đất dù thủ tục xem ra hết sức phức tạp, rối rắm, nhưng lại đang bị lợi dụng, lạm dụng đến mức có người cho rằng “không đâu như ở Việt Nam thu hồi đất dễ như vậy”.

Một trong những cách thu hồi đất nhanh và rẻ là “thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế”. Với trường hợp này, người được giao đất được lợi rất nhiều thứ. Một mặt, việc thu hồi đất sẽ do Nhà nước “gánh” giùm và mặt khác tiền đền bù luôn luôn thấp vì áp theo khung giá do Nhà nước ấn định. Nói cách khác, họ được “cấp” đất với chi phí rẻ so với giá đất trên thị trường, ngược lại người bị thu hồi luôn luôn phải chịu thua thiệt nặng nề. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng.

Continue reading

VẤN NẠN HÀNG NHÁI, HÀNG GIẢ HIỆN NAY

TS. NGUYỄN QUỐC LUẬT

Hiện nay, tình trạng hàng nhái, hành giả tràn lan trên thị trường là rất phổ biến từ gói bánh, hộp kẹo, gói mì chính đến kính đeo mắt, đồng hồ, vật liệu xây dựng, hàng mỹ phẩm,… Nguy hiểm hơn là thị trường hàng giả đang có xu hướng gia tăng trong cả lĩnh vực hàng không, linh kiện ô tô và dược phẩm. Bởi lẽ đó, cần có những biện pháp mạnh hơn nữa nhằm giải quyết vấn nạn hàng nhái, hàng giả để bảo vệ người tiêu dùng và nền sản xuất trong nước.

Thực trạng nạn hàng nhái, hàng giả ở nước ta

Theo báo cáo của cơ quan công an ở 43/64 tỉnh/thành từ năm 2002 đến 2007, có tới gần 11.000 vụ và 1.500 đối tượng buôn bán hàng giả bị phát hiện, gây hại và đe dọa nghiêm trọng thị trường trong nước. Thống kê sơ bộ về hàng giả bị bắt giữ trong gần 5 năm qua khiến mọi người phải hoảng sợ. Cụ thể là 8 tấn bột ngọt, 85.000 tấn xi măng, 25 tấn mỹ phẩm, 35 triệu cơ số tân dược, 25.000 chai rượu các loại, 50.000 chai bia, nước giải khát, 50.000 tấn sắt thép xây dựng, 15.000 tấn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… Đó là những vụ được phát hiện, còn nếu tính cơ số vụ chưa phát hiện được thì con số có thể lớn gấp nhiều lần, bởi ngoài số hàng giả nói trên, cơ quan chức năng còn bắt giữ tới trên 5 tấn vỏ hộp, bao bì, nhãn mác giả.

Hàng giả hiện nay được làm rất tinh vi về chất lượng khiến người tiêu dùng rất khó phân biệt, chúng không chỉ được bày bán ở các cửa hàng nhỏ lẻ mà len lỏi vào cả các siêu thị lớn. Mới đây, cuộc thanh tra ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, đơn cử nhãn hiệu thời trang Valentine được bán trong các shop sang trọng phần lớn đều là hàng giả. Thành phố Hà Nội đã từng phát hiện ngay tại Tràng Tiền Plaza bán túi sách hiệu L.V giá hàng triệu đồng một chiếc nhưng cũng là hàng giả xuất xứ từ Trung Quốc. Chanel, một hãng nước hoa và thời trang danh tiếng đang hối thúc các luật sư Việt Nam xử lý việc vi phạm nhãn hiệu này trên thị trường Việt Nam, bởi gần đây từ trung tâm thương mại, siêu thị đến các shop mỹ phẩm thời trang, mua hàng Chanel thật còn khó hơn mua hàng Chanel giả. Bvlgari mới vào thị trường Việt Nam cũng bắt đầu phải yêu cầu các luật sư bảo vệ nhãn hiệu của mình đang bị “nhái” ngày một nhiều. Các loại đồng hồ danh tiếng nhất thế giới từ Omega, Rolex, Tissot đến Longines, Swatch đều đang là khách hàng của luật sư Phạm và liên danh.

Continue reading

CHĂM LO CHO CON NGƯỜI, ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI LÀ MỤC TIÊU, LÝ TƯỞNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TS. CAO ĐỨC THÁI – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Ngày 21-4-2009 Việt Nam đã công bố “Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam”. Theo Chương trình làm việc của Liên hợp quốc, Báo cáo của Việt Nam sẽ được trình bày vào ngày 8-5-2009 trước đại diện 192 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc. Đây cũng là vấn đề được dư luận trong và ngoài nước quan tâm.

Chắc chắn sẽ có không ít các ý kiến đánh giá khác nhau về tình hình quyền con người (QCN) ở Việt Nam, và cũng không loại trừ khả năng, đây là dịp các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Cho đến nay, bên cạnh những quan điểm chung của cộng đồng quốc tế: như ý nghĩa, vai trò của QCN, tầm quan trọng như nhau của hai nhóm quyền (nhóm quyền Dân sự, Chính trị và nhóm quyền Kinh tế, xã hội và Văn hoá), vai trò của quốc gia trong việc bảo đảm QCN, tính đặc thù về lịch sử và văn hoá khi áp dụng QCN … vẫn còn có những khác biệt không nhỏ về nhận thức lý luận, quan điểm pháp lý, về đặc trưng văn hoá… của QCN … Những khác biệt này lại được nhân lên do ý đồ chính trị hoá QCN của các thế lực thù địch, cực đoan, chống Việt Nam; do không ít người thiếu thông tin chân thực về QCN ở Việt Nam.

Xét về những giá trị nền tảng: Tự do, Bình đẳng, Nhân phẩm, Nhân đạo – Khoan dung, QCN là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, là giá trị chung của nhân loại, trong đó có những đóng góp không thể phủ nhận của dân tộc Việt Nam.

Cuộc cách mạng Tháng Tám, năm 1945 của nhân dân Việt Nam đã đồng thời thực hiện ba chức năng lịch sử:

– Lật đổ sự thống trị của thực dân, giành lại độc lập dân tộc;

– Xoá bỏ chế độ thực dân – phong kiến đẳng cấp, tàn bạo, xây dựng chế độ xã hội mới do nhân dân làm chủ;

– Đem lại quyền công dân và QCN cho tất cả mọi người.

Trong cuộc kháng chiến anh hùng kéo dài 30 năm, chẳng những nhân dân Việt Nam đã đánh bại các thế lực xâm lược hùng mạnh nhất thế giới, bảo vệ vững chắc độc lập, tự do, bảo vệ quyền sống của nhân dân Việt Nam mà còn góp phần to lớn thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, giành lại QCN ở châu Á – châu Phi và Mỹ La-tinh. Đó là những đóng góp có ý nghĩa thời đại của Việt Nam trong thế kỷ XX.

Continue reading